Help - Search - Member List - Calendar
Full Version: Đằng tiên bắc ngạo
VietLove > Thư Viện Truyện > Truyện Kiếm Hiệp
Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11
hueyeutoi123
TIẾP THEO

Tử Lan thắp hai cây đèn sáp hai bên giá sách, và rút ra mấy quyển:

_ Nếu có thì trong mấy quyển này. Ghi chép các loài vật, độc vât.

Tích Nhân cầm lên một cuốn, tên sách là Độc vật kỳ thư, nhưng lướt qua không thấy chỗ nào miêu tả giống như hai con quái vật. Tử Lan cầm lên cuốn Dị vật loại lên xem. Và giây lát nàng la lên:

_ Có lẽ cặp quái vật là... âm dương địa long.

Tích Nhân kề mắt vào đọc: "Giống này chỉ nghe thấy trong thời cổ sơ, luôn luôn ẩn mình trong các hồ nước sâu chìm trong lòng nụi Thường sống thành cặp quấn quít không rời. Đông Phương Sóc nói giống này không hại người, trời sai giữ các long huyệt phát tích đế vượng Khi có người được chôn vào lòng huyệt, trời sẽ đỗ mưa to để chúng có thể đi nơi khác. Sống cả ngàn năm nên trời cũng sinh chúng thành căp, sống quấn quít nhau, lúc nào con âm và con dương cũng không rời nhau. Mấy trăm năm mới đẻ một lần, lúc đó chia nhau giữ trứng mới đi tìm ăn riêng rẽ. Trứng nở không đủ cặp âm dương sẽ bị cha mẹ ăn thịt. Vì đời sống kỳ dị của chúng, chúng trở nên rất hiếm hoi và còn được gọi là tình lọng Sách Trang tử kỳ vật nói, con người bị hơi hám hay dính máu tình long sẽ khao khát tình dục, da thịt săn cứng dần, hỏa dục đốt khô xương tủy mà chệt Không có thuốc giại Nhưng nếu người nữ dính máu con âm, cùng người nam dính máu con dương hòa hợp nhau, qua chín lần người sẽ trở nên bình thường, khí lực sung mãn, ái ân hạnh phúc, tâm tư không rời. Tuy nhiên, rất khó có con cái. Người dính máu tình long cả đời cũng không thể chung đụng người thường bị độc mà chết. Tính long đúng là kỳ loại vậy"

Đọc qua những lời trong sách, Tích Nhân và Tử Lan bốn mắt nhìn nhau. Họ thấy họ không chỉ dính máu mà tắm máu tình long. Tử Lan gấp sách thở dài:

_ Ta và đại tỷ trở thành người của Nhân đệ vì máu tình long hẳn không có gì hối tiếc. Nhưng Nhân đệ sẽ thấy khổ sở vì việc này.

Tích Nhân nắm tay nàng:

_ Hai vị tỷ tỷ xinh đẹp như tiên, đấy là diễm phúc của tiểu đê. Chỉ có điều tiểu đệ sẽ không biết sau này phải đối xử như thế nào với chị em Thu Hạ

Tích Nhân thuật sơ việc mình đã có Thu Hà và Vân Thao cho Tử Lan nghe. Nàng thông cảm:

_ Ta hy vọng chúng ta sẽ biết cách chữa tình độc để Nhân đệ không phải khó đối xử.

Tích Nhân thấy Tử Lan cũng như Hồng Lan đã xinh đẹp tuyệt vời mà tâm hồn cũng khoáng đạt, cảm thông, rộng lượng. Hắn cảm động, kéo nàng vào lòng. Chỉ là một cử chỉ âu yếm, nhưng cả hai như giống như đống lửa âm ỷ, lại cháy bụng

Khi cả hai ra khỏi căn mật thất chứa vải vóc và vàng bạc cửa Bách lan cốc trời đã tối mịt, nhưng là nhưng cao thủ thượng thừa, bóng đêm không làm cản trở bước chân của họ. Sáng hôm sau đã về tới nơi. Thấy Hồng Lan và Thời Minh đã làm quang đãng chỗ cư ngụ tạm. Dưới bốn gốc cây cổ thụ là bốn ổ cỏ dày. Bên trên che mái cỏ. Tử Lan thuật sơ tình hình Bách lan cốc cho Hồng Lan, trao kiếm cho nàng. Sau khi ăn thịt nướng, Tử Lan và Hồng Lan dắt nhau ra bờ suối. Tích Nhân dạy Thời Minh Càn Long kiếm pháp và Càn Long thần công vì thấy thể chất Thời Minh thích hợp. Càn long công và Càn long kiếm pháp là của Nhã Lan nhưng nàng là nữ nhân không thích hợp tập luyện. Hơn nữa thuộc hạ họ Đoàn ở Đại Lý cũng đã xử dụng, chỉ không hoàn hảo. Chiều hôm đó Hồng Lan đi lấy cỏ với Tích Nhân có thêm một thân hình mềm mại, và nàng là Tử Lạn.

Mấy ngày nắng ráo, các giòng suối đã cạn, nhưng Hồng Lan và Tử Lan muốn thêm thời giang để may thêm áo quần. Tích Nhân thấy cũng cần chỉ điểm võ công cho Thời Minh nên họ tiếp tục ở trong khu rừng. Thời Minh có khí lực trời sinh mạnh bạo như hổ, lại thông minh, nhớ nhanh nên mấy ngày đã thuần thục. Với cây thiết huyền kiếm trong tay Thời Minh, Tích Nhân tin tưởng số cao thủ có thể chống chọi cũng không nhiều. Ở với Tích Nhân và chị em Hồng Lan, tật cà lăm, có lẽ trong nhiều năm không chuyện trò với ai mà ra đã bớt dần. Thời Minh cũng rất siêng năng. Ngày luyện võ, đêm luyện nội công. Tích Nhân rất vui lòng với người nghĩa đệ, thương mến vô cùng.

HỒI THỨ 16
Kết Bái Nghĩa Huynh
hutructiensinh
Tui sẽ đưa lên lại từ hồi 1, còn một ít còn thiếu ở hồi 3-4 mong rằng hueyeutoi123 hãy bổ sung cho! smile.gif
hutructiensinh
HỒI THỨ NHẤT

Thăng Long có bốn cổng thành. Cửa Diệu Đức phía Bắc là nơi gần như dành riêng cho quan lại, Vương tôn công tử, niêm yết bảng văn, đón tiếp sứ giả. Cửa Quảng Phúc ở phía Tây là nơi ngày tháng vang vang vó ngựa và những đoàn quân rầm rập thường xuyên ra vào tập luyện, diễu võ giương oai. Còn cửa Đại Hưng chỉ tấp nập với những đoàn quân xuôi Nam hay quan lại các nơi về Kinh làm người ta chú ý. Riêng phía cửa Đông Hoa mới đúng là nơi đô thị, chợ búa náo nhiệt. Từ cầu Đông thị đến bến sông Thao phố xá như bát úp, còn bến thuyền lúc nào cũng tấp nập. Thuyền buôn các nơi đến kinh đô đều đậu ở đây. Bến thuyền trải dài mút mắt và dọc theo bờ sông hàng quán, khách điếm, chợ búa, người qua kẻ lại chen chúc đủ hạng người, từ kẻ áo gấm quạt lông, cỡi ngựa, đi xe, ngồi kiệu đến hàng hóa và con người cũng vậy, có thể nói là thượng vàng hạ cám thứ gì cũng có.
Nằm ngay góc con đường đê dọc theo bờ sông và con lộ chính vào cửa thành là một tửu quán không có bảng hiệu. Có lẽ do vị trí, hay những điểm đặc biệt của tửu quán mà chủ nhân không cần phải treo bảng. Tuy nhiên, mọi người, ai đã đến phía Đông thành, thì phải biết quán Tư Bụng. Quán Tư Bụng nổi tiếng gắn liền với cửa Đông Hoa, với cầu Đông thị... cho dù hai danh xưng thanh tục khác nhau. Quán Tư Bụng nổi tiếng không phải chỉ vì nó đã chiếm một khoảnh đất khá rộng ngay ngã ba quan yếu, sân sau có thể chứa cả hàng trăm con ngựa, có mấy gian nhà rộng cho công nhân ăn ở, hay tầng trên cất bằng gỗ, trống trải bốn mặt, hàng trăm thực khách có thể ngồi uống rượu, ngắm cảnh thuyền buồm xuôi ngược trên sông, mà đặc điểm của quán Tu Bụng là có thể tiếp đãi, thoả mãn với tất cả mọi hạng thực khách, mọi túi tiền. Khách của quán Tư Bụng có thể là anh xe kéo ghé vào lấy một con vịt quay, con gà luộc, đĩa thịt heo..., rượu gạo, rượu ngô ở những chiếc bàn kê dài theo ba hàng hiên rộng, thì khách sang lại có thể vào nhà, lên sân thượng kêu sơn hào hải vị, bồ đào, mỹ tửu, muốn gì cũng có. Và tất cả thức ăn, thức uống của quán Tư Bụng đều làm cho khách mọi hạng đều vừa lòng.
Quán Tư Bụng nổi tiếng vì đặc điểm như vậy. Quán Tư Bụng, còn có người gọi là quán Mụ Tư Bụng, nhưng không ai hiểu vì sao tửu quán có tên này. Có lẽ mấy đời trước, người khai sinh ra và xây ra quán là một người đàng ông hay đàn bà mập ú, với cái bụng núng na núng nính những mỡ và mỡ... Và có lẽ chỉ chủ quán mới biết ông hay bà Tư Bụng bây giờ, vào lúc Hồ Quý Ly đang nắm tất cả quyền lực trị nước trong tay, đang muốn soán ngôi lại là một người đang ông phương phi, cốt cách. Chủ quán ít có mặt ở quán, nhưng khi nào ông ta xuất hiện và chào hỏi mọi người, thì hầu như tất cả mọi hạng thực khách đều dành cho ông ta một sự kính trọng đặc biệt gọi là Phạm tiên sinh. Nghe nói Phạm tiên sinh từng thi đỗ cập đệ lúc còn rất trẻ, nhưng không chịu ra làm quan, và dù văn hay chữ tốt, ông cũng không đặt cho tửu quán của mình một cái tên thanh lịch, ý nghĩa nào, vẫn để mọi người gọi cái tên Tư Bụng. Cái tên đã đi vào lòng mọi người.
Quán Tư Bụng hiện diện lâu đời ở cửa Đông Hoa, không ai biết nó có mặt từ lúc nào và vì thế nó đã chứng kiến hết tất cả những biến động lớn lao và dồn dập của Thăng Long trong mấy chục năm gần đây. Khởi đầu cho những chuỗi biến động là một ngày đầu xuân, ngày hai mươi bốn tháng giêng, năm Long Khánh thứ năm, ban ngày bỗng dưng trời tối như om mực, mọi người phải đốt đèn đuốc để đi lại, mua bán. Linh thiêng hay trùng hợp? Ngày hôm ấy, trên mười vạn quân chinh phạt Chiêm Thành bị tiêu diệt khi tiến vào thành Đồ Bàn và ông vua trẻ Duệ Tông, ông vua Đại việt đầu tiên và cũng là cuối cùng tử trận trên đất Chiêm Thành. Từ cái ngày đen tối ấy, hai lần Thăng Long bị quân Chiêm dẫm nát, bắt người, cướp của như đi vào chỗ không người, người dân sống trong nơm nớp lo âu. Hết bị nạn Chiêm Thành, Thăng Long lại phải chứng kiến những cảnh đói khổ, bần cùng. Năm này hạn hán, năm nọ lụt to, năm kia giặc Su Ôn chiếm cứ và rồi liên tiếp hàng năm phải mở rông cửa Diệu Đức để đón tiếp những phái đoàn nhà Minh sang sách nhiễu, đòi hỏi, nay gọi quân lương mai đòi phương vật. Ông Thái thượng hoàng Nghệ Tông tiếp tục sống dai, đã giúp cho Quý Ly thêm lông thêm cánh, giết hại con cháu của chính mình và những bậc trung thần. Khi ông vua già này biết được thế nguy, muốn học theo sách Lưu Bị ký thác ấu chúa cũng u mê không biết rõ Quý Ly chẳng phải là Gia Cát Lượng! Nghệ Tông mất trong một đêm đông lạnh lẽo, và sau đó bầu trời mây đen che kín liên tiếp mấy ngày, báo hiệu nhà Trần đã bước sang thời kỳ tang chế thực sự của nó.
Thành Thăng Long trong mùa đông u ám năm nay đã nhận lấy cái tên mới là Đông đô, những gia đình quan lại, lính tráng thu hút sức mua bán lớn nhất của Thăng Long người đi kẻ ở, lo lắng, hoang mang. Biến đổi lớn lao này đã làm mọi người, ngay cả những nhân công, đầu bếp, hầu bàn của quán Tư Bụng cũng uể oải hẳn ra. Thường thì gà gáy sáng, trong quán đã lên đèn khắp nơi, chuẩn bị mở đầu cho một ngày làm việc mới, và trời chưa sáng, những kẻ không nhà ngủ nhờ nơi hàng hiên đã bị xua đuổi đi nơi khác. Nhưng mấy ngày qua, trời sáng hẳn công nhân quán Tư Bụng mới rục rịch mở cửa và những kẻ có nhiệm vụ kê bàn chung quanh ba hàng hiên dài không cần phải xua đuổi ai, những người có kiếp sống khốn khổ này đã thức giấc, tự động thu vén để ra đường cho một ngày mới của mình. Sáng hôm ấy, gió bấc từ dòng sông thổi lên lạnh như cắt da xé thịt, quán Tư Bụng còn mở cửa muộn hơn, nhưng khi Trần Tứ người công nhân trẻ bày bàn ghế ở hiên Tây đã ngạc nhiên thấy một người còn nằm trong chiếc chăn rách nát, hắn bực bội lấy chân đá mạnh quát tháo:
- Mặt trời đã lên còn nằm vạ hay sao?
Cái đá mạnh không làm người trong chăn nhúc nhích. Trần Tứ thêm bực bội cúi xuống giật mạnh chiếc chăn. Hắn thấy dưới nền nhà một thân hình ốm o, tóc xoã che kín mặt mày năm bất động. Hắn đá vào chân người nằm mấy cái nữa vẫn không thấy nhúc nhích. Trần Tư chăm chú nhìn làn da xanh mét qua lớp áo rách rồi hốt hoảng chạy vào trong kêu réo:
- Có người chết ngoài hàng hiên! Có người chết!
Nghe hô hoán vài người công nhân trong quán vội vã bước ra. Họ xúm lại nhìn xác chết, nhưng không biết phải làm gì. Một người đàn bà lên tiếng:
- Chắc bị chết cóng! Tội nghiệp quá! Chạy kêu Đoàn Tổng quản xem ông dạy thế nào? Nó đã lỡ nằm chết ở đây chúng ta đâu có thể mang đi ném chỗ nào cho được! Dù sao cũng là con người mà!
Trần Tứ vội chạy đi kêu lão tổng quản, người thay mặt chủ nhân điều hành quán Tư Bụng. Trần Tứ mới khuất vào bên trong, trước cổng xuất hiện một cỗ kiệu màu xanh. Thấy cỗ kiệu, người đàn bà kêu lên:
- May quá! Chủ nhân đến kìa!
Phạm tiên sinh khoảng năm sáu mươi, râu ba chòm lốm đốm bạc, mặc áo lụa đen, bước xuống kiệu, mau mắn:
- Thím Năm! Việc gì đó?
- Thưa tiên sinh, có người nằm chết cóng ở đây!
Phạm tiên sinh không chút hốt hoảng:
- Ồ! Tội nghiệp nhỉ!
Ông ta bước vội vào hàng hiên, những người công nhân giãn ra nhường chỗ cho chủ nhân. Nhìn kẻ bạc phước nằm co rút trên manh chiếu rách, áo quần te tua không che kín thân thể, Phạm tiên sinh thở dài. Ông định ra lệnh cho công nhân mua một chiếc hòm cho xác chết, tống táng làm phước, đôi mắt ông ta chợt nhìn thấy nằm dài theo xác chết một cây gậy mây to hơn ngón chân cái, lóng rất ngắn, mỗi lóng chỉ độ vài đốt ngón tay, nổi màu đen bóng, nhưng cũng có nhiều vết như bị gươm đao chém phải. Cây gậy làm Phạm tiên sinh cau mày, rồi vội ngồi xuống lật xác chết lên đưa tay sờ mũi, sờ ngực. Được Phạm tiên sinh lật qua, mọi người mới thấy xác chết là một thiếu niên độ mười sáu, mười bảy tuổi và họ cũng rất ngạc nhiên, Phạm tiên sinh không nề dơ bẩn, rụt cây gậy để lên người thiếu niên rồi bồng ngay lên và nôn nóng hỏi đám công nhân:
- Ai trong các ngươi nhà có căn phòng trống?
Trần Tứ lanh miệng:
- Nhà thím Năm có phòng cô Lan mới về quê.
Không chờ người đàn bà cho biết có đồng ý hay không, Phạm tiên Sinh bước đi ngay và hối người đàn bà.
- Thím đi theo chỉ cho ta căn phòng ấy, còn các ngươi thì vào trong kêu người nấu ngay một tô cháo nóng, cho gừng nhiều vào và mang gấp đến cho ta.
Nghe chủ sai khiến, người đàn bà hơi một chút ngần ngừ rồi bôn bả chạy theo và vượt qua mặt Phạm tiên sinh. Khu nhà ở của công nhân quán Tư Bụng mái tranh vách đất, nhưng có mấy chục căn như một xóm nhỏ, nằm sau sân tửu quán, ngăn cách bởi một hàng dương liễu xanh và ra vào có một cánh cổng cây nặng nề. Mụ Năm xăng xái chạy trước chủ nhân, vì biết mình phải mở cánh cổng này cho ông chủ và đưa ông ta đến căn nhà mình, một căn nhà hẻo lánh nằm sau bờ ao của khu dành riêng cho nữ nhân, lại cũng có một hàng dâu tre và một cánh cổng phân biệt với khu nam nhân và người có gia đình.
Mụ Năm vừa đi vừa chạy, vì Phạm tiên sinh bồng thiếu niên đi rất nhanh. Khi đến căn nhà của mình, mụ đã thở hổn hà hổn hển, và rất ngạc nhiên không ngờ Phạm tiên sinh thân thể văn nhược, tuổi đã lớn nhưng bồng một người, đi nhanh như vậy mà không tỏ ra có chút gì mệt nhọc.
Phạm tiên sinh đặt thiếu niên lên chiếc giường gỗ nhỏ, bảo mụ Năm:
- Thím đi đốt cho tôi một chậu lửa than.
Khi mụ Năm đi khỏi, Phạm tiên sinh hít một hơi chân khí, rồi đôi bàn tay bắt đầu chà xát lên thân thể thiếu niên. Một lúc sau gã rên ư ử và mở mắt. Phạm tiên sinh dừng tay mỉm cười thân thiện:
- Cậu đã thoát chết rồi đấy.
Thiếu niên mấp máy môi, thều thào:
- Đa tạ đại bá!
Câu nói văn vẻ của cậu bé làm Phạm tiên sinh cảm thấy những gì mình nghi ngờ là đúng. Ông cầm cây gậy mây để bên cạnh thiếu niên, kéo tấm chăn đắp cho và với giọng chí tình:
- Lão phu chưa biết tiểu hữu là ai, gặp hoàn cảnh hung hiểm nào mà đến nông nổi này, nhưng cứ yên tâm nằm đây tịnh dưỡng cho đến khi khoẻ hẳn. Tiểu hữu bị đói lạnh lâu ngày, ngoài ăn uống, cũng phải uống thêm vài thang thuốc nữa mới hoàn toàn bình phục.
Đôi mắt thiếu niên chợt đỏ heo vì xúc động, Phạm tiên sinh cầm cây gậy mây của mình lên tay, và hình như ông ta tình khuyến khích thêm lòng cầu sinh của người thiếu niên:
- Thân thể thụ chi phụ mẫu, bất cảm huỷ thương hiếu chi thủy giả. Tiểu hữu không nên ngại ngùng sự giúp đỡ của người khác. Có khoẻ mạnh mới chu toàn được sự hiếu thảo của mình với chu đấng sinh thành, không nói là còn có thể tiến lên sống xứng đáng là một đấng trượng phu trong tương lai. Tiểu hữu nghỉ ngơi, một hai ngày sau lão phu trở lại sẽ chuyện vãn nhiều hơn.
Phạm tiên sinh bước ra khỏi phòng dặn dò người đàn bà chủ nhà:
- Lão phu sẽ nói cho tổng quản biết thím phải ở nhà năm ngày để săn sóc cho cậu ấy. Thím phải tận tình săn sóc cho tôi. Sáng nay chỉ cho ăn cháo, trưa cho ăn cháo tiếp và chiều có thể cho ăn cơm được. Đồ ăn lão phu sẽ bảo người trong tửu quán mang đến cho thím và cậu ấy. Thuốc khi có người mang đến, thím cứ đổ ba bát nước, sắc còn một bát là được.
Người đàn bà xuýt xoa:
- Chủ nhân thật nhân từ không ai bằng. Cậu ấy thật có phước lớn gặp được ngài.
Tiếng Phạm tiên sinh nghiêm nghị:
- Trong ba ngày cậu ấy không bình phục, tôi sẽ hỏi tội thím đấy!
- Dạ! Tiểu nhân đâu dám không hết lòng...
Và mụ Năm cau mày:
- Sao lâu quá chưa ai mang cháo tới vậy kìa?
Tiếng Trần Tứ ngoài ngõ:
- Có rồi đây!
Phạm tiên sinh:
- Nếu cậu ấy không ngồi lên nổi, thím đút cho cậu ấy. Con bệnh này lão phu hoàn toàn giao cho thím.
Thím Năm đón lấy tô cháo từ tay Trần Tứ, nhìn bóng Phạm tiên sinh khuất sau hàng dâu, cảm khái:
- Chủ nhân thật là một người nhân hậu.
Trần Tứ:
- Việc này ai mà không biết. Thằng nhỏ này cũng có phước rất lớn. Thôi thì thím cố mà chăm sóc cho nó để đức cho con cháu!
- Tổ bà mi! Ta có con cháu gì đâu mà mi nói thế?
Trần Tứ cười:
- Cô Lan chẳng phải là cháu thím hay sao? Thím gả cô Lan cho tôi thì chúng tôi coi thím như mẹ, cũng là con cháu thím vậy!
Thím Năm mắng:
- Cái mặt mi khi không có nó thi miệng như bôi mỡ, còn thấy nó thì lấm la lấm lét... Để đấy mà nó chịu ấy mi.
Trần Tứ hỏi:
- Cô Lan có đọc chữ được không thím Năm?
- Ngươi mà viết được hay sao mà hỏi?
- Thì cháu nhờ người viết hộ.
Thím Năm mắng:
- Nó biết ngươi nhờ người viết, thì nó lại càng chẳng đọc. Hừ! Ta nói cho mà biết, nó không học được chữ nghĩa bao nhiêu nhưng múa roi đi quyền thì nó không thua đàn ông. Ngươi liệu hồn đấy!
Trần Tứ le lưỡi:
- Thế thì kiếp này Tứ này đành sống cảnh thầm yêu trộm nhớ!
- Cũng chữ nghĩa văn hoa lắm đấy! Thôi để ta đem cháo vào cho cậu ấy. Ngươi không cút đi coi chừng lão Đoàn sẽ mắng cho một trận.
Thím Năm không để Trần Tứ có cơ hội nói thêm, bà bưng tô cháo còn nóng đem vào phòng cho thiếu niên. Trong ánh sáng lờ mờ, bà thấy gã đang nằm bất động ngó lên mái nhà, hai hàng nước mắt chảy dài, bà cảm thấy thương hại cho gã, dịu dàng:
- Cậu thoát chết là may mắn lắm. Có thể ngồi dậy nổi không? Hãy ăn tô cháo cho mau lại sức.
Gã thiếu niên gạt hàng nước mắt:
- Cám ơn thím! Cháu có thể ngồi dậy được.
Bà ta chạy ra nhà sau và đem vào một chiếc khăn nóng:
- Sẵn có nước nóng để tôi lau so mặt mũi cho cậu.
Không đợi gã thiếu niên bằng lòng hay không, bà ta ngồi xuống giường lau tay chân, mặt mày cho cậu ta. Khuôn mặt ốm đói, lem luốc được chiếc khăn nước nóng lau qua làm bà Năm ngừng tay, bà đang chú ý đến cặp lông mày lưỡi kiếm thật dài và đôi hàng lông mi cũng thật dài và cong vút trên hai cặp mắt to đen của thiếu niên. Bà ta ngắm gã và khen:
- Cậu mập mạp ra một chút, tóc tai chải gỡ sạch sẽ thì đúng là một thiếu niên đẹp trai. Cậu được bao nhiêu tuổi rồi?
- Dạ cháu năm nay mười lăm tuổi.
- Trời đất! Cậu da bọc xương, nhưng cao tồng ngồng những tưởng là mười sáu, mười bảy rồi kia chứ. Nhìn tướng mạo và cậu mau lớn thế này hẳn cũng con nhà khá giả.
Không chờ gã thiếu niên đang húp cháo trả lời. Bà Năm lại mau miệng xuýt xoá:
- Thời buổi hỗn vua hỗn quan, người ta giết chóc nhau như cơm bữa, nhiều nhà quan quyền tán gia bại sản là chuyện thường. Thôi cậu đừng buồn nữa. Đại nạn không chết sẽ có phước lớn.
Thiếu niên:
- Cám ơn thím Năm.
Gã đưa cái tô không lại cho bà Năm, bà ta như muốn nói chuyện tiếp nhưng thấy gã có vẻ uể oải, nên đứng lên:
- Cậu nghỉ một chút. Ồ! Tôi đã thổi chậu lửa cho cậu để tôi bưng vào cho ấm.
Thiếu niên:
- Được đắp chăn như thế này cháu đã cảm thấy ấm áp lắm rồi thím Năm không cần phải mệt nhọc vì cháu.
Bà Năm:
- Ta phải làm theo lời dặn của tiên sinh, nếu không ông ta lại quở trách.
Bà Năm khuất sau cánh cửa, một lúc sau khệ nệ mang vào phòng một lò lửa hồng. Bà thấy thiếu niên nhắm mắt nên không nói thêm lời nào nữa. Khi rời khỏi phòng bà ta đóng nhẹ cánh cửa lại để cho căn phòng thêm ấm áp. Trong căn phòng nhỏ khép kín với một lò than to, giây lát thấy nóng, thiếu niên gỡ chăn ra và ngủ thiếp.
Tô cháo, căn phòng ấm và giấc ngủ làm thiếu niên cảm thấy khoẻ hẳn ra khi thức giấc. Đã quen với đói rét, nhưng bây giờ gã cảm thấy đói và mũi gã đang nghe mùi thơm thoang thoảng của thịt thà hành tiêu trong căn nhà càng cảm thấy đói hơn. Thiếu niên không phải chờ lâu, thím Năm đẩy cửa bước vào. Cửa mở rộng, mùi thơm của gừng, của hành, của thịt tạt vào làm gã tự nhiên phải hít một hơi mạnh vào lồng phổi. Thím Năm cười:
- Tôi định vào đánh thức cậu dậy. Cậu đã dậy để tôi đem cháo vào cho cậu.
Thiêu niên nuốt nước bọt, nhưng gượng gạo:
- Thím đã cho ăn, hay để cháu tự đi lấy khỏi làm phiền thím.
Thím Năm xua tay:
- Ông chủ từ xưa nay rất nhân từ, luôn luôn giúp đỡ mọi người, nhưng hình như ông đặc biệt quan tâm đến cậu. Nếu không đích thân ẵm cậu từ tửu quán về đây cũng như ông ta cũng không còn ngại ngùng phải đến khu nhà nữ công nhân bọn tôi. Cậu muốn đền ơn thì cố ăn khỏe vào, cậu khỏe ra tôi cũng được chủ nhân khen thưởng. Bà ta vừa dứt lời, trở ra nhà ngoài và mang vào một khay có ba chén cháo thịt bốc khói nghi ngút. Thiếu niên ngồi vội dậy hai tay run run đưa ra định đỡ lấy, nhưng thím Năm đặt khay cháo trên chiếc bàn nhỏ:
- Tôi nghĩ nếu cậu ngồi dậy được thì ngồi lên ghế mà ăn có lẽ thoải mái hơn.
Gã thiếu niên gần như có một sức mạnh nào kéo tới, tụt nhanh xuống giường và cắm cúi vào những chén cháo trên khay. Gã vừa thổi vừa ăn, thím Năm thấy trán và người gã đổ mồ hôi lấm tấm. Nhìn gã thiếu niên đang cắm cúi ăn, thím nghĩ thầm công của mình đã lo cho gã sẽ mạnh như thần, đâu cần phải uống thuốc, nhưng ông chủ của thím đã cho người mang thuốc tới và thím đang phải sắc! Dù sao phục dịch gã thiếu niên này thím cũng không lỗ lãi. So với một ngày làm trong tửu quán công việc phục dịch gã nhẹ nhàng hơn nhiều mà ông chủ còn hứa thưởng công bội hậu. Thiếu niên ăn xong mấy chén cháo thở phào:
- Chưa bao giờ cháu được ăn ngon như thế này! Cảm ơn thím Năm nhiều lắm.
Thím Năm tò mò dò hỏi:
- Cậu từ đâu tới và tên là gì vậy?
Thiếu niên ngân ngừ giây lát:
- Cháu người lộ Tam giang, tên là Tích Nhân.
Tích Nhân cười buồn:
- Gia phụ muốn cháu lớn lên làm một người biết tu nhân tích đức, thế nhưng cháu đang sống nhờ vào lòng nhân từ của mọi người.
Thím Năm an ủi:
- Cuộc đời cậu còn dài kia mà! Sao cậu lại lưu lạc thế này?
Tích Nhân xa vắng:
- Cha mẹ cháu đều mất và không còn ai là người thân thích.
- Tội nghiệp cậu quá. Nhưng cậu còn trẻ thì lo gì!
Tích Nhân lại dò hỏi thím Năm về Phạm tiên sinh:
- Phải chăng Phạm tiên sinh thường cứu giúp những người cùng khổ?
- Ồ! Tiên sinh rất nhân hậu, mỗi tháng ông thường trích một ngân khoản của tửu quán để bố thí. Ông ta đối đãi với người ăn kẻ ở cũng vô cùng nhân ái. Ta đây, nếu không nhờ ông thu dụng thì hôm nay không biết phải sống như thế nào.
- Tiên sinh đã từng tử tế với ai như đối với cháu không?
- Ta chưa thấy, nhưng biết đâu cậu là thiếu niên đầu tiên nằm chết cóng nơi hàng hiên tửu quán. Ba năm trước có một lão ăn mày nằm chết ở hàng hiên, sau khi báo quan, tiên sinh đã cho mua hòm chôn cất tử tế.
- Tiên sinh đúng là người nhân hậu.
Thím Năm:
- Ta đi sắc thuốc cho cậu. Ta nghĩ trong người cậu rất nhiều chấy rận. Sau khi uống thuốc phải tắm rửa, ta thay mền chiếu đem đi giặt kẻo con Lan của ta nó về nó lại trách cứ ta. Ta nghĩ, thay vì nằm trong phòng cháu gái của ta, cậu có thể tạm nằm ở tấm ván phòng trước, đóng cửa lại đủ ấm.
Tích Nhân:
- Thím cho cháu nằm nơi đâu cũng được. Xin lỗi đã làm phiền thím quá nhiều.
- Ta giúp cậu vì lệnh của Phạm tiên sinh, cậu không phải cứ mỗi chút là cám ơn ta.
Bà ta cười:
- Cậu cám ơn, mai sau nếu Phạm tiên sinh nhận cậu làm con hay làm rể thì mong cậu giúp lại ta.
Thím Năm ra ngoài, bấy giờ Tích Nhân mới để ý đến căn phòng nhỏ của cô gái tên Lan. Phòng tuy đơn sơ, nhỏ bé nhưng mọi thứ đều sạch sẽ, gọn ghẽ. Tích Nhân tự dưng cảm thấy có lỗi với cô gái chủ nhân và hy vọng cô ta sẽ chẳng bao giờ biết trên chiếc giường của cô ta, thân hình dơ bẩn, chấy rận của mình đã từng nằm trên đó. Tuy vậy, ngồi trên ghế một lúc Tích Nhân lại muốn ngả lưng. Mấy năm nay chưa bao giờ được biết đến cái giường là gì, Tích Nhân thèm được nằm.
Đã được ngủ một giấc từ sáng đến trưa nên muốn ngủ cũng không ngủ được, Tích Nhân trăn trở mãi và bất ngờ tay đụng phải một cái gì trên thành giường sát vách, một tiếng cắc vang lên và chiếc chiếu bị đẩy cao lên khoảng nửa gang tay. Ngạc nhiên, Tích Nhân kéo chiếu xa xem thì đó là một cái hộc nhỏ bên trong có một cây kiếm dài, da bao kiếm đã lên màu đen và cán kiếm cũng lên màu đen bóng. Nằm trên đầu cán kiếm là một gói vải đen. Tích Nhân mở ra xem bên trong là cuộn giấy da vàng thếch. Biết đây là bảo kiếm và kiếm quyết của nhà cô gái, Tích Nhân không dám tò mò thêm nữa mà vội đẩy lại. Khi đẩy cái nắp đậy lại, Tích Nhân cũng nghe một tiếng cắc và nắp cái hộp dài nhỏ ngụy trang thành giường liền lặn không biết chỗ nào để có thể mở lại nữa.
Phát hiện tình cờ làm Tích Nhân cau mày, và vội nằm xuống, nhắm mắt. Bên ngoài, xen tiếng gió thổi vi vút, là bước chân người đàn bà tên Năm đi qua, đi lại xê dịch, lục đục trong căn nhà. Không hiểu giả vờ hay ngủ thật, khi người đàn bà tên Năm vào phòng, bà ta phải lay mấy lần Tích Nhân mới mở mắt. Trên chiếc bàn nhỏ bà Năm đã để tô thuốc còn bốc hơi:
- Cậu dậy uống thuốc.
Tích Nhân ngồi lên dụi mắt, ngái ngủ:
- Đa tạ thím. Nhưng cháu muốn đi... Một chút.
- Bệnh mà đòi đi đâu?
- Dạ... Dạ đi... Sau khi ngủ dậy ấy mà!
Thím Năm cười:
- Mẹ! Đi tè thì nói đi tè, ấp a ấp úng ai mà biết đi đâu!
Nhưng thím chần chừ:
- Cậu chưa mặc áo quần đủ ấm, ra ngoài bị nhiễm hàn, chủ nhân lại trách mắng. Thôi để ta đem cái chậu vào cho cậu.
- Không cần đâu thím Năm! Cháu bị đói lủi mấy ngày cộng với cái lạnh quá sức mới ra nông nỗi. Hôm nay cháu được ăn hai lần cháo, nhất là cháo thịt nữa, thì gió nào cháu cũng có thể chịu được.
- Ừ! Cậu theo ta đi qua cửa nhà bếp sẽ ít bị lạnh hơn.
Tích Nhân xuống giường, theo chân thím Năm. Xuống dưới bếp Tích Nhân thấy một nồi nước to trên bếp lửa và một thùng gỗ lớn chứa nước. Trên chiếc bàn dưới bếp, có mấy miếng thịt tươi, rau cải và mấy gói thuốc. Thím Năm đẩy tấm phên che cửa bếp bảo Tích Nhân:
- Cậu có thể tưới lên bụi tre.
- Cháu có thể đẩy tấm phên trở vào, thím không phải chờ cháu.
Một ngày ăn hai lần cháo nước trong người khá nhiều, sau khi rùng mình sảng khoái, Tích Nhân chui trở lại nhà bếp và rón rén như con mèo bước lại bên chiếc bàn mở vội một gói thuốc ra xem. Lướt qua những vị thuốc, Tích Nhân nhanh chóng gói lại rồi chậm chạp trở lại phòng, ngồi xuống ghế bưng tô thuốc đưa lên môi.
Thím Năm trở lại, trên tay có một bộ áo quần đều là vải ngự hàn rất tốt. Cậu uống thuốc xong, chờ nước sôi đi tắm rửa rồi mới thay.
Một người bần cùng nhưng Tích Nhân nhìn bộ đồ trên tay thím Năm cũng không có gì mừng rỡ lắm, mà buồn bã:
- Bộ đồ đẹp đẽ cho lắm cháu mặc một thời gian thì cũng rách nát tả tơi thôi.
Thím Năm:
- Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định. Mai sau thế nào ai biết cho cậu, nhưng hôm nay cậu gặp vận hên thì cứ hưởng cái vận hên của mình.
Tích Nhân cười:
- Và thím đang là bà tiên đem cái hên vận này cho cháu.
- Phạm tiên sinh mới là ông tiên biến phép cho cậu, còn tôi chỉ là kẻ làm theo lệnh ông tiên ấy mà thôi.
- Nhưng thím cũng là bà tiên nhân từ, vì nếu thím không muốn giúp cho cháu, thì ông ta cũng có biết được đâu!
- Tôi thấy cậu cũng đáng thương, đáng giúp, nhưng với Phạm tiên sinh, những gì mà ông đã đích thân sai bảo, ai làm không đến nơi đến chốn sẽ biết ngay.
- Thím là một người rất thành thật.
- Cậu uống thuốc xong, một lúc sau sẽ đi tắm, thay áo quần.
- Cháu tuân lênh thím.
Như sự sắp xếp của thím Năm, Tích Nhân đã được trụng tóc trong một nồi nước sôi để giết chấy, được ngâm mình trong thùng nước tắm ấm áp. Bộ áo quần rách đầy rận bị thím Năm vứt đi. Sau khi tắm rửa, chải gỡ, thay y phục, thím Năm nhìn Tích Nhân khen ngợi rối rít:
- Cậu là một thiếu niên rất đẹp trai. Vài ba bữa nên da nên thịt một chút khó có con nhà quan quý nào bì được cậu.
Bà ta nhìn hàm răng trắng của Tích Nhân:
- Hàm răng cậu cũng đều như hạt bắp. Nếu còn ở đây tôi bảo con bé Lan nó nhuộm cho cậu, thì cũng đẹp không khác gì hàm răng của nó.
- Lan tỷ tỷ đẹp lắm phải không?
- Cậu còn nhỏ hỏi con gái người ta đẹp xấu làm gì? Ta đã trải chiếu trên tấm ván và Phạm tiên sinh cũng đã sai Trần Tứ mang đến cho cậu một chiếc chăn bông mới, cậu có thể ra đó nằm nghỉ.
- Để cháu giúp thím giặt giũ lại giường chiếu cho Lan tỷ.
- Cậu nằm hay ngồi yên trên ván cho ta là được Nhớ lại con Lan có thể trở về trong ngày mai, ta đã chạy đi nhờ Tổng quản xin phép Phạm tiên sinh đưa cậu ra nhà ngoài mà trong lòng rất lo âu bị la mắng. Cũng may là ông ta đồng ý.
Thím Năm cười:
- Cậu chỉ nằm trên giường nó hơn nửa ngày, ta nghĩ ta đem chiếu mền ra ngoài đập cho bay đi bụi đất và chấy rận của cậu dính trên đó là được rồi. Có giặt giũ bây giờ cũng không khô kịp.
- Lan đại tỷ khó tính lắm phải không?
- Nó cũng rất thương người, chỉ có điều là nó không chịu được dơ bẩn.
- Lan tỷ là cháu ruột phải không? Kêu thím bằng gì?
Thím Năm có vẻ hãnh diện:
- Bằng cô. Ta là em cha nó.
Khi phát hiện bí mật của chiếc giường, Tích Nhân không thể nghĩ một người đàn bà chân chất như thím Năm lại có thể là cô ruột của một cô gái có giấu một cây kiếm quý trên giường nằm. Nhưng thím Năm đã quả quyết như vậy, Tích Nhân không tin không được.
Trong khi thím Năm đem chiếu mền của cháu gái ra ngoài sân đập giũ, Tích Nhân ở trong nhà tháo miếng giẻ bao cây gậy mây đen của mình ra. Cây gậy mây này không phải hoàn toàn bằng mây, mà cán gậy, cái cán bật ra, Tích Nhân lấy một cuộn giấy da dê mỏng trong cán gậy giấu vào áo của mình, còn cây gậy thì vứt xuống gầm ván nằm.
Chiều hôm đó được thím Năm cho ăn một bữa cơm ngon với thịt xào cải và đậu kho. Trong lúc ăn cơm với thím Năm, Tích Nhân lại dò hỏi về người giúp đỡ mình:
- Phạm tiên sinh ở gần đây không thím?
- Ồ! Ông ta ở trong kinh thành, nghe nói nhà cửa rất đồ sộ, nhưng trong nhà lại chỉ có năm ba người làm việc. Ông ta nhân hậu khôn cùng nhưng lại không được trời hậu đãi đường con cháu. Chỉ có một người con trai duy nhất bị tử trận, vợ tiên sinh cũng quá vãng hơn mươi năm qua, hiện tiên sinh chỉ sống với người cháu gái của mình, nghe đâu khoảng mười lăm tuổi. Tiểu thư chưa bao giờ được tiên sinh cho đến quán nên không ai biết tiểu thư thế nào.
- Tại sao vậy thím?
Thím Năm le lưỡi:
- Ta làm sao biết, hoàn cảnh tiên sinh ta cũng chỉ nghe những người làm xầm xì với nhau vậy thôi.
Tích Nhân cau mày:
- Kỳ lạ nhỉ! Một tửu quán nổi tiếng của nhà mình mà tiểu thư không bao giờ lai vãng cũng là việc lạ.
Thím Năm nuốt miếng cơm:
- Cậu hỏi ta buột miệng nói cho nghe, mai sau nếu ra đường mà nói ta nói như thế này, thế kia về gia đình chủ nhân là câu hại ta đấy nhé. Đoàn tổng quản luôn luôn dặn chúng là chủ nhân là người nhân ái, có lòng với nước, với dân, ưu thời, mẫn thế nhưng ông ta có việc gia đình không mấy vui, mọi người đừng bao giờ làm cho ông ta buồn lòng.
Tích Nhân:
- Tiểu điệt.. Ồ, cháu đã nhờ tiên sinh và thím Năm cứu mạng, cháu nhất định không bao giờ làm thím buồn lòng.
Thím Năm:
- Cậu coi bộ đã khoẻ nhiều rồi. Ăn xong nằm nghỉ, ta chạy ra xem quán có bận rộn không giúp mọi người một tay.
- Thím được cho nghỉ làm mà!
- Chúng ta, những người làm công cho quán Tư Bụng coi nhau như anh chị em, coi quán như nhà của mình, ta rảnh rỗi mà người khác làm nhiều hơn ta cũng cảm thấy có lỗi với họ.
Thím Năm dọn dẹp chén đĩa, thắp lên phòng hắn một cây đèn dầu rồi tiếng bước chân của bà xa dần ngoài ngõ.
Trong phòng không còn ai, Tích Nhân lấy cuốn giấy da dê trong người ra đọc và xem xét những hình vẽ một cách chăm chỉ. Tích Nhân đọc qua một lần, bỏ lại vào áo nằm xuống ván nhắm mắt lại. Sau đó ngồi dậy đọc qua một lần nữa rồi xuống bếp, bới bếp lửa của thím Năm mới vùi tro ra ném tập sách da dê mỏng vào bếp than. Khi tập sách bốc cháy, Tích Nhân đôi mắt đầy lệ quỳ gối:
- Gia gia và mẫu thân dưới suối vàng tha thứ cho con đã huỷ đi bí kíp. Phạm tiên sinh đã cứu sống và rất tử tế với hài nhi, nhưng hài nhi thấy ông ta dùng một cây hắc đằng làm gậy. Hài nhi sợ e rằng ông đã nhìn ra cây hắc Đằng Tiên của ngoại tổ và nếu ông có lòng nào con sợ rằng con khó có thể giữ gìn được nó. Bí kíp đã huỷ nhưng tất cả mọi ghi chép đều ở trong đầu con, con sẽ tìm ra ngoại tổ để chữa bệnh, tập luyện võ công và con quyết không để cho kẻ thù có thể sống ung dung với tội ác của chúng.
Cuốn sách da dê đã cháy hết, Tích Nhân vùi tro lại và lên ván nằm nhắm mắt như cố ôn lại lần nữa những gì đã ghi chép trong quyển Đằng Tiên bí kíp và khi đã khuya, thím Năm trở về, mới ngủ thiếp đi.
Đã thành thói quen, trời chưa sáng thím Năm đã dậy dù hôm nay bà ta chưa phải đi làm việc. Sự lục đục của thím Năm dưới bếp vẫn không làm Tích Nhân thức giấc, cậu ta ngủ rất say, mãi khi mặt trời lên cao và thím Năm đã sẵn sàng cho bữa cháo sáng, lại lay gọi mới ú ớ mở mặt.
Thím Năm nhổ miếng trầu ra hàng hiên, cười:
- Nếu không nghe cậu thở, tôi lại tưởng cậu chết cóng như hôm qua.
Tích Nhân cũng dụi mắt cười với thím:
- Hôm qua cháu chết vì lạnh và đói, còn hôm nay cháu ngủ không còn biết trời trăng vì lâu quá chưa bao giờ cháu được ăn no và ngủ ấm như hôm nay.
- Ta sợ cháo nguội mất ngon nên gọi cậu dậy. Tổ tiên ta trước kia là Tàu, ta ăn cháo bông với dưa hay hột vịt muối đã quen, ta không hiểu cậu sẽ ngon miệng không nhưng buổi sáng ta chẳng biết nấu món nào khác. Nếu cậu không thích, ta chạy ra quán lấy cho cái bánh bao, tô mì hay cái bánh chưng cũng được.
Tích Nhân thở dài:
- Thím Năm tưởng cháu là công tử hay sao? Mấy năm nay đó là những món ăn mà cháu chỉ được ăn khi nằm mơ.
Thím Năm vui vẻ:
- Vậy thì cậu đi súc miệng rồi ăn cháo đi. Trưa cậu muốn gì ở quán ta ra lấy cho.
- Nếu nói món ăn ở quán thì thứ gì mà cháu chẳng thích, thím muốn cho thứ gì thì cháu ăn thứ ấy.
Thím Năm nghiêm nghị:
- Chẳng phải ta cho mà chủ nhân cho cậu. Ngày hôm qua chủ nhân dạy ta nấu các món ăn nhẹ cho cậu, còn hôm nay thì cậu có thể ăn những gì cậu muốn. Tửu quán có luật cho những người làm chúng ta là khi ở trong quán, ngoài những món sơn trân hải vị quá đắt đỏ mà vương tôn công tử mới có thể thưởng thức ra, muốn ăn gì cũng được, nhưng tuyệt đối không được mang về nhà dù là thức ăn thừa. Ta được giao nhiệm vụ săn sóc cậu nên từ hôm nay ta có thể ra quán lấy bất cứ món gì cậu muốn. Không biết cậu được chủ nhân ân đãi bao nhiêu ngày, ta nghĩ cậu cũng không nên quá câu chấp. Chủ nhân muốn cậu khoẻ mạnh, thì cậu ăn uống cho khoái khẩu trong vài bữa cũng chẳng làm cho chủ nhân phải để ý tới.
Tích Nhân chân thành:
- Cháu chỉ sợ mình quá lợi dụng lòng tốt của Phạm tiên sinh, nhưng cháu nghĩ nấu nướng cũng bất tiện cho thím, thành ra thím muốn cho cháu ăn gì ở trên quán mang về cũng được. Với cháu tất cả đều là những thức ăn mà lâu lắm cháu chưa từng được ăn.
- Ừ! Thôi để rồi ta liệu lo cho cậu.
Tích Nhân ra sân rửa mặt, làm vệ sinh, rồi ăn một lúc hai bát cháo to. Thím Năm căn dặn gã ở nhà đừng ra ngoài trời để nhiễm thêm bệnh, rồi xách nón đi ra quán Tư Bụng.
Ở nhà một mình, nằm ngồi cũng chán, Tích Nhân muốn vào trong phòng cô gái tên Lan lấy quyển sách của cô ta để đọc xem là sách gì, võ công gì, nhưng rồi lại thấy mình xem trộm vật sở hữu của người khác là điều không nên không phải và dặn lòng không bao giờ làm việc này. Không muốn xem trộm sách, Tích Nhân thấy thì giờ nhàm chán nên tập một số động tác hít thở. Liên tiếp mấy giờ Tích Nhân lập đi lập lại chỉ mười mấy thế, tất cả đều nhẹ nhàng. Có thế lúc đầu hai chân đứng thẳng ngang vai, hai tay để ngang đan điền, hai lòng bàn tay hướng thiên hít vào một hơi dài, sau đó hai bàn tay từ từ đưa lên cao và thở ra, có thế đứng trung bình tấn, hai tay để ngang hông, khi thở ra dang tay trái về bên phải. Những thế luyện tập hít thở nhẹ nhàng tưởng không lấy gì mệt nhọc, nhưng khi Tích Nhân tập mười mấy thế khác nhau trán lấm tấm mồ hôi.
Buổi trưa thím Năm mang về một giỏ thức ăn, một thố mì nóng, hai chiếc bánh, còn một số gói lá, bà ta vui vẻ:
- Chủ nhân gởi lời thăm cậu. Ông nói trong ba ngày cậu uống hết ba thang thuốc còn lại, ngày ăn ba bữa thì sẽ mạnh lại như thần và sẽ ra tửu quán gặp ông ta.
Thím Năm để thố mì và hai cái bánh trên bàn cho Tích Nhân:
- Ta mang về một con cá hấp, một con gà nướng chiều nay chúng ta cùng ăn cơm. Con nhỏ Lan rất thích gà nướng.
- Lan đại tỷ chiều nay về?
- Nó nói về trong ngày hôm nay. Bây giờ chưa có mặt thì chiều thế nào cũng về tới.
Tích Nhân ăn xong, xuống bếp thấy thím Năm quạt lửa sắc thuốc nói:
- Việc này cháu làm được, hay là thím đi nghỉ để cháu làm cho.
Thím Năm thấy hắn đi đứng vững chải, không khách sáo:
- Phạm tiên sinh dặn cứ đổ vào ấm ba chén nước, sắc còn một nếu cậu làm được thì ta đi qua hàng xóm một lúc rồi lấy một ít nước để con Lan về nó dùng.
Tích Nhân sắc thuốc và uống thuốc xong, cảm thấy thời giờ buồn chán lại tập những thế hít thở của mình. Trong lúc hắn đang chú tâm luyện tập thì cửa mở. Cô gái, Tích Nhân nghĩ ngay rằng cô ta là cháu thím Năm, trạc mười bảy, mười tám tuổi, vai mang một cái túi nhỏ, tóc thắt bím thả trước ngực, môi hồng, răng đen hạt huyền, cặp mắt to đen, thân hình cân đối, trong chiếc váy nâu mộc mạc, tuy nước da sạm nắng vẫn nhìn thấy được nhan sắc mặn mà. Cô gái thấy có người trong nhà tỏ vẻ ngạc nhiên và khó chịu:
- Ngươi là ai? Sao lại ở trong nhà ta?
Tích Nhân vòng tay thi lễ:
- Tiểu đệ... Ơ! Em là Tích Nhân vì đói rét nên Phạm tiên sinh và thím Năm có lòng nhân cứu giúp đưa về đây ở tạm.
Cô gái nhìn Tích Nhân từ đầu xuống chân, lớn tiếng:
- Ngươi ăn mặc bảnh bao như công tử thế kia mà bị đói rét sao? Hừ!...
Cô gái đang vặn hỏi thì thím Năm bước vào cửa:
- Cậu ấy không nói láo đâu. Phạm tiên sinh đưa cậu ấy về đây cứu sống và mới mua quần áo cho cậu ấy đấy.
Được sự xác nhận của thím Năm nhưng cô gái vẫn cau có:
- Tại sao Phạm tiên sinh không đưa gã đến nhà khác, khu đàn ông hay những nhà có gia đình mà lại đến đây?
Thím Năm:
- Tại tên Trần Tứ lẻo mép, khi tiên sinh hỏi nhà ai có phòng trống thì nó đã nói là nhà chúng ta, còn Phạm tiên sinh vì nôn nóng cứu Tích Nhân đang chết cóng nên không quan tâm tới điều gi khác.
Cô gái càu nhàu:
- Tên Trần Tứ này thật đáng ghét!
Cô gái hiểu ra Tích Nhân không phải vô cớ đến nhà mình, càu nhàu tên Trần Tứ một câu rồi vào phòng mình.
Tình cờ phát hiện thanh kiếm quý giấu bên thành giường cô gái, Tích Nhân hiểu cô ta không muốn có người lạ mặt ở trong nhà là điều dĩ nhiên. Tuy nhiên cũng không khỏi cảm thấy rất buồn và tủi thân. Thím Năm có lẽ thấy sự áy náy này, nói nhỏ vào tai:
- Cậu đừng để tâm, Lan nhi cũng rất giàu long nhân ái, một hai hôm nó sẽ thân mật với cậu ngay.
Thím Năm an ủi hắn câu này rồi vội đi vào phòng và đóng chặt cửa lại. Bà ta và cô gái xầm xì nói chuyện với nhau, Tích Nhân không nghe được hết nội dung, nhưng thỉnh thoảng nghe tiếng thím Năm la khẽ hay nhắc lại những tiếng tiểu thư và ngược lại cô gái khi lớn tiếng không có vẻ gì thím Năm như người cô ruột của mình.
Cử chỉ của thím Năm và cô gái làm Tích Nhân buồn tủi một phần, một phần thấy họ có nhiều chuyện cần phải thảo luận với nhau và sự hiện diện của mình là một sự trở ngại, nên Tích Nhân cúi xuống ván lấy cây gậy mây mở cửa bước ra ngoài. Dù gió đông lạnh lẽo, nhưng đang mặc bộ đồ mới và dưới chân cũng có đôi giày vải, Tích Nhân không cảm thấy lạnh lắm, lần bước đi ra bờ sông. Bến thuyền vào buổi chiều đông lạnh lẽo vẫn đông đảo, chiếc rời bến, chiếc cập bờ, người lên kẻ xuống, tiếng hô hoán, thúc hối nhau inh ỏi, và cả tiếng chưởi rủa tục tằn của lũ phu phen. Lần bước theo bến thuyền một lúc lâu, Tích Nhân đến gốc cây đa mọc doi ra bờ sông, nơi này hơi vắng vẻ, có lẽ vì cảnh sắc âm u của nó. Dưới chân gốc cây người ta vất bình vôi bể thành đống, có người lập một chiếc miếu nhỏ đóng bằng ván trên thân cây và dù hương tàn khói lạnh nó cũng tạo cho gốc đa trở thành một nơi có chút huyền bí, ít người lai vãng khi trời đã về chiều. Tích Nhân ngồi xuống một nhánh rễ to của cây đa nổi lên trên mặt đất bên cạnh một ổ rơm nhỏ thở dài:
- Gốc đa ơi gốc đa, hai đêm rồi ta đã không nằm đây. Dù có lạnh ta vẫn cảm thấy thoải mái nhiều hơn nằm trong nhà của người ta ngươi có biết không? Ngươi cũng biết không, mấy ngày liên tiếp ta không xin được đồng nào, cũng không ai cho ta chút gì để ăn, thành ra đêm kia ta nằm chết cóng trên hàng hiên quán Tư Bụng! May mà ông chủ, Phạm tiên sinh đã cứu và hai ngày nay ta đã được ăn no mặc ấm. Tuy vậy, ta cũng không thể ở lâu hơn được. Ngày mai ta phải tạ ơn người ta rồi ra đi, ta cũng sẽ không trở về đây với ngươi nữa mà phải đi lên tận niềm Bắc xa xôi để tìm ngoại tổ ta.
Tích Nhân nhấc những chiếc bình vôi bể bên cạnh ổ rơm để sang một bên, nhấc hơn mười mấy cái như vậy mới lấy ra một cái bình tròn và rút một gói vải. Nếu ai nhìn thấy những vật trong gói vải không thể nào ngờ gã thiếu niên suýt chết đói lại có nhiều ngọc ngà vàng bạc như vậy. Tích Nhân lấy ba viên ngọc và mấy miếng vàng, vài đỉnh bạc bỏ vào áo còn tiền đồng thì ngồi ném từng miếng xuống sông:
- Mẫu thân! Người vừa bị nội thương trầm trọng vừa dẫn hài nhi bôn ba trốn tránh thù nhân, tìm thuốc trị bệnh cho hài nhi, khi không thể chịu đựng được nữa phải theo gia gia, vẫn để lại cho hài nhi một số tiền mà không phải làm gì đi nữa hài nhi vẫn thể có thể sống cho đến khi khôn lớn. Nhưng mẫu thân đâu ngờ đứa con mười mấy tuổi của mẫu thân mỗi khi lấy một đỉnh bạc đi đổi tiền để mua thức ăn chẳng những không lấy được tiền mà còn bị một trận đòn thừa sống thiếu chết. Mấy lần như vậy hài nhi chẳng còn dám nghĩ đến việc đem bạc đi đổi nữa. Năm ngoái đói quá, hài nhi đành liều đem một đỉnh bạc đi đổi, lão tiệm bạc này cũng nhân đạo không đổ tội ăn cắp để giật của hài nhi như người khác mà cho hài nhi hơn hai quan tiền! Hà! Không ngờ ngày hôm sau người ta chỉ dùng tiền thông bảo, ai dùng tiền đồng thì bị bắt phạt, tù tội, thì từ đó đến nay đã hơn năm, đứa con của mẫu thân đành phải làm kiếp ăn mày, đầu đường xó chợ.
Tích Nhân cười chua chát:
- Nếu hài nhi đem những đỉnh vàng, đỉnh bạc này ra cho người ta thấy được thì hài nhi chỉ chịu thêm những trận đòn chí tử mà không bao giờ dám đánh trả! Làm thân côi cút không cha không mẹ trong thời đại nhiễu nhương này thật là khổ sở trăm bề!
Ném hết những đồng tiền đồng và bạc vụn xuống sông, Tích Nhân đứng lên cúi đầu với cây đa:
- Đa tạ lão gia gia đã che mưa che nắng dỗ ta giấc ngủ bình yên hơn năm qua. Ngày mai ta phải ra đi. Đường lên Công Mẫu sơn đầy dẫy lam sơn chướng khí, độc xà, hổ báo.. mẫu thân căn dặn chờ tìm Chu sư bá ở quán Tư Bụng, hàng năm ông ta thường đến đây thưởng thức món ăn Thăng Long uống rượu, nhưng ta chờ đợi đã hơn một năm qua mà chẳng thấy người nào râu quai nón, mắt to, đen như Trương Phi mà mẫu thân đã tả. Ông Phạm tiên sinh tốt bụng cứu ta mới đây biết đâu là anh em hay cũng có bà con gì với lão Phạm Cự Luận, mưu sĩ thân tín của Quý Ly và nếu vậy ta khó lòng thoát chết!
Tích Nhân dấu cây gậy dưới ổ rơm rồi thong thả trở về nhà thím Năm. Lúc bấy giờ vẫn chưa khuya lắm.
Gõ cửa một lúc không nghe tiếng thím Năm hay cô gái mở cửa, Tích Nhân đẩy cửa vào nhà chân tay chợt bủn rủn. Trong nhà đồ vật đổ ngổn ngang, thím Năm máu me đầy người nằm sóng soài dưới đất chết tự bao giờ. Ngọn đèn dầu leo lét trên bàn giúp cho Tích Nhân thấy bà ta bị một lưỡi kiếm hay đường đao thật bén và mạnh chém phăng đứt cả bả vai và lồng ngực. Hốt hoảng giây lát Tích Nhân lấy lại bình tỉnh, rồi cảm thấy tức giận đẩy cửa phòng cô gái bước vào. Định ninh cô ta là thủ phạm, nhưng bước vào phòng, Tích Nhân thấy mọi thứ đều bị lật tung cả lên, áo quần, tiền bạc vung vãi khắp nơi. Chạy vào phòng thím Năm, Tích Nhân cũng thấy tình trạng như trong phòng cô gái.
Suy nghĩ giây lát, Tích Nhân qua phòng cô gái sờ mó theo thành giường và cuối cùng cũng đã tìm ra cách làm cho miếng ván bật ra. Trong hộp gỗ nhỏ ngụy trang ở thành giường, cây kiếm và cuốn sách bọc vải vẫn còn. Rút thanh kiếm khỏi vỏ Tích Nhân nghe hơi lạnh tuôn ra, lưỡi sắt bén, kiếm mỏng mà nặng chình chịch, hai bên chạm hình rồng lượn theo mây rất sống động.
- Đây có lẽ là thanh Vân Long kiếm từng nghe nói!
Rất muốn lấy cây kiếm, nhưng biết mình chẳng có võ công cao, mang theo chỉ gây tai hoạ nên Tích Nhân lấy quyển sách cho vào áo, và tự nói:
- Vân Long kiếm! Không ngờ cô gái và thím Năm có liên hệ với Vân Long kiếm phái, một môn phái lừng danh ở Đại lý và trung nguyên từ mấy trăm năm trước.
Tích Nhân bỏ kiếm lại trong hộp, đóng lại và nói như nói với thím Năm hay cô gái trước mặt:
- Có bảo kiếm mà không biết sử dụng thì cũng chẳng hơn thanh kiếm thường là bao nhiêu. Nếu kẻ gian đến đây giết người vì bảo kiếm và kiếm phổ, thì Tích Nhân tạm giữ kiếm phổ, không để chúng được toại nguyện. Sau này cô gái còn sống và gặp lại, Tích Nhân này sẽ trả lại cho cô ta.
Trên nền phòng, giường chiếu cô gái đó đây năm bảy tờ giấy bạc con rồng, con lân, con phượng, những đồng bạc mà Tích Nhân chỉ nghe nói chứ chưa bao giờ được nhìn thấy. Tích Nhân lượm số bạc giấy, cả những tờ mười đồng, ba mươi đồng đều lấy hết cho vào áo. Ra phòng ngoài, Tích Nhân quỳ gối trước xác thím Năm:
- Cảm tạ thím đã săn sóc cháu trong hai ngày qua, sau này biết ai là kẻ hại thím cháu nhất định trả thù cho thím.
Lấy ra một đỉnh vàng đặt bên cạnh thím Năm, Tích Nhân nói:
- Hy vọng số vàng này cũng đủ cho số tiền mà cháu lấy trong phòng Lan tỷ và cất giữ để đi đường, cũng như tỏ chút lòng, giúp trả chi phí tống táng mà Phạm tiên sinh sẽ lo cho thím.
Lạy thêm ba lạy, Tích Nhân nhẹ mở cửa ra ngoài. Người trong khu nhà dành cho nữ nhân độc thân có lẽ đều còn đang làm việc ở quán Tư Bụng nên nhà nào cũng cửa đóng, tối om không đèn đuốc. Tích Nhân chui giậu tre ra ngoài đồng, băng lau lách ra bờ sông đến chỗ gốc đa lấy cây gậy, rồi men theo bờ sông mà đi, đến nửa khuya, gặp một chiếc thuyền câu cột dựa bờ, Tích Nhân ngó quanh rồi lên thuyền tháo giây, cầm chèo bơi sang bờ Bắc. Nước sông Thao qua mùa đông đã cạn nhiều nhưng vẫn là con sông rộng lớn mênh mông, sóng gió ba đào, Tích Nhân bặm môi cố sức chèo, nhưng sức yếu cũng không phải là người biết bơi nên thuyền cứ trôi vùn vụt theo giòng nước và mãi đến sáng hôm sau mới tấp được vào một nơi lau sậy um tùm. Tích Nhân cột thuyền vào một bụi lau, nhưng nghĩ lại thấy đây là điều sơ hở, dễ làm cho người ta chú ý nên tháo ra và đẩy ghe ra sông cho trôi đi. Chờ chiếc thuyền câu trôi đi thật xa, Tích Nhân băng lau sậy nhắm hướng Bắc mà đi.
Khuya hôm đó Trần Tứ sau khi làm việc xong, định lợi dụng thăm hỏi Tích Nhân đến nhà thím Năm để gặp cô gái rồi thấy sự tình đã hô hoán lên. Đoàn tổng quản nghi ngờ Tích Nhân đã giết bà ta nhưng đã khuya ông ta không thể báo cho Phạm tiên sinh. Buổi sáng hôm sau Phạm tiên sinh và giáp quan dẫn lính đến. Sau khi quan sát mọi thứ trong nhà, biết cô gái tên Lan chiều hôm qua cũng đã về nhà, nhiều người trong quán Tư Bụng cũng biết cô ta có chút ít võ nghệ nên Phạm tiên sinh góp ý với viên quản giáp việc giết người có hai kẻ đáng nghi ngờ là cô gái tên là Đoàn Nhã Lan và cậu bé ăn xin không biết tên. Quản giáp báo lên huyện quan, huyện báo lên phủ thông tư đi các nơi truy tầm hai kẻ nghi can.
Đêm đến Phạm tiên sinh mặc đồ dạ hành bí mật đến nhà thím Năm, ông đã xem xét tỉ mỉ mọi ngã ngách để hy vọng biết hung thủ là ai, nhưng ông ta cũng không tìm thấy trong thành giường của Đoàn Nhã Lan có cây kiếm quý. Tìm không ra manh mối nào Phạm tiên sinh thở dài:
- Không biết thằng bé bây giờ ở đâu? Cây gậy ta không nhìn kỹ, nhưng nhất định là cây Đằng Tiên của lão nhân gia, người đã cứu giúp ta khi đi du lãm bị rắn độc cắn và sa xuống hố gãy xương ở núi Tam Thanh. Ông ta đã cứu ta thoát chết, chữa lành chân gãy và truyền cho một ít nội công tâm pháp và tiên pháp phòng thân cũng kể như sư phụ. Gặp cậu bé, hy vọng nếu là con cháu của lão nhân gia thì tận tình giúp đỡ, đào tạo và gả Thanh Thanh cho để đền ơn muôn một. Không ngờ bây giờ không biết cậu ta ở đâu! Với đường kiếm giết hại bà Năm thì không thể nào là cậu ấy được! Nhưng cậu ta mất tích thì trước cửa quan không thể không coi là người bị nghi ngờ. Xin trời phù hộ cho cậu ta bình an.
Tích Nhân đã nghi ngờ và bỏ đi là một điều sai lầm. Phạm tiên sinh tên là Phạm Thừa Du, từng đậu tiến sĩ cập đệ, không bà con liên hệ gì với Phạm Cự Luận, mà kết giao với những người có lòng trung quân ái quốc, nhưng riêng Phạm Thừa Du khi thấy thế nước đã quá đảo điên, ngay Tư Đồ Trần Nguyên Đán, một người tông thất có tài hưng bang kiến quốc mà cũng chỉ lo nghĩ đường bảo toàn, từ quan ở ẩn, làm sui gia để mua lòng Quý Ly, bảo vệ tương lai con cháu, thì Phạm Thừa Du không quan tâm đến thời thế nữa, chỉ lo duy trì quán Tư Bụng, làm việc nghĩa, tế khốn cứu bần. Sau khi con trai và vợ qua đời, Phạm Thừa Du càng xa lánh bạn bè, gác tất cả thế sự ngoài tai. Hồ Quý Ly đã từng cho người theo dõi, thấy ông ta chẳng chịu giao thiệp với ai, đóng cửa từ khách, hàng ngày dạy cháu, thăm hoa nên không còn chú ý.
hutructiensinh
HỒI THỨ HAI
Gần Gũi Nữ Nhân

Tích Nhân qua sông băng lau cỏ nhắm hướng Bắc tìm ra đường lộ, đang vạch lau lách mà đi, tình cờ thấy một ổ chim có sáu bảy trứng, không biết ổ chim gì, trứng to như trứng gà. Từ chiều hôm đến sáng mệt nhoài và chưa ăn uống, Tích Nhân đập hút ba trứng rồi la thầm ra đường lúc này có phải để cho Phạm tiên sinh dễ dàng tìm thấy hay sao? Thế là Tích Nhân ngó quanh tìm cây cao và đổi hướng đi đến đó. Đến gốc cây Tích Nhân đẩy rạp lau cỏ xuống làm chỗ nằm, tỏ vẻ khoái chí:
- Ta có thể ở đây tìm trứng, săn chim, bắt cá mà ăn. Trốn tránh vài ngày là thượng sách. Hơn nữa, mang theo trong người một quyển kiếm phổ là thêm nguy hiểm, chi bằng đọc cho thuộc, mai sau còn sống có gặp cô gái tên Lan kia truyền lại cho nàng cũng không có gì có lỗi.
Tích Nhân nằm xuống cỏ lấy quyển sách ra đọc và rất lý thú vì quyển sách mỏng, chữ viết nhỏ nhưng đồ hình thì rất rõ ràng, ngoài bảy mươi hai đường Vân Long kiếm pháp, còn có Càn Long thần công.
Tích Nhân đọc qua quyển bí kíp thở dài:
- Không ngờ cô gái tên Lan kia lại có lai lịch lớn như vậy. Theo mẫu thân kể lại, chùa Vân Long năm xưa là chùa trấn quốc của Đại Lý, sau khi Đoàn Trí Hưng đầu hàng nhà Nguyên, con cháu chạy tứ tán, thì có lẽ cô gái là cháu chắt gì đó của hoàng gia họ Đoàn. Đáng tiếc, Càn Long thần công chí dương chí cương, nam nhân thuần dương cũng phải tốn năm sáu chục năm mới luyện thành, còn phụ nữ tập luyện chẳng tiến bộ đã đành mà sẽ mất hết nữ tính. Cô gái kia đúng là có báu vật mà chính mình không thể sử dụng được. Bây giờ ta không ngạc nhiên nữa và hiểu ra vì sao cô ta lại có ngôn ngữ và cử chỉ không được dịu dàng mà một người con gái xinh đẹp như cô ta phải có.
Tích Nhân đọc đi, đọc lại, khi thì nhắm mắt nằm im lặng. Chiều đến, cậu bẻ bứt một đống cỏ lau, để ý đến đến những con chim le le, vịt nước bay đáp chung quanh, ăn sống ba quả trứng còn lại, rồi lấy sách gối đầu, lấy lau cỏ phủ lên người nằm lăn ra ngủ. Thật trớ trêu, Tích Nhân mới nhắm mắt một lúc trời đổ mưa phải choàng dậy. Mưa mỗi lúc một lớn, Tích Nhân ướt hết mình mẩy nên lấy những đồng bạc giấy kẹp vào quyển sách giấu vào ngực và ngồi cúi đầu chịu trận. Những giọt mưa lạnh như cắt thấm ướt da thịt làm Tích Nhân run lên cầm cập và suy nghĩ ngày mai phải đi tìm chỗ trú ngụ, một căn nhà hoang, một căn miếu cũ để nằm qua đêm tốt hơn là ở dưới gốc cây.
Không đợi sáng, mưa còn rả rích, Tích Nhân cảm thấy quá lạnh. Hai hàm răng tự động đánh nhau cầm cập, tay chân tê cóng run rẩy nên quyết định đứng lên băng mưa mà đi, dù sao đi đứng sẽ bớt lạnh hơn ngồi một chỗ. Đêm tối như bưng, chung quanh lau sậy, cỏ dại cao ngập đầu, Tích Nhân như con thú hoang lạc, một tay chống gậy, một tay run rẩy vẹt lau cỏ lần bước! Đi một lúc đến được một nơi trống trải và thấy xa xa có ánh lửa, vui mừng nhắm hướng đi tới. Đường đi bấy giờ không còn lau sậy ngập đầu, nhưng cỏ cũng cao quá gối, có nơi cồn, có chỗ rạch, Tích Nhân vấp té không biết bao nhiêu lần, sức lực càng thấy kiệt quệ, tay chân như không nhấc nổi, nhưng mỗi lần như vậy Tích Nhân lại cắn răng cố sức ngoi ngóp bò lên đi tiếp, mình mẩy đầu tóc lấm lem. Cuối cùng cũng lê lết đến được một túp lều tranh xiêu vẹo trên một cồn đất cao, trước cửa có người đã chất cây đốt lửa, lửa còn cháy âm ỉ và còn phảng phất mùi thịt nướng, nhưng chung quanh và trong lều không thấy có ai. Tích Nhân đẩy những khúc gỗ lại bên nhau cho ngọn lửa bốc lên để sưởi ấm. Qua ánh lửa, lại thấy dưới mặt đất vung vãi đó đây, chỗ này một cánh gà, chỗ kia một đùi chó dù đã có người ăn, gặm qua nhưng vẫn còn chút ít thịt. Quá đói, Tích Nhân gom góp những mẫu xương vứt đó đây lại chùi bụi đất lên áo rồi vừa ăn, vừa sưởi ấm, và bấy giờ tai Tích Nhân cũng nghe tiếng gà gáy sáng từ xa vẳng tới. Quá mệt mỏi, gặm hết những mẫu xương vun, Tích Nhân dựa lưng vào vách và ngủ gục lúc nào không hay biết.
Tích Nhân phải nhảy nhỏm vùng dậy vì một ngọn roi quất sả lên người, vừa mở mắt một ngọn roi thứ hai đã bổ lên đầu. Tích Nhân lăn tròn tránh được ngọn roi thứ ba, nhìn lại người đánh mình là một ông già độ năm sáu mươi và nghe ông ta la hét:
- Thì ra ăn cắp gà chó trong xóm mấy bữa nay là ngươi! Con ai coi bộ áo quần lành lặn mà trộm đạo thế này, ta phải bắt ngươi về cho hàng xóm xét xử.
Biết mình bị nghi oan, nhưng nghĩ khó lòng biện bạch, Tích Nhân bốc cây gậy lên vùng chạy, vừa chạy vừa la:
- Cháu không phải là người trong xóm cụ. Một mình cháu làm sao bắt chó cho được? Cụ nghĩ lại có đúng không? Bắt chó đem ra đây làm thịt phải có một bọn ba bốn đứa mới có thể làm được!
Ông cụ rượt theo:
- Ta bắt tại trận ngươi còn chối! Xóm ta lâu nay bình yên đâu có trộm cắp gì, thế mà mấy hôm nay hết người này bị mất gà đến kẻ kia mất chó! Bắt được ngươi sẽ tìm ra đồng bọn của ngươi.
Tích Nhân nhắm con đường nhỏ, chạy thục mạng, vừa chạy vừa la, con ông già cũng vừa đuổi theo vừa la hét.
Thấy khó chạy thoát với ông lão, Tích Nhân dừng chân đứng lại, cầm gậy thủ thế, làm bộ mặt cứng rắn:
- Tôi thấy ông hiểu lầm nên bỏ chạy chứ không phải sợ ông đâu. Có ngon thì xông tới nữa tôi sẽ cho biết tay!
Ông lão vốn là một người cùng khổ trong xóm phải ra chỗ hoang vu dựng lều phát đất làm rẫy, thấy Tích Nhân ốm tong và tưởng là kẻ trộm muốn bắt về xóm lập công, nhưng khi hắn quay lại quyết ăn thua đủ, và nhìn lại hắn dù thân hình ốm tong nhưng cao nghều, mặt mày bùn đất loang lổ, cầm cây gậy đen thui, lão nghĩ mình nhào tới có đánh bắt được tên trộm trước mặt thì nó cũng đánh lại mình sưng đầu, sưng tay nên chùn lại:
- Hừ! Ngươi ăn trộm còn dám đánh lại ta?
Tích Nhân nghiêm giọng:
- Tôi không có ăn trộm. Ông đã vô cớ đánh tôi hai roi, tôi bỏ chạy ông còn đuổi theo, thì tôi phải tự vệ vậy! Chung quanh đây chẳng có ai, ông chẳng có ai giúp thì đừng nghĩ đến chuyện bắt tôi.
Tích Nhân bỗng tung mình lên cao, cây gậy tung ra mấy đòn vùn vụt, hạ chân xuống đất cười:
- Ông thấy võ nghệ tôi cũng đủ dùng để phòng thân đấy chứ!
Ông cụ, từ nhỏ đến lớn chăm chỉ trên những mảnh đất, sống với con trâu, cái cuốc, trời đông lạnh mà vẫn phải mặc áo cụt, quần đùi, thấy Tích Nhân có võ nghệ như vậy thì ngán sợ, quay lưng bỏ đi nói với lại một câu cho đỡ tức:
- Có võ nghệ để đi bắt gà bắt chó à! Hừ! Nghĩ lại cũng chẳng phải gà chó gì của ta! Ngươi đi đi!
Ông cụ bỏ đi, Tích Nhân nhìn quanh chẳng biết mình đang ở chổ nào, không hiểu phải đi về đâu để ra đường lộ nên lại gọi ông lão lại:
- Lão trượng! Xin lão trượng đừng giận, cháu không phải là người ở gần đây để ăn trộm gà chó trong xóm lão trượng. Thấy lão trượng tức giận quá mới vô phép như vậy mà thôi. Cháu người Quốc Oai, đến Đông đô thăm viếng. Hôm qua đi chơi thuyền mê mãi, thuyền bị lật mới trôi dạt tới đây, khi băng qua rặng lau, thấy lều của lão trượng có ánh lửa nên mới tới trốn lạnh mà thôi. Nếu lão trượng giúp cháu, chỉ đường đi ra quan lộ, cháu sẽ đền ơn xưng đáng.
Ông lão quay lại:
- Ừ nhỉ! Nghe tiếng nói của cậu không phải là người vùng này. Có thể bọn bắt gà bắt chó là bọn du côn ở làng dưới không chừng! Xin lỗi đã đánh cậu mấy roi. Cậu muốn ra đường lộ, cứ lối mòn này, qua khỏi mấy cái gò đất, rẽ vào con đường chênh chếch về phía Tây, qua cánh đồng sẽ tới xóm tôi. Xóm tôi cheo leo giữa ruộng và đầm lầy chỉ có ba chục nóc gia nên cũng không có đường sá gì nhiều. Từ xóm tôi theo con đường đê độ vài dặm, đến rừng tre, qua khỏi rừng tre là chợ và đường quan lộ. Từ đó cậu có thể hỏi thêm đường.
Tích Nhân cung tay:
- Cảm tạ lão trượng chỉ dẫn. Mùa đông giá rét lão trượng phải ra lều làm việc, áo cụt quần ngắn chắc lão trượng cũng không khá giả gì, cháu xin tăng lão trượng chút ít để tỏ lòng biết ơn.
Nói xong Tích Nhân cho tay vào túi lấy ra một đỉnh bạc xuống đường, rồi cấm cổ chạy. Ông lão nhìn đỉnh bạc sáng lấp lánh nằm trên lối mòn, mồm há hốc không tin nổi mắt mình. Ông ta tiến lại cầm đỉnh bạc lên sững sờ và cảm động nhìn Tích Nhân đang chạy mỗi lúc mỗi lúc mỗi xa và khuất lấp sau các hàng cây, bụi cỏ.
Chạy được một lúc thấy bên đường có một hồ nước nhỏ, dù biết xuống nước cũng như mặc bộ áo ướt sẽ rất lạnh, nhưng bộ đồ đang mặc cũng chẳng phải khô khan gì mà bùn đất dính đầy, nên Tích Nhân dừng chân, để quyển sách da trong có tiền giấy trên bờ cỏ, cởi quần áo ra giặt và rửa sơ mình mẩy, mặt mũi.
Mặc lại bộ đồ ướt, cơn lạnh lại làm hai hàm răng đánh nhau cầm cập, Tích Nhân khum người theo con đường mòn giữa hai bờ cỏ dại cây thưa chạy khập khểnh về phía trước. Qua khỏi mấy cồn cây cao có cái ngã ba, nhưng vì cơn lạnh, vừa chạy vừa run không để ý nên vẫn theo con đường trước mặt.
Khi ra đồng trống thấy xóm làng nằm về chênh chếch về hướng Tây, nhưng cũng thấy phía trước có mái nhà, hàng tre nên không đổi hướng dù thấy con đường bây giờ rất nhỏ, cây cỏ mọc cao tới đầu, lan ra gần che kín một ngã quẹo của con đường che khuất bởi cỏ cao và một bụi cây, Tích Nhân suýt đụng một người. Đấy là một nữ nhân. Vừa chợt có người và cũng thấy cả đôi mông trắng tròn của nữ nhân sau bụi cây, Tích Nhân nhảy thối lui lại. Còn nữ nhân thì hấp tấp phủ váy đứng dậy, đỏ mặt la:
- Tiểu quỷ ngươi ở đâu tới vậy?
Tích Nhân lấy tay chỉ phía mình từ đó đi tới, ngỏ lời xin lỗi:
- Cây bụi che khuất không nhìn thấy, không nhìn thấy gì cả xin đại tỷ tha thứ cho.
Nữ nhân chợt cười:
- Ai mà biết ngươi thấy hay không thấy!
Tích Nhân nhắm mắt:
- Thật tình chẳng thấy gì cả.
Nữ nhân quát trong tiếng cười khúc khích:
- Thôi đi đi, chẳng lẽ đứng ì ra đấy?
Tích Nhân bịt mũi rón rén đi qua. Nữ nhân ngồi xuống đường trở lại và một giây sau đứng dậy đi theo, gọi Tích Nhân:
- Cậu kia! Ngươi là ai? Từ đâu tới đây vậy?
Tích Nhân dừng chân, quan sát nữ nhân, thấy đó là một cô gái hay thiếu phụ độ trên hai mươi tuổi, nước da trắng ngà, mắt phượng mày ngài, môi hồng răng trắng, Tích Nhân không ngờ nơi hoang dã lại có một người xinh đẹp như vậy.
- Dạ, em là Tích Nhân, bị đắm thuyền hôm qua, bò được lên bờ rồi theo đường này đến đây định hỏi thăm đường ra quan lộ.
- Ngươi lễ phép lắm đấy! Sông nước mùa này bị đắm thuyền mà còn sống là may mắn lắm! Người ngươi ướt hết thế kia không lạnh sao?
- Em đang lạnh muốn chết đây chứ, nhưng giữa chốn hoang vu đành phải cố chịu.
Cô gái tỏ lòng thương hại:
Nếu vậy vào nhà ta hơ lửa cho khô áo quần rồi mới đi. Từ đây ra chợ tới mấy dặm, ngươi mặc áo quần ướt sẽ bị bệnh!
- Đại tỷ có lòng như vậy thì quý hoá quá.
Tích Nhân đợi, lách mình nhường đường cho cô gái đi trước rồi rảo bước theo sau.
Nhà cô gái nằm riêng biệt trong một khu vườn rộng, có hàng tre bao quanh và trong vườn trồng nhiều cây ăn trái, cách xóm nhà mấy chục nóc gia ở phía Tây một cánh đồng cỏ ngập nước độ trên nửa dặm. Trước cửa là hàng dậu trúc cắt xén quá đầu. Cửa cổng là những thanh gỗ đóng lại với nhau. Giữa một nơi heo hút đồng lầy mông quạnh, một ngôi nhà như thế này cũng nói lên sự khá giả của chủ nhân. Cô gái đẩy cổng, hai con chó to lớn nằm trước sân thấy người lạ nhỏm lên sủa inh ỏi, cô ta phải la mắng mấy lần mới cụp đuôi lại nằm yên.
Ngôi nhà của cô gái có hai căn riêng biệt. Căn nhà lớn ba gian hai chái, vách đất, lợp ngói, tương đối rộng lớn, và có vẻ cổ kính, các cánh cửa lớn, cửa sổ đều bằng gỗ và khép kín. Căn nhà bên cạnh lợp tranh, cất tụt về phía sau và cách nhau một khoảnh sân rộng.
Cô gái mở cánh cửa giữa căn nhà lớn:
- Ngươi vào trong ván ngồi nghĩ. Ta xuống bếp thổi lửa lên cho.
Tích Nhân đã lạnh quá không khách sáo bước vào nhà trốn gió. Ngồi trên ván Tích Nhân nhìn quanh thấy trong nhà có hai bàn thờ, bàn thờ giữa nhà chiếm gần nửa căn, bàn thờ trên đầu bộ ván còn thắp hương, treo khăn tang, bên cạnh cắm một cây trường thương và trên vách tường treo một cây cung.
Một lúc cô gái từ nhà trong bước ra:
- Lửa đã cháy, ngươi theo ta xuống bếp mà sưởi ấm.
Gian nhà bếp của cô gái lẽ chiếm hết một phần ba căn thứ hai nên khá rộng. Bên trong, ngoài giàn bếp được xây lên cao vừa ngươi đứng, còn có bàn ghế, tủ chén... lửa trong bếp đang cháy và cô gái cũng bắc trên đó một nồi cháo, bảo:
- Ngươi đứng bên cạnh bếp hơ lửa, muốn thì cởi áo ra hong cho mau khô, vừa sưởi vừa canh chừng nồi cháo để ăn. Ta nghĩ ngươi rất đói.
- Đại tỷ tử tể quá.
- Giúp người, trời giúp lại mình. Gia gia và trượng phu của ta bao giờ cũng dạy thế.
- Đại huynh đi vắng?
Thiếu phụ thở dài:
- Kiệt huynh mất đã ba năm qua.
- Ồ! Xin lỗi đại tẩu.
- Sao lại xin lỗi ta?
- Nhắc lại chuyện buồn cho đại tẩu.
- Ngươi nói chuyện thật dễ thương. Ta tên Hà, ngươi cứ gọi ta là chị Hà. Cháo ta đã bỏ gia vị trước rồi, có cá kho trên bàn ngươi tự nhiên, ta ra ngoài cho gà, cho lợn ăn và làm vườn.
Tích Nhân thấy thiếu phụ bước đi gọn ghẽ, biết nàng ta có võ công. Tích Nhân chờ cháo chín, lấy bát múc vừa thổi vừa ăn. Bụng được no người được sưởi cảm thấy khoẻ hẳn ra. Ăn no, Tích Nhân không thấy thiếu phụ trở vào, cởi áo hơ, áo khô lấy choàng quanh người, hong quần. Khi cả hai đều khô ráo, Tích Nhân đẩy cửa ra ngoài. Nghe tiếng động ở phía sau vườn, Tích Nhân bước ra thấy thiếu phụ tên Hà đang lom khom nhổ cỏ mấy luống rau. Xa trong vườn nhiều cây trái Tích Nhân thấy có một căn nhà nhỏ, cất theo kiểu nhà sàn, có lẽ là nhà kho hay lẫm lúa. Gần đó có một chuồng lợn ba bốn con. Nghe bước chân hắn, thiếu phụ không ngưng tay làm việc mà hỏi:
- Cậu đã ăn cháo chưa? Muốn đi phải không?
Tích Nhân:
- Cảm ơn đại tẩu đã giúp đỡ, tiểu đệ xin cáo từ.
Thiếu phụ ngưng tay đứng lên:
- Cậu phải đi thì ta ra mở cửa cổng cho. Cứ theo con đường trước cửa nhà đi qua khỏi xóm, theo con đê mà đi sẽ đến chợ.
Tích Nhân:
- Xin được biết rõ phương danh của đại tẩu để ghi nhớ trong lòng.
- Ta tên Hà, Hoàng thu Hà, cố phu là Trần Kiệt, người giang hồ gọi là thiết thương Trần Kiệt.
- Nhờ Trần đại tẩu chiếu cố mà tiểu đệ mới không còn thấy lạnh như cắt da nữa.
Thiếu phụ quan sát Tích Nhân từ chân lên đầu:
- Ta thấy ngươi ốm tong teo, nước da xanh mét hình như là đói bệnh lâu ngày!
Tích Nhân thở dài:
- Tiểu đệ không giấu gì đại tẩu, cha mẹ tiểu đệ mất sớm, tiểu đệ sống rày đây mai đó, đói khát bất thường. Hôm qua ở cửa Đông thành bị người hà hiếp, đánh cắp một chiếc thuyền câu đào tẩu rồi sóng nước xô dạt đến đây.
- Thì ra vậy!
- Ngươi định đi đâu?
- Tiểu đệ định đi lên phủ Lạng Sơn tìm người thân.
Thiếu phụ lộ vẻ mừng:
- Ồ! Ta cũng vốn người phủ Lạng sơn, người thân ngươi là ai, ở nơi nào?
- Tiểu đệ chỉ nhớ mẫu thân dặn đi tìm người cậu là Chu Tích Cương, nhưng không biết ở đâu.
Thiếu phụ lẩm bẩm:
- Chu Tích Cương! Hình như ta có nghe qua cái tên này. Lạ nhỉ! Ta chẳng biết là ai, nhưng cái tên thật là quen.
Thiếu phụ bỗng đề nghị:
- Đường lên đất Lạng mùa này nguy hiểm khôn cùng. Hay là ngươi ở lại đây! Ta đang định hết mùa đông này trở về nhà thăm cha mẹ. Là goá phụ lại để một nam nhân trong nhà cũng có thể gây ra dị nghị, nhưng ngươi chỉ đáng em ta. Người trong thôn xóm quanh đây chân chất, hầu hết là người làm ruộng cho nhà ta, ai có hỏi ta bảo ngươi là em đến thăm thì chẳng ai để ý.
Thiếu phụ cười:
- Thật ra gia gia ta có tới mười hai người con gái, mà chẳng có người con trai nào.
Tích Nhân ngần ngừ:
- Tiểu đệ cảm thấy trong người còn quá yếu đuối, rất muốn có chỗ ở tạm một thời gian cho hoàn toàn bình phục, nhưng chỉ sợ bất tiện cho đại tẩu. Hình như trong nhà chỉ có một mình đại tẩu.
Thiếu phụ cười:
- Ngươi còn.. con nít mà biết e ngại như đã lớn! Trong nhà còn có vợ chồng lão Tam, nô bộc của cha chồng ta. Ta mới cho họ đi thăm con ở kinh thành khoảng mười ngày nên mới vắng vẻ như vầy.
Thiếu phụ tiếp lời:
- Nếu ngươi thấy mình đã là thanh niên, ở chung với một goá phụ sẽ bị tai tiếng, thì ta chẳng dám giữ ngươi, còn nếu ngươi thấy mình còn trẻ, chỉ đáng em út ta thì cứ tự nhiên ở lại sang xuân ngươi có thể cùng đi với ta cho có bạn.
Thiếu phụ tiếp lời:
- Ta ở đây vò võ một mình. Có ngươi hàng ngày chuyện vãn cũng khuất lấp nỗi buồn của ta. Kiệt huynh mất ta như người xa lạ ở một nơi như thế này.
Lời nói chí tình làm Tích Nhân mềm lòng:
- Trần đại tẩu đã có lời như vậy, Tích Nhân đang lúc hoàn cảnh khó khăn xin làm phiền đại tẩu.
Thiếu phụ:
- Mười hai chị em chúng ta ai cũng muốn có một người em trai. Ta là người thứ tám, Vân Thao, em út của ta nay mười bốn. Ngươi ở lại làm nghĩa đệ của ta, ta sẽ đem ngươi về làm mai gả nó cho ngươi. Từ nay gọi ta là Hà tỷ tỷ, hay chị Hà cho quen miệng, còn ta gọi ngươi là Nhân đệ.
- Cảm ơn Hà tỷ.
- Cảm ơn cái gì? Cảm ơn vì ta định làm mai Vân Thao cho ngươi?
Tích Nhân cả thẹn:
- Cảm ơn vì lòng tốt của Hà tỷ tỷ...
- Nhân đệ ngoan ngoãn lắm. Để ta vào dọn phòng, nếu có mệt thì Nhân đệ nghỉ ngơi.
Tích Nhân vào nhà, nghe Thu Hà dọn dẹp trong căn phòng phía Tây, hỏi:
- Tiểu đệ có thể phụ được gì không?
Thu Hà vui vẻ:
- Chẳng việc gì làm, cứ vài ngày lão Tam cũng vào lau quét nên bây giờ chỉ lau sơ lại bàn, tủ, thay chiếu và mang màn gối cho Nhân đệ là xong. Ta hy vọng Nhân đệ không cho căn phòng này chật hẹp.
Tích Nhân cười buồn:
- Đã mấy năm rồi tiểu đệ chẳng biết cái phòng và cái giường ra sao cả.
Thu Hà bước ra thân mật:
- Tội nghiệp không! Từ nay hy vọng hiền đệ không phải bị khổ nữa.
- Đa tạ tỷ tỷ.
Thu Hà sang phòng mình mang chiếu mới, màn gối sang sắp xếp cho ngay ngắn rồi ra bảo:
- Nhân đệ phải tự nhiên mới được. Ta xuất thân là con nhà võ và là người của núi rừng nên rất tự nhiên, không giả dối. Gia gia ta là Thần thương Hoàng Mật, Kiệt huynh là đệ tử của gia gia ta.
Tích Nhân cười:
- Tiểu đệ chỉ sợ có được người nghĩa tỷ rồi vòi vĩnh làm tỷ tỷ tức giận mà thôi.
- Nhất ngôn ký xuất! Hiền đệ nghỉ ngơi đi, ta đi nấu bữa cơm kỷ niệm ngày chị em ta quen biết nhau.
Thu Hà ra ngoài, Tích Nhân vào phòng nằm xuống giường, đắp chăn rồi thấy hai mí mắt cứng đơ, sụp xuống.
Tích Nhân đang đau xót tột cùng trong giấc mơ thường ngày của mình, hắn đang ú ớ, lăn lộn, kêu khóc và khi bị lay dậy, vừa choàng mở mắt, tung chăn ngồi lên, ôm chần lấy người đàn bà đang đứng bên cạnh giường. Kêu lớn:
- Mẫu thân! Mẫu thân đừng bỏ hài nhi.
Thu Hà đã chuẩn bị cơm trưa vào kêu, thấy Tích Nhân đang mơ ngủ lay hắn dậy, không ngờ bị hắn ôm lấy. Là một goá phụ trẻ, trong khi Tích Nhân thân thể đã cao lêu nghêu, nên bất chợt bị ôm và bị gục mặt lên người mình, làm nàng cảm thấy bủn rủn, tay chân như không còn sức, ngã ngồi xuống giường. Nàng tức giận tung chưởng lên đánh xuống đầu hắn, nhưng bàn tay dừng lại vì nghe hắn thổn thức trong tiếng kêu thương rất chân thành. Nàng để hắn ôm rồi từ tốn:
- Nhân đệ tỉnh đi, ta đây chứ chẳng phải mẫu thân của Nhân đệ.
Tích Nhân vẫn nghẹn ngào, Thu Hà thở dài:
- Nhân đệ nhớ mẹ thì cứ khóc đi, khóc đi sẽ vơi hết nỗi khổ trong lòng. Tỷ tỷ...
Trong giấc mơ nhớ mẹ, nửa tỉnh, nửa mê Tích Nhân đã ôm Thu Hà, tưởng như ôm ghì lại hình ảnh mẹ, nhưng tiếng nói của nàng cũng liền đưa hắn trở lại thực tại, và hiểu ra mình đã có cử chỉ đáng trách, vội vàng lau nước mắt đứng lên, dụi mắt, khom người tạ lỗi:
- Tỷ tỷ tha lỗi cho tiểu đệ...
Thu Hà đứng lên:
- Đi! Đi ăn cơm đi... Hiền đệ chỉ nhớ mẹ mà! Có gì đâu!
Tích Nhân đi theo Thu Hà, chợt thấy có chút ngượng ngùng vì cử chỉ của mình, còn Thu Hà có lẽ vì cũng trải qua giây phút một goá phụ bất ngờ bị đánh thức những cảm giác sâu xa, nên cũng thẹn thầm, vì thế Tích Nhân im lặng đi theo, còn nàng thì vội vàng đi trước.
Xuống bếp, Tích Nhân thấy bàn ăn có gà nướng, cơm trắng, cá kho... Năm bảy món. Nhìn bàn ăn Tích Nhân đã nuốt nước miếng, nhưng Thu Hà bấy giờ tỏ ra không vồn vã mà đứng quay mặt vào bếp. Tích Nhân cảm thấy mình có tội nhưng chẳng biết phải làm sao. Căn nhà bếp chợt có chút nặng nề và mất tự nhiên.
Giây phút nặng nề trôi, Tích Nhân lấy hết can đảm cúi đầu:
- Tỷ tỷ... Xin tỷ tỷ tha lỗi cho tiểu đệ.
Thu Hà đứng yên, hắn lên tiếng van xin lần nữa, bấy giờ Thu Hà mới quay lại cười. Qua ánh lửa, Tích Nhân thấy nàng đẹp tuyệt vời.
Thu Hà bắt gặp ánh mắt của hắn, buột miệng:
- Ngươi!
Tích Nhân cũng bất thần buột miệng:
- Tỷ tỷ đẹp quá!
Thấy hắn khen mình một cách chân thật, trong lòng khoan khoái, Thu Hà cười như hoa nở, bước lại lấy tay bẹo má:
- Còn nhớ mẹ khóc lên khóc xuống, mà cũng biết đẹp, xấu... Này ngồi xuống ăn cơm.
Nàng kéo ghế cho hắn, Tích Nhân lại cung tay:
- Xin mời tỷ tỷ.
Thu Hà ngồi xuống ghế phá lên cười:
- Ngươi ngộ thật! Có lúc như thằng bé lên năm sáu còn khóc nhè, có lúc như ông đồ Nho.
Tích Nhân ngồi xuống buồn bã:
- Tiểu đệ nay đã mười lăm, chỉ vì không còn cha mẹ, lưu lạc đó đây nên chưa được nên người.
Thu Hà ngưng cười, gắp thức ăn cho hắn:
- Hiền đệ xem thử thức ăn ta làm có ngon không?
Tích Nhân:
- Xin mời tỷ tỷ.
Thu Hà rót rượu:
- Gia đình ta trong bữa ăn đều có uống rượu thành quen, nhỏ lớn đều uống rượu. Nhân đệ uống rượu được không?
- Tiểu đệ chưa bao giờ uống.
Nàng rót cho Tích Nhân một chút, khuyến khích:
- Rượu ngô của gia đình họ Hoàng ta đặc chế không tệ lắm. Nhân đệ nếu muốn có thể một chút.
Tích Nhân đưa chén rượu lên môi, chưa uống đã sặc. Nhưng rồi bậm môi uống liền một hơi.
Thu Hà cười:
- Nhân đệ cũng can đảm đấy! Trời lạnh uống được chút rượu cũng rất tốt cho sức khỏe.
Tích Nhân nghe tai và người nóng bừng, bậm gan cầm đũa, ăn được chén cơm, cảm thấy dễ chịu hơn.
Thấy Thu Hà ăn thịt, uống liền hai chén rượu, Tích Nhân hỏi:
- Tỷ tỷ thích uống rượu lắm phải không?
- Uống một hai chén trước khi ăn cơm đã là tập tục của nhà ta, nhưng uống để say sưa thì ta chưa bao giờ.
- Tỷ tỷ biết võ công?
- Ta đã giới thiệu với hiền đệ, gia gia ta có tiếng là Thần thương, dạy thương pháp, quyền pháp cho nhiều học trò. Có người gọi gia gia ta là trại Nhạc Phi vì cho rằng thương pháp của ông không thua thương pháp của Nhạc Phi đời Tống. Dù con gái nhưng ta cũng phải biết chút đỉnh công phu của phụ thân mình chứ! Ngươi không ngoan ngoãn ta sẽ lấy thương mà đánh!
Tích Nhân:
- Phụ thân và mẫu thân của tiểu đệ đều biết võ nghệ, nhưng từ bé cho đến khi gia đình bị kẻ thù làm hại, gia gia và mẫu thân tiểu đệ chỉ bắt tiểu đệ học văn. Ông bảo phải biết đạo làm người trước rồi mới học võ sau, có võ mà không có chữ nghĩa thánh hiền, trí tuệ thì chỉ làm một võ phu lỗ mãng. Võ mà không có văn thì không bao giờ đạt được tinh tuý của võ học. Vì quan điểm của phụ thân mà bây giờ tiểu đệ chỉ biết vài chiêu phòng thân.
- Ta nghĩ thân phụ hiền đệ nói đúng. Không được học chữ như ta, nếu có một kỳ thư bí kíp gì trước mắt cũng chẳng biết đâu nghiên cứu. Từ nhỏ đến lớn ta sống trong đầy đủ, nhưng ta vẫn thấy thiếu cái gì đó và có lẽ đấy là chữ nghĩa. Văn tự ta chỉ biết đọc và viết tên của mình. Ồ! Hay là ta dạy Nhân đệ thương pháp nhà ta, còn Nhân đệ thì dạy lại ta chữ nghĩa. Hai ta học lẫn nhau.
Tích Nhân vui thích:
- Nếu vậy thì hay biết mấy! Chúng ta cứ như vậy, vài năm sau sau chúng ta sẽ là một cặp... văn võ song toàn.
Thu Hà đỏ mặt:
- Cái gì chúng ta là một cặp...
Tích Nhân cả thẹn lắp bắp:
- Một cặp chị em, tỷ đệ...
Thu Hà liếc mắt:
- Nhân đệ chắc vì có học chữ nên miệng lưỡi hơi... lém lỉnh!
Tích Nhân tưởng Thu Hà chê trách, bối rối cúi đầu xuống bàn. Thu Hà:
- Ta chỉ đùa một chút mà Nhân đệ giận hay sao?
Tích Nhân lắp bắp:
- Tiểu đệ nào dám giận tỷ tỷ.
Thu Hà lại hỏi:
- Nhân đệ thấy ta có phần giống bá mẫu hay sao mà lúc nãy tưởng ta là người?
Tích Nhân trầm ngâm:
- Lúc ấy tiểu đệ ở trong cơn mơ rồi hoảng hốt mà thôi. Tỷ tỷ không có chút gì giống mẫu thân tiểu đệ dù cả hai đều đẹp. Tỷ tỷ đầy nét vui tươi, tràn đầy sức sống, thì mẫu thân tiểu đệ lúc nào đôi mắt cũng có chút u buồn lo lắng. Mẫu thân thân thể mảnh mai, răng đen hạt huyền, đầu chít khăn the, thích mặt áo lụa trắng, ít nói, nghiêm nghị với mọi người, nhưng với tiểu đệ thì hết lòng chiều chuộng. Lúc bé học viết, bà luôn đặt tiểu đệ trong lòng nắm tay chỉ dạy, lúc nào cũng âu yếm cưng yêu, khi nào tiểu đệ buồn bực chuyện gì, thì bà ôm vào lòng vuốt ve an ủi. Bà chiều chuộng tiểu đệ đến nhiều lúc gia gia tiểu đệ cũng tỏ ra khó chịu, vì thế mà khi tỷ tỷ nắm tay tiểu đệ lay dậy, thì tưởng tỷ tỷ là mẫu thân.
Thu Hà:
- Ta chưa được làm mẹ, nhưng chắc người mẹ nào khi có con cũng thương con như vậy.
Và tiếp lời:
- Nhân đệ có thể kể cho ta nghe hoàn cảnh của mình?
Tích Nhân trầm ngâm, Thu Hà:
- Nếu Nhân đệ thấy có điều gì khó nói, thì tỷ tỷ cũng không tò mò nữa.
Tích Nhân thở dài:
- Chẳng có điều gì mà tiểu đệ không muốn nói với tỷ tỷ. Mới gặp nhưng tiểu đệ thấy như rất thân quen và tỷ tỷ là người đáng cho tiểu đệ tin cậy. Chỉ có điều trước khi mẫu thân mất căn dặn tiểu đệ không được tiết lộ mình là con ai nếu chưa học thành một thân võ công tuyệt thế.
Thu Hà:
- Đã có lời dặn của bá mẫu, Nhân đệ không nên làm trái.
Cơm nước xong, Tích Nhân phụ với Thu Hà dọn dẹp, sau đó nàng lấy thước ra đo khuôn khổ người hắn:
- Nhân đệ có một bộ đồ không có gì thay đổi, để ta may thêm cho Nhân đệ.
- Phiền tỷ tỷ quá!
Thu Hà nghiêm nghị:
- Đã coi ta là tỷ tỷ, thì đừng khách sáo nữa.
Tích Nhân không dám nói thêm lời nào, để nàng đo người, nhưng nhắc nhở:
- Tiểu đệ bị đói lâu ngày nên thân thể chỉ có da bọc xương, nếu được ăn no thì...
- Có mập cũng mười hôm, nửa tháng. Tuy nhiên, Nhân đệ không phải lo, ta cắt rộng chút. Hôm nào Nhân đệ hoàn toàn mập mạnh, chúng ta ra chợ, ta sẽ mua sắm cho Nhân đệ.
Tích Nhân lấy mấy viên ngọc, các thỏi vàng bạc và số tiền giấy trong áo đưa cho Thu Hà:
- Số tiền này mẫu thân tiểu đệ để lại cho đệ phòng thân, nay được tỷ tỷ cho ăn cho mặc, xin tỷ tỷ giữ lấy giùm cho tiểu đệ.
Thu Hà nhìn số vàng bạc châu ngọc:
- Ồ! Không ngờ Nhân đệ giàu như thế này! Đã mang cả một khối tài sản trong người sao lại đói khát?
Tích Nhân thuật lại những cảnh mình đi đổi bạc lấy tiền chẳng những bị mất bạc mà còn bị đánh đập như thế nào, sau đó hàng ngày phải ăn xin, ngủ gốc đa, hoàn toàn suýt bị chết đói chết lạnh, được Phạm tiên sinh giúp đỡ và gia đình thím Năm bị giết, rồi sợ mang họa cướp thuyền câu đi trốn cho nàng nghe.
Câu chuyện hắn khá dài nên cả hai đã ngồi xuống thềm hiên, Thu Hà nghe câu chuyện đời hắn, thương hại đến giọng nói trở nên nghèn nghẹn:
- Tội nghiệp cho hiền đệ!
Nàng đặt tay lên vai hắn:
- Ta cũng không hiểu sao khi gặp Nhân đệ thấy rất mến. Còn Nhân đệ cũng chẳng biết nhiều gì về ta lại tin tưởng đem hết vàng bạc giao cho ta. Có lẽ hai chị em chúng ta có duyên từ kiếp trước. Từ nay, ta coi Nhân đệ là người thân nhất trên đời của mình. Ta hy vọng Nhân đệ cũng vậy.
Tích Nhân chợt rơi nước mắt:
- Người thân nhất trên đời của tiểu đệ bây giờ là tỷ tỷ.
Thu Hà:
- Hiền đệ ngoan! Ta giữ giùm số vàng bạc và châu ngọc này cho Nhân đệ, khi nào Nhân đệ ra đi ta sẽ giao lại.
Tích Nhân:
- Tiểu đệ hy vọng từ nay tỷ đệ chúng ta đi đâu cũng có nhau.
Nghe hắn nói Thu Hà lòng rung động, buông rơi bàn tay mình trên vai hắn xuống, nàng ngước nhìn lên đám mây đang bay trên trời, dấu tiếng thở dài, rồi đứng lên:
- Nhân đệ về phòng nghỉ, hay ra ngoài vườn chơi, tỷ tỷ đi may áo cho hiền đệ.
Thu Hà bước vội về phòng nàng. Tích Nhân ngồi buồn một mình trong giây lát rồi về phòng, lấy quyển bí kíp Vân Long phái ra đọc thêm cho thuộc.
Mấy ngày ở với Thu Hà, chữ nghĩa, hình ảnh quyển bí kíp cấp nằm hết trong đầu Tích Nhân. Vì nghĩ nó là vật sở hữu của cô cháu thím Năm, biến phải tùng quyền, chỉ lấy theo để kẻ gian khỏi đắc chí, mai sau nghi chép trả lại cho chủ như đã hứa, nên Tích Nhân không chia xẻ với Thu Hà, sau khi ghi nhớ hết, đem ra gò xé đốt.
Được ăn no mặc ấm, ban ngày luyện tập thương pháp vài giờ được giãn gân, giãn cốt, thân thể Tích Nhân như thay đổi hàng ngày. Một bữa Thu Hà nhìn hắn đăm đăm buột miệng:
- Nhân đệ lớn lên sẽ là một mỹ mạo nam tử.
Mỗi đêm, sau khi chỉ Thu Hà đọc và viết chữ, Tích Nhân đã học thuộc hai quyển bí kíp võ công, nhưng khi về phòng lại không ngồi tĩnh toạ tập luyện nội công theo tâm pháp tối thượng mà vẫn tập mười mấy thế động tác điều kinh ích khí mà thôi. Khi học võ của Thu Hà, Tích Nhân thấy thương pháp chú trọng nhiều về chiêu thức vũ bão và sức mạnh ngoại công, không phải là võ công thượng thừa lơ là và nếu bị Thu Hà quở trách, hay có ý không vui vì sự lơ đễnh của mình thì Tích Nhân mới cố gắng sử dụng ngọn trường thương đúng theo ý của nàng và được ngay, làm Thu Hà rất vui thích.
Trong những ngày sống vui vẻ ấy, một hôm Tích Nhân được Thu Hà kể cho biết phụ thân Trần Kiệt, chồng nàng, là Trần Pha, lúc còn trai trẻ làm nghề đi buôn. Đem vải vóc, đồ sứ lên miền ngược bán, mua lông thú và thịt rừng khô đem về miền xuôi, quen thân với gia gia nàng. Lúc đã có tiền, Trần Pha mua ruộng đất mộ dân canh tác, đất cát chung quanh nhà hiện nay là của ông ta. Trần Pha lấy vợ, người vợ lớn sinh một trai là Trần Tấn. Khi Trần Tấn lên mười, Trần Pha tìm danh sư là thần quyền Nguyễn Sư Đề chỉ dạy. Vợ mất, Trần Pha tục huyền, người vợ kế sinh Trần Kiệt, lên mười tuổi Trần Kiệt cũng tỏ ra thích võ nghệ nên Trần Pha đem lên Hoàng gia trang ở chân núi Nhị Thanh bái phụ thân nàng làm sư phụ. Khi Trần Kiệt lên hai mươi lăm và nàng lên mười sáu, phụ thân nàng đã chọn nàng để gả cho Trần Kiệt. Ngày cưới chờ mãi không thấy cha mẹ Trần Kiệt lên tới, sợ lỡ giờ lành, phụ thân nàng đã cho cử hành hôn lễ. Họ tận hưởng được tình duyên chỉ được ba ngày, thì tin dữ bay đến. Cha mẹ Trần Kiệt trên đường đem sính lễ dự lễ cưới của con bị bọn cướp núi Cấm Sơn giết chết. Nghe tin đau xót Trần Kiệt đành phải gạt nước mắt, từ giã nàng theo chân người nô bộc Trần Tam trở về tìm xác cha mẹ.
Trước khi cha mẹ Trần Kiệt bị cướp giết, người anh cả là Trần Tấn cũng đã bị Quý Ly cho người sát hại vì trung thành với danh tướng Nguyễn Đa Phương, con trai của Nguyễn Sư Đề.
Sau khi an táng song thân, Trần Kiệt tìm bọn cướp trả thù. Thiết thương Trần Kiệt nổi tiếng giang hồ vì đã làm cho bọn cướp khiêng oai khiếp vía. Trong khi tìm đánh bọn cướp trả thù, Trần Kiệt đã gởi thư xin nàng chấp nhận cho hai vợ chồng không gặp nhau trong ba năm. Biết mình không phải Liễu Hạ Huệ thì phải tránh, gặp người vợ mới cưới xinh đẹp như nàng, anh ta khó có thể giữ được lễ đạo làm con lúc con tang cha mẹ. Nàng không muốn chấp nhận đề nghị của Trần Kiệt đi nữa thì cũng không biết đâu mà tìm. Vì đã mang phận con dâu, nàng cũng để tang cha mẹ chồng, và khi tang cha me chồng chưa mãn, thì nàng đã phải nhận tin đau đớn: Thiết thương Trần Kiệt đã bị giết ở Lạng Giang. Hung thủ không rõ là ai. Và, ba năm qua nàng đã phải từ vùng rừng núi xa xôi, về chỗ đồng cỏ lầy lội này để tang và hương khói cho gia đình chồng.
Khi kể những gì đã trải qua trong cuộc đời, Thu Hà não nuột:
- Hồng nhan bạc mệnh! Tỷ tỷ rất thương yêu Trần đại ca và Trần đại ca cũng vậy, nhưng chỉ vài ngày thật sự vợ chồng bên nhau, thì Trần đại ca đã ra người thiên cổ.
Tích Nhân an ủi:
- Tỷ tỷ hết lòng với Trần đại ca, linh hồn anh hẳn cũng rất an ủi. Đã mãn tang, tỷ tỷ nên lo nghĩ đến những ngày tháng còn lại của mình.
Thu Hà thở dài:
- Ở đây ta buồn thật, ba năm qua ta chưa được một lần cỡi ngựa đi săn, nhảy múa ca hát bên ngọn lửa hồng, nhưng cũng an ủi nghĩ rằng có Kiệt huynh bên ta. Ta định mùa xuân này trở về Nhị Thanh vài tháng rồi trở lại đây sống cho hết cuộc đời bên bàn thờ Kiệt huynh.
Tích Nhân nắm tay nàng cản ngăn một cách cương quyết:
- Không! Tỷ tỷ không thể làm vậy! Tỷ tỷ còn trẻ, chưa có con với Trần đại ca. Tỷ tỷ không thể chôn vùi cuộc đời ở một nơi mình không thích. Tiểu đệ.. Tiểu đệ không thể để tỷ tỷ sống trong sự buồn rầu như thế này!
Tích Nhân trở nên tha thiết:
- Tiểu đệ sẽ không rời xa tỷ tỷ! Lớn lên tiểu đệ sẽ săn sóc cho tỷ tỷ!
Sự thiết tha của hắn làm Thu Hà rùng mình, nhưng nàng cười:
- Lúc hiền đệ lớn lên ta đã thành bà già mất rồi.
- Không! Tỷ tỷ không già, mà có sao đi nữa thì tiểu đệ cũng vẫn thương yêu tỷ tỷ.
Thu Hà bẹo má hắn:
- Ông mãnh này! Con nít mà đã bạo gan bạo miệng!
Bị mắng cưng là con nít, nhưng Tích Nhân phật lòng, lớn tiếng:
- Tiểu đệ đã mười lăm tuổi!
Thu Hà cười ngặt nghẽo:
- Ừ! Hiền đệ đã là trang tu mi nam tử rồi đấy, một nam tử hán mười bốn, mười lăm tuổi!
Bị cười nhạo, Tích Nhân đỏ mặt, chạy về phòng, buổi chiều không chịu dậy ăn cơm, Thu Hà phải vào phòng năn nỉ:
- Nhân đệ tha lỗi cho tỷ tỷ. Ra ăn cơm, tỷ tỷ chờ hiền đệ đói lắm rồi.
Xây mặt vào vách, Tích Nhân dấm dẳng:
- Tiểu đệ không đói.
Thu Hà ngồi xuống giường, vuốt vai hắn:
- Nhân đệ giận tức bụng nên không đói! Hết giận sẽ đói ngay. Nào! Đừng giận tỷ tỷ nữa!
Tích Nhân xoay lại nắm chặt tay Thu Hà, thiết tha:
- Tỷ tỷ hứa đừng gọi tiểu đệ là con nít nữa và hứa từ nay để tiểu đệ suốt đời được sống bên tỷ tỷ!
Ánh mắt van lơn, chân thành và tha thiết của hắn làm Thu Hà rúng động, nàng sững sờ nhìn hắn, rồi ánh mắt của nàng trở nên thẫn thờ và nàng chợt gục lên người hắn khóc:
- Ta không biết! Ta không hiểu ta như thế nào nữa! Tại sao Nhân đệ đến đây với ta lại để Nhân đệ ở đây! Ta.. ta..
Thu Hà gục mặt lên người, ôm lấy mình, Tích Nhân nghe cả toàn thân rung động trong một cảm giác mới lạ chưa từng có, và như một người lớn, hắn ôm chặt lấy nàng:
- Tại vì tỷ tỷ và tiểu đệ mới thật sự có duyên nợ với nhau.
Hắn biết nói, hắn biết tận hưởng cái cảm giác mới lạ đang ôm một nữ nhân, một người mà hắn thấy không ai đẹp bằng, nụ cười ánh mắt của nàng làm hắn thẩn thờ, vắng nàng giây phút hắn thấy bồn chồn, nhưng hắn chẳng biết làm gì khác ngoài ôm thật chặt. Nằm trong cánh tay hắn một lúc, bị hắn ôm muốn nghẹt thở, Thu Hà cắn mạnh vào má hắn, chống tay ngồi lên, thẹn thùng:
- Oan gia! Chịu đi ăn cơm chưa?
Tích Nhân sờ má, luyến tiếc:
- Tiểu đệ muốn được ôm tỷ tỷ một lúc nữa...
Thu Hà đỏ mặt đứng dậy bỏ đi, Tích Nhân lẽo đẽo theo sau. Trong bữa cơm cả hai đều ngượng ngập, nhưng bốn mắt khi nhìn nhau lại chứa chan một tình cảm khác lạ, và buổi tối khi dạy Thu Hà viết chữ, lúc Tích Nhân nắm tay bàn tay trắng trẻo để giúp cho nét bút của nàng, bàn tay của hắn trở nên run run và Thu Hà cũng cảm thấy như điện giật, nhưng rồi hai bàn tay của họ lại nắm chặt nhau và hai thân hình cũng kéo lại bên nhau. Tuy nhiên, hai con chó ngoài sân bỗng sủa ran, và Thu Hà đẩy hắn ra:
- Để ta xem vì sao hai con đại hoàng và hắc hoàng bỗng dưng lại sủa như vậy?
Thu Hà mở cửa ra ngoài, Tích Nhân cảm thấy hụt hẫng, thẫn thờ tiếc nuối giây phút vừa qua.
Đang thẫn thờ tiếc nuối, nghe hai con chó, sau lời la mắng của Thu Hà lại sủa dữ dội hơn, rồi Thu Hà đi nhanh vào:
- Có người đến đây! Không hiểu họ là ai?
Thu Hà bước vào phòng hấp tấp dặn hắn:
- Nhân đệ vào phòng trốn xuống gầm giường, có gì đừng ra ngoài nguy hiểm. Chúng có tới sáu bảy người và đều là kẻ võ công, Nhân đệ ra ngoài ta không thể chiếu cố nổi.
Thu Hà từ phòng mình trở ra rút cây thiết thương bên cạnh bàn thờ Trần Kiệt, thì cánh cửa lớn bị đá tung ra. Tích Nhân được Thu Hà căn dặn, nhưng hắn đâu có thể trốn như nàng bảo, về phòng cũng vội cầm cây Đằng Tiên, bước ra.
Trước cửa dưới ánh sáng bốn cây đuốc do bốn đại hán lực lưỡng cầm giơ cao, là ba người trung niên mang kiếm, người đứng thấp lùn, mặt choắt, râu lơ thơ thấy Thu Hà cầm thiết thương chuẩn bị ứng chiến, bên cạnh nàng là Tích Nhân dù mặt còn con nít nhưng cũng cao lớn, liền cả cười:
- Hà! Hà! Nghe nói Bát tiểu thơ dung nhan tuyệt thế cũng rất phong hoa nay gặp mới biết. Hà! Trong lúc đến nhà chồng cũ thu huê lợi cũng đem trai tơ về nhà!
Tích Nhân tức giận quát:
- Lão là ai dám hỗn láo với tỷ tỷ ta!
Lão lùn lại cười:
- Ta chưa từng nghe lão Hoàng Mật có con trai bao giờ! Tỷ tỷ đệ đệ của các ngươi là thứ gì đây?
Thu Hà lên tiếng:
- Xin cho biết các hạ là ai? Thù oán gì với ta?
Lão lùn hừ lớn:
- Trần Kiệt đã giết hại nhiều anh em của ta, nó đã bị ta giết, nhưng ngươi cũng không thể sống.
Lão lại thở dài:
- Đêm nay thế nào ngươi cũng phải chết nên ta cũng cho biết tại sao ta tới đây để ngươi chết khỏi làm con ma hồ đồ. Mấy năm ngay ta cũng nể lão Hoàng Mật và biết ngươi cũng không tha thiết gì việc trả thù cho Trần Kiệt nên để ngươi sống yên ổn. Tuy nhiên, vợ chồng lão Tam đã lặn lội đi tìm ta, nhờ ta giết ngươi. Lão Tam biết ngươi cũng chẳng chung tình gì với chủ nhân của lão, nhưng mỗi năm ngươi thu tất cả huê lợi và cũng chẳng có ân huệ gì đặc biệt cho lão. Ngươi chết, nhà Trần Kiệt không còn ai là con cháu thừa hưởng, Trần Tam thoát cái nợ đời là ngươi và có thể chiếm hết ruộng đất, rồi mỗi năm đóng góp cho ta, nên ta đành phải mắc tội với lão Hoang Mật.
Thu Hà nhìn lão lùn, mặt chợt biến sắc:
- Lão là thiên thủ kiếm Đinh Hưng! Các ngươi là Thiên Thủ tam kiếm.
Lão lùn cổ cười đắc ý:
- Con bé nhà ngươi nhãn quan cũng khá lắm! Đã biết chúng ta là ai, thì cũng nên tự xử để ta khỏi phải ra tay!
Thu Hà biết mình không phải là đối thủ của Thiên Thủ tam kiếm, liền bất ngờ đá vào cánh cửa rồi kéo tay Tích Nhân chạy vào phòng mình, nàng rút một gói vải nhỏ dưới gối rồi kéo Tích Nhân chạy ra nhà sau vừa hối thúc:
- Nhân đệ băng qua vườn vạch tre chạy trước đi, không đi nhanh sẽ chết uổng mạng.
Tích Nhân lắc đầu, cương quyết:
- Sống cùng sống, chết cùng chết. Tiểu đệ nhất quyết không rời xa tỷ tỷ.
Trong giây phút nguy hiểm, lời nói của Tích Nhân làm Thu Hà cảm động nắm chặt tay hắn. Bọn Đinh Hưng cả cười:
- Trước khi chết bát tiểu thư lại có được thêm một tiểu tử chung tình.
Thu Hà và Tích Nhân ra tới sân thì vách nhà bị người xô ngã xuống và ba anh em Đinh Hưng đã chia nhau ba góc bao vây họ. Bốn gã cầm đuốc cũng nhanh nhẹn chạy ra. Thấy không còn đường chạy, Thu Hà chưa biết phải làm sao, thì Tích Nhân gỡ tay nàng, quơ cây gậy bước lên, cả cười:
- Ba lão họ Đinh kia! Các ngươi tưởng với ba mươi sáu thế thiên thủ kiếm của các ngươi, muốn giết ai thì giết được hay sao?
Bốn tên cầm đuốc khi băng vào nhà đã châm lửa đốt nhà. Lửa trong nhà, bốn bó đuốc làm cho cả sân sau sáng như ban ngày, nghe Tích Nhân cười nói, lão Đinh Hưng mới thật sự chú ý đến hắn rồi đôi mắt bị thu hút vào cây gậy mây đen thui, ngắn ngủn trong tay hắn. Cây gậy mây làm mắt lão như bị thôi miên, tiếng nói chợt trở nên e dè:
- Ngươi là ai? Tại sao lại...
Tích Nhân:
- Ta hiện là chủ nhân của cây hắc Đằng Tiên này! Trước đây các ngươi đã được sư phụ ta tha chết một lần, hứa ăn năn hối cải. Thế nhưng hôm nay lại đốt nhà giết người là cớ làm sao?
Lão nhị của Thiên Thủ tam kiếm là Đinh Khai âm trầm:
- Dù mi là chủ nhân hắc Đằng Tiên đi nữa, nhưng chỉ là một cậu bé miệng còn hôi sữa thì đã làm gì được ai!
Trong ánh sáng nhà cháy và đuốc soi, Tích Nhân bước tới lão Đinh Khai, bước chân rất nhẹ nhàng, thân pháp cũng không phải nhanh như sao sa chớp giật, nhưng lão Đinh Khai bị hắn đánh ngay vào má một tát tai, rồi trở về chổ cũ mà lão không thể tránh né.
Đánh Đinh Khai xong, Tích Nhân nghiêm giọng:
- Hắc Đằng Tiên trong tay ai người ấy là chưởng môn Đằng Tiên phái. Ta cũng như sư phụ ta, không bao giờ muốn giết người. Các ngươi đi đi, từ nay ăn năn hối cải hay là buộc ta phải ra tay phế bỏ võ công. Hai đường tùy các ngươi quyết định. Vừa rồi nếu ta không tát vào mặt ngươi mà khả kình lực lên huyệt bách hội ngươi có thể tránh được không?
Thân thủ thần kỳ của hắn làm cho bọn Đinh Hưng hoảng sợ. Đinh Hưng cũng thấy hắn còn trẻ nghĩ công lực không bao nhiêu, nhưng mắt thấy thân thủ kỳ dị, sợ nếu mạo hiểm mà Tích Nhân là người có công lực thật sự thì mình bị phế bỏ võ công, sống không bằng chết, mạo hiểm như vậy cũng chẳng lợi gì, nên nhân hắn nói, ben cung tay:
- Đã từng được Đằng Tiên lão nhân gia tha mạng, không biết tiểu hiệp là ai, nhưng có hắc Đằng Tiên trong tay, thì Thiên Thủ tam kiếm nay chẳng dám không tuân.
Đinh Hưng khoát tay, phi thân qua nóc nhà đang bắt đầu bốc lửa. Hai anh em lão cũng phi thân theo anh, còn bốn tên tráng hán cầm đuốc vội băng vườn chạy đi.
Có lẽ là một góa phụ còn quá trẻ, lúc gặp gỡ Tích Nhân, Thu Hà đã phải trải qua giây phút thật ngượng ngập. Nàng đã cầm giữ hắn ở lại, và sau đó những cử chỉ vô tình của hắn, thân mật giữa nàng và hắn đã đánh thức làn da thớ thịt của nàng, làm nàng trải qua những giây phút thẫn thờ. Sống trong thời đại người con gái mười hai mười ba có thể bị gả lấy chồng rồi về nhà phải bế chồng đi chơi cũng làm Thu Hà thấy giữa hắn và nàng cũng chẳng có gì ngăn cách vì tuổi tác và nhất là nàng biết, dù Tích Nhân còn bé nhưng chỉ trong vài năm nữa, hắn sẽ là một thanh niên mả cả bản, cả châu của nàng chẳng ai có thể có dung mạo bì sánh kịp nên khi nhìn thấy sự chí tình của hắn, tha thiết của hắn nàng đã rung động thật sự, đã ngã vào vòng tay của hắn và thầm xây lâu đài hạnh phúc cho ngày mai, trong vài năm tới.
Thiên Thủ tam kiếm lừng danh giang hồ, ngay phụ thân nàng là Thần thương Hoàng Mật cũng chưa dám đối đầu, thế mà người yêu bé nhỏ, nàng yên trí chẳng biết võ công lại có thể tát vào mặt dễ dàng như tát đứa trẻ, mắng cho ít câu thì mất hồn chạy đi ngay, như vậy võ công của Tích Nhân trên đời nay có ai bằng? Nghĩ như vậy, Thu Hà tưởng như cao xanh đã thương nghĩ đến mình, đem người cao thủ tuyệt thế này đến cho mình. Tuy nhiên, nghĩ lại nàng liền trở nên tức giận và thẳng tay tát Tích Nhân:
- Ngươi là tên dối gạt!
Cái tát với tất cả sự tức giận của nàng làm Tích Nhân liểng xiểng, hắn gượng đứng lại được, thấy Thu Hà phóng đi liền chạy theo.
Từ ngôi nhà đơn độc như cù lao của Thu Hà đến xóm chỉ có một con đường duy nhất, vừa nhỏ hẹp, vừa hang ổ, Thu Hà võ công không cao, nhưng là người có tập luyện võ công nên nàng chạy như bay, còn Tích Nhân thì thật sự chỉ tập cái vỏ bề ngoài vài chiêu tuyệt thế để phòng thân lúc nguy cấp, nên trong đêm tối, hắn té lên, té xuống không biết mấy lần và khi hắn bị té nhào xuống đám ruộng sâu, ướt hết mình mẩy, trèo được lên bờ thì không còn thấy Thu Hà nữa.
Biết không còn đuổi kịp nàng, Tích Nhân ngồi bệt xuống bên đường, nghĩ đến ân tình của Thu Hà trong những ngày qua, hắn càng lúc càng thấy đau khổ, nghẹn ngào:
- Hà tỷ tỷ sao nàng lại bỏ đi! Gặp được tỷ tỷ tiểu đệ thấy mình vô cùng may mắn, nhưng mong được từ nay sống mãi cùng tỷ tỷ, bầu bạn mãi mãi bên nhau. Thế nhưng.. Tỷ tỷ bỏ đi, tiểu đệ không màng trở lại cảnh đời côi cút, nhưng rồi từ nay, nỗi nhớ nhung đối với tỷ tỷ làm sao nguôi được!
Khi bọn tam kiếm đến đốt nhà Thu Hà đêm cũng đã khuya, nhưng trên xóm vẫn còn vài người lớn tuổi nhìn thấy ngọn lửa, họ hô hoán, kêu gọi trai tráng thức dậy mang thùng gàu đi chữa cháy. Thu Hà chạy lên phía xóm, người trong xóm rủ nhau đi chữa lữa chạy xuống nhà nàng và khi đôi mắt cũng nhạt nhoà dòng lệ tủi tức của Thu Hà nhìn thấy phía trước có người, tưởng bon tam kiếm liền quay ngược lại. Trở lại con đường cũ thấy Tích Nhân ngồi than thở, thốt ra bao giờ lời thương nhớ đối với mình, Thu Hà mủi lòng bật khóc thành tiếng, nhào tới ôm hắn:
- Nhân đệ!
Thu Hà khóc vì cảm động, thì Tích Nhân mừng vui ôm chặt lấy nàng:
- Tỷ tỷ đã trở lại! Tỷ tỷ không bỏ tiểu đệ nữa. Tỷ tỷ hãy hứa từ nay đừng xa tiểu đệ nữa.
Thu Hà siết chặt hắn:
- Vâng! Từ nay chúng ta không bao giờ xa nhau, rời nhau nửa bước. Chết sống có nhau.
Nhưng rồi, nghe bước chân đến gần nàng kéo hắn lên:
- Chạy! Chạy mau lên bọn chúng tới rồi kìa.
Trước nhà nàng có hai con đường một con đường lớn lên xóm, ra chợ, một con đường đến những cái gò cao phía bờ sông. Con đường này rất nhỏ, nên tới đây thì Thu Hà đẩy hắn lên trước. Tích Nhân lại sợ nàng ở lại nên không chạy.
Thu Hà thúc hối:
- Chạy nhanh lên!
Sự giằng co ở ngã ba này cho Tích Nhân cơ hội, nhìn thấy số người từ phía xóm chạy tới, có đèn đuốc và rất đông. Hắn nắm tay Thu Hà chỉ:
- Không phải bọn tam kiếm đâu, dân làng đấy!
Thu Hà thấy dân làng, đưa tay lên ngực:
- Tỷ tỷ chẳng còn hồn phách gì, thấy người đã sợ.
Người dân trong xóm chạy tới không ai bảo ai, thi nhau múc nước dập lửa. Mùa đông khi trời lạnh lẽo, hay mưa gió, mọi thứ đều ẩm ướt nên ngọn lửa không lan nhanh. Tuy nhiên thôn dân chạy tới cũng chỉ có thể giữ được căn nhà tranh cho Thu Hà, còn căn nhà ngói to rộng thì đã bị thiêu sập cả. Ngọn lửa đã hoàn toàn bị dập tắt, thôn dân kéo tới Thu Hà, một ông lão lên tiếng:
- Xin lỗi phu nhân, chúng tôi đến hơi trể thành ra căn từ đường.
Thu Hà nhanh nhảu:
- Quý bác đã không nề nguy hiểm đến cứu, còn giữ được căn nhà dưới là may mắn lắm rồi.
Một người lên tiếng:
- Tại sao nhà cháy vậy, thưa phu nhân?
Thu Hà thở dài:
- Bọn cướp muốn đến giết ta đã đốt.
Nghe nói đến cướp, đánh người nông dân tỏ ra sợ hãi. Thu Hà trấn an:
- Phu quân ta đã đánh giết bọn cướp của giết người từ kinh thành cho tới biên giới, hôm nay bọn chúng tìm đến ta trả thù, nhưng chúng chẳng làm gì được ta, đã bị đuổi chạy thì chẳng dám đến nữa đâu.
Một cụ già:
- Nghe nói phu nhân xuất thân từ gia đình võ nghệ tuyệt luân. Có phu nhân ở đây chúng tôi cũng được che chở.
Thu Hà cười:
- Võ nghệ ta chẳng che chở được ai đâu, nhưng quý hương thân không phải lo. Bọn cướp này không phải tầm thường, chúng sẽ không làm hại những người tay lấm chân bùn, chỉ mong ăn được no, mặc được ấm như quý bà con đâu. Chúng tới chỉ vì ta, nay mai ta rời khỏi chỗ này, thì chúng chẳng bao giờ để ý nơi này nữa.
- Phu nhân đi đâu? Nghe nói phu nhân sẽ suốt đời thủ tiết và định ở đây suốt đời kia mà!
Trước kia khác, nay khác. Bọn cướp không để yên cho ta, thì ta phải về Khâu Ôn để nương tựa với gia đình. Nhà ta đông người ai cũng có võ nghệ có thể che chở cho ta một thời gian.
Thôn dân nghe nàng nói chí lý, không hỏi thêm nữa. Bọn Thiên Thủ tam kiếm vì đinh ninh nàng thế nào cũng bị giết nên đã cho biết vợ chồng lão nô bộc Trần Tam đã năn nỉ chúng ra tay, hòng chiếm hết tài sản, nên lúc này Thu Hà liền nảy ra ý nghĩ và nói với thôn dân:
- Bắt đầu ngày mai quý vị ở nhà vài ngày, không ai được đi vào đầm hay xuống ruộng. Ai ở xa thì người nhà mau đi kêu về. Trong vài bữa nữa ta phải đi về Khâu Ôn. Trước khi đi, ta muốn giảm tiền thuê tất cả đất đai của gia đình ta lại cho các ngươi. Tất cả những bằng khoán thuê canh ta sẽ thu lại, rồi chiếu theo đó ta sẽ viết giấy tờ theo điều kiện mới. Ta và phu quân ta không con không cái nên ta nghĩ cần để cho các ngươi được no đủ hơn, tích đức về sau.
Nghe Thu Hà tuyên bố, thôn dân không tin ở tai mình, họ há hốc mồm kinh ngạc. Thu Hà phân công:
- Bác Tấn, bác Cựu, bác Hoài... những bác lớn tuổi, hiểu rõ tình trạng tốt xấu của ruộng đất họ Trần xóm Đầm này, bắt đầu ngày mai giúp ta ý kiến trong việc phân phối lại ruộng đất. Bây giờ về xóm, các bác phân công cho người sáng mai ra chợ mua giấy, bút, thức ăn, rượu ngon về cho ta.
Nàng lấy trong người ra vài tờ bạc giấy con rồng đưa cho một cụ già:
- Bác Năm Tấn giữ giùm việc phân công này cho ta.
Ông già tên Tấn run run:
- Nếu phu nhân đã quyết định ban ơn trời biển cho mọi người, thì chút nhỏ mọn này phu nhân đâu cần phải..
Thu Hà nhét tiền vào tay bác Tấn nói:
- Ta quyết định chỉ ở lại đây trong ba ngày. Ba ngày này mọi người sẽ bận rộn và vui chơi. Ngày mai những vị trai tráng đến đây chặt tre, cắt lá che một cái rạp lớn. Mấy con heo trong chuồng, tất cả gà vịt sẽ được xẻ thịt. Kho lúa, nếp xay giã cho mọi người cùng ăn và chia nhau đem về nhà. Trong khi đó chúng ta cùng tính toán chia ruộng đất cho được công bằng, rồi mời xã quan đến đây thị chứng.
Đám nông dân nghe nàng nói chẳng dám phát biểu lời nào. Thu Hà lại nói:
- Con đại hoàng và đại hắc rất trung thành với ta bị cướp giết chết. Ta muốn nhờ vài người trong các ngươi đem ra ngoài vườn chôn cất giùm rồi giải tán, ngày mai chia nhau làm việc.
Hai trong số nông dân còn trẻ đưa mắt cho nhau rồi nhanh nhẹn kéo hai con chó ra sau vườn. Một cụ lão giọng cảm xúc:
- Ơn đức của phu nhân thật là trời bể. Nhà bị cháy, không biết đêm nay phu nhân có màn chiếu gì không để chúng tôi lo liệu.
Thu Hà:
- Căn nhà dưới chưa cháy, vợ chồng lão Tam không có ở đây, và lão cũng chẳng bao giờ trở lại nữa nên ta có thể dùng tạm trong thời gian mấy ngày còn lại, quý vị không phải lo cho ta.
Thu Hà kéo tay Tích Nhân đứng ra:
- Trước khi mọi người về xóm, ta muốn giới thiệu đến quý vị người hiền đệ của ta. Nhờ Tích Nhân hiền đệ tiếp tay mà đêm nay chị em ta mới đuổi được bọn cướp. Ngày mai hiền đệ của ta sẽ lo viết tất cả giấy tờ thay đổi điều kiện thuê canh cho các ngươi.
Tích Nhân vòng tay:
- Xin Kính chào chư vị.
Thấy Tích Nhân lúc này mập mạp ra, thân hình trở nên cao lớn nhưng khuôn mặt vẫn còn non choẹt nên không ai có ý nghĩ nghi ngờ gì, đều tin tưởng là em của Thu Hà, và cùng cung kính:
- Xin chào công tử.
Thu Hà:
- Đã khuya lắm rồi, bà con để lại ta một hai cây đèn rồi về nhà ngơi nghỉ.
Khi mọi người đã đi hết, Thu Hà âu yếm xoa má Tích Nhân hỏi:
- Ta đánh Nhân đệ có đau không? Nãy giờ mặc áo quần ướt hẳn lạnh lắm! Chúng ta vào nhà.
Căn nhà tranh của nàng, một khúc là nhà bếp, một khúc là nơi ngủ của vợ chồng lão nô Trần Tam và nhà kho màn chiếu, áo quần. Thu Hà lấy màn chiếu vào phòng lão Trần Tam thay đổi. Trong phòng có một bộ ván nhưng chỉ một miếng qua nhỏ còn cái giường thì khá rộng. Miếng ván không có chiếu trải vừa, Thu Hà chỉ thay màn chiếu trên chiếc giường. Nàng đưa cho Tích Nhân một bộ đồ:
- Đây là đồ cũ của ta, Nhân đệ thay tạm, mặc áo quần ướt sẽ bệnh.
Nàng ôm màn chiếu của vợ chồng Trần Tam ra ngoài, Tích Nhân thay đồ. Khi Thu Hà trở lại, nàng nhìn hắn cười:
- Trông Nhân đệ mặc váy cũng giống như một c
hutructiensinh
HỒI THỨ BA

Biết Rõ Chân Tình

Buổi trưa hôm đó, ở khu vực ngã ba của hai đường quan lộ đi lên miền Bắc và Đông Bắc, một cặp nam nữ xuất hiện.
Cả hai ăn mặc đơn sơ, không mang hành lý. Người nữ tay cầm một cây trường thương, còn nam tay cầm một cây gậy ngắn. Vóc dáng cả hai tương tự nhau, nhưng người nam mặt mũi còn non choẹt, trong khi đó, người nữ có vẻ rất chững chạc. Khu vực này có nhiều mã trường, cũng có nhiều khách điếm, tửu quán, cửa hàng. Cặp nam nữ đã dừng chân giây lát có vẻ lưỡng lự trước cổng một vài khách điếm sang trọng, nhưng rồi cuối cùng họ vào khách điếm Bắc Hành, một khách điếm thuộc hạng trung bình. Chưởng quỹ có lẽ thấy họ ăn mặc đơn giản, áo quần cũ kỹ bước vào không thèm bước ra khỏi chỗ ngồi chào đón, nhưng khi người nữ đến trước chỗ ngồi của lão lên tiếng hỏi thuê phòng, lão nhìn người nữ nhíu mày rồi vội vã đứng đón đả:
- Kính chào Hoàng tiểu thư! Thất lễ! Thất lễ!...
Người con gái có vẻ ngạc nhiên:
- Sao ông lại biết ta?
Chưởng quỹ cung kính:
- Nữ nhân xinh đẹp ra đường dám mang thiết thương bên mình, có ai ngoài thập nhị tỷ muội của Hoàng gia trang kia chứ! Tiểu nhân ngồi ở khách điếm này trên mười năm, việc giang hồ cũng nghe qua chút ít, không đến nỗi thô lậu.
Ông ta như chợt nhớ ra chi tiết hơn:
- Tiểu nhân... chắc có lẽ tiểu thư là Trần phu nhân!
Thu Hà hơi khó chịu, nhưng phải gật đầu:
- Đúng là ta. Ta muốn mướn hai căn phòng cho đêm nay.
Và nàng cũng nói thêm:
- Hai phòng này phải ở kế nhau.
Chưởng quỹ xun xoe:
- Trân phu nhân đã dạy thì tiểu nhân phải sắp xếp ngay.
Sinh trưởng trong một gia đình võ học, hiểu nhiều việc giang hồ nên Thu Hà lấy ra một đồng bạc con Lân đưa cho chưởng quỹ:
- Khỏi cần phải thối lại.
Chưởng quỹ cầm tiền:
- Đa tạ phu nhân hậu ái... nhưng... nhưng.
- Chẳng lẽ không đủ hay sao?
- Thưa phu nhân, trước đây thì thật là hậu hỉ. Nếu phu nhân là người nhà quan thì tiểu nhân cũng chẳng dám hó hé. Nhưng ở chổ thân tình tiểu nhân không dám giấu giếm..
Chưởng quỹ nhỏ giọng:
- Đồng Thông Bảo hội sao chẳng ai muốn dùng, vì thế đối với quan quyền thì bá tánh nuốt lòng trao đổi theo giá cũ, mà trao đổi với nhau thì vật giá đã tự động tăng lên gấp hai gấp ba lần.
Thu Hà lấy thêm đồng nữa:
- Bấy lâu nay ta chẳng ra ngoài nên không biết gì cả. Chưởng quỹ coi lại đủ không?
- Đủ! Đủ lắm! Đa ta phu nhân...
Thu Hà nói:
- Lấy cho ta hai căn phòng tốt nhất, yên tĩnh nhất, bảo tiểu nhị mang cây thiết thương lên phòng trước, còn chúng ta đi mua sắm chiều tối sẽ về.
Thu Hà dựng cây thiết thương bên bàn chưởng quỹ rồi nắm tay Tích Nhân ra đi, cử chỉ quá thân mật của nàng đối với Tích Nhân làm lão chưởng quỹ nhìn theo hơi cau mày, như lấy làm lạ lùng.
Thu Hà ngoài mua sắm áo quần cho nàng và cho Tích Nhân, còn mua quà tặng cho cha, mấy bà mẹ, mười mấy người chị em, anh em rể, người thân, sư huynh, sư đệ... Tích Nhân và nàng mang không xuể, phải thuê một người vác hộ. Họ ghé chỗ này, đến chỗ kia để mua sắm mãi đến chiều tối mới về tới khách điếm. Đưa đồ đạc vào phòng, Tích Nhân hỏi:
- Làm sao chúng ta mang đi cho hết?
Thu Hà:
- Mấy năm mới trở về nhà chẳng lẽ không có quà gì biếu mọi người... Làm cho Nhân đệ phải đi cả buổi, ta thật áy náy.
- Ồ! Tiểu đệ được đi với tỷ tỷ nhìn ngắm đồ đạc rất là vui thích. Chỉ không hiểu làm sao hai ta mang đi cho hết mà thôi!
- Ngày mai chúng ta mua hai con ngựa. Mỗi con mang theo một nửa là xong ngay!
- Tiểu đệ chưa biết cỡi ngựa.
Ồ! Như vậy thì chúng ta phải ở lại đây mười ngày, nửa tháng, tập cho Nhân đệ cỡi ngựa thành thục rồi mới khởi hành.
Tích Nhân:
- Hai ta cỡi chung một con, một con mang quà tặng có được không?
- Hai người chung một con ngựa chỉ trong trường hợp nguy cấp mà thôi. Mỗi con ngựa chỉ gắn được một chiếc yên. Hơn nữa... không quen cỡi ngựa không thể đi đường trường và dù sao ngồi chung một ngựa cũng sẽ làm cho người ta chú ý.
- Như vậy thì phải làm phiền tỷ tỷ.
Thu Hà lấy bộ võ phục mới đưa cho Tích Nhân:
- Nhân đệ đi tắm rửa thay đồ rồi hai ta đi ăn tối. Ở đây cũng xa kinh thành, nhưng cũng còn đậm đà hương vị kinh thành chúng ta phải tận hưởng.
Khách điếm thưa khách, nhưng Tích Nhân đến khu nam nhân cũng phải chờ một lúc mới có chỗ cho mình tắm rửa. Khi trở về phòng, mặc bộ võ phục Thu Hà mua cho, soi lên gương đồng thấy mình như lớn và oai phong hẳn ra. Khi qua phòng Thu Hà thấy nàng đã gọn ghẽ trong bộ võ phục, áo lụa trắng, quần lụa đen, thắt lưng gấm đỏ, đầu bịt khăn lụa đen làm nổi bật những đường nét thân thể và khuôn mặt trắng hồng của nàng, trông xinh đẹp vô cùng. Thấy hắn nhìn mình không chớp mắt, Thu Hà cười:
- Nhân đệ thấy ta thế nào?
Tích Nhân ngồi xuống giường:
- Tiểu đệ bây giờ chẳng muốn đi ăn chút nào!
- Sao vậy? Nhân đệ đi cả ngày thấy mỏi mệt?
Tích Nhân mỉm cười:
- Tiểu đệ chỉ muốn ngồi đây ngắm Hà tỷ.
Thu Hà bĩu môi:
- Ta nghe Nhân đệ đang sôi bụng!
- Trước đây mấy giây thì đói, nhưng bây giờ tỷ tỷ đây sẽ thấy tiểu đệ đã no nê.
Thu Hà bước lại gần, bẹo má hắn:
- Nhân đệ đã biết nói chuyện với nữ nhân rồi đấy! Từ nay tỷ tỷ phải để ý đến Nhân đệ hơn.
Tích Nhân kéo nàng xuống ôm lấy:
- Tỷ tỷ càng để ý thì càng thấy trong lòng trong tim tiểu đệ chỉ có người tỷ tỷ hoa nhường nguyệt thẹn này.
Thu Hà hôn nhẹ hắn:
- Miệng lưỡi Nhân đệ làm ta vui thích, nhưng.
- Nhưng cái gì?
Thu Hà nheo mắt:
- Nhưng cũng bắt đầu lo lắng vì coi bộ Nhân đệ đã biết ghẹo nguyệt trêu hoa.
Tích Nhân hôn lên đôi mắt nàng:
- Biết gì đi nữa, cũng chỉ biết có mình tỷ tỷ, phu nhân của ta.
Đôi mắt hắn si đắm nhìn xuống Thu Hà làm nàng phải nhắm mắt lại, vùi đầu lên cổ hắn trốn tránh, nhưng khi nàng được kéo nằm xuống giường liền chống tay ngồi dậy, véo vào cánh tay hắn:
- Hư! Đi ăn kẻo khuya mất!
Nàng đi ra cửa, Tích Nhân lấy tay chà chỗ véo cho bớt đau, hít một hơi chân khí lấy lại sự thanh thản rồi ra theo. Cách khách điếm Bắc Hành vài trăm trượng là tửu quán Lạc Phúc. Đây là một tửu quán mà chủ nhân mở ra nhằm thu hút những khách thương giàu có hay thế gia vọng tộc, công tử quyền quý từ các vùng phía Bắc đến kinh đô Thăng Long mà bấy giờ đang được gọi là Đông đô. Nằm trong một khu vườn rộng cây cao bóng cả nhưng không um tùm, quán cất trên nền đá, vách gỗ chạm trổ công phu, bên trên lợp, ngói âm dương tạo cho quán xứng đáng là một nơi vừa sang trọng, vừa trang nhã. Đặc biệt trong những ngày lạnh lẽo các cánh cửa đều đóng kín như hôm nay, thì trong quán thắp toàn đèn sáp ong, chủ quán đốt lửa trên một chiếc vạc sành to giữa nhà, ngọn lửa nhẹ nhàng toả ra mùi thơm thoang thoảng. Mỗi năm chủ quán đã nhờ những người ở miền núi cao tải đến cho mình hàng xe lõi cây thông để làm củi. Ngoài lõi cây thông để phía dưới, bên trên là cây hay rễ mẫu đơn, nhờ khung cảnh, nhờ cách đốt lửa này, hay rượu Xương bồ đặc chế có thơm mùi hoa, những đĩa dồi, những đĩa thịt cầy, thịt dê, thịt nai thơm phức mà quán Lạc Phúc còn lôi cuốn nhiều thi nhân, nho sinh, quan chức từ kinh thành, đi đò lại lội tìm sang để thưởng thức.
Thu Hà và Tích Nhân hôm nay đều ăn vận gấm vóc, gái trông hoa nhường nguyệt thẹn, trai đúng là thiếu niên tài tuấn anh hùng nên bước vào quán cũng được đón tiếp niềm nở. Tuy nhiên, vì chỉ có hai người nên tiểu bảo phải mời họ đến một chiếc bàn nhỏ ở trong góc.
Tích Nhân tưởng Thu Hà sành sỏi quán xá và ăn uống lắm, nhưng khi ngồi xuống bàn hắn thấy nàng cũng có vẻ lạc lõng trong không khí của quán Lạc Phúc, khi tiểu bảo hỏi: ''Tiểu thư và công tử muốn uống rượu thứ nào, dùng sơn trân hay hải vị để tiểu nhân chuẩn bị.'' thì Thu Hà ngập ngừng, chẳng biết trả lời như thế nào, phải đưa mắt nhìn Tích Nhân. Là một thiếu niên phải sống đời ăn xin, suýt chết đói, nhưng cả năm chỉ lê la quanh quán Tư Bụng cũng lại là một tửu quán nổi tiếng và nghĩ rằng Thu Hà sống ở vùng núi non, chắc chắn thích thịt rừng hơn cá sông, cá biển nên Tích Nhân chững chạc:
- Có Nữ nhi hồng?
Tiểu bảo mồm mép:
- Nằm trên đường vào kinh, chủ nhân lại quen biết lớn, nên Nữ nhi hồng của chủ quán không bao giờ thiếu. Năm qua có phái bộ nhà Minh ghé vào đã khen Nữ nhi hồng của bản quán còn ngon hơn ở bên nước họ. Tuy nhiên, đa số thực khách đến đây đều muốn uống rượu Lạc Phúc, nhất là những ngày đông lạnh lẽo như thế này.
Tích Nhân chững chạc:
- Vậy thì cho ta một cân Lạc Phúc hâm nóng, một ít khô nai khai vị và sau đó chúng ta muốn dùng thịt rừng. Chỉ có hai chị em nên nhà ngươi nấu cho chúng ta ba món từng được coi là đắc ý nhất của Lạc Phúc mà thôi.
Tích Nhân lấy một tờ bạc vẽ mây, phù vân thông bảo cho tiểu bảo:
- Nhà ngươi lo chu đáo ta sẽ thưởng thêm.
Thời bấy giờ, tờ bạc vẽ mây có giá 1 tiền, mà ba chục quan tiền có thể mua một mẫu ruộng tốt, nên Tích Nhân cho tiểu bảo như vậy là rất hậu hĩ.
Mới chào hỏi đã được thưởng, nên tiểu bảo hết lòng phục dịch. Rượu ngon, thịt ngon, không khí ấm cúng đã làm cho cả hai cảm thấy càng uống càng ngon miệng, càng nồng ánh mắt cho nhau và khi trả tiền ra cửa người ta đã thấy bước chân của họ xiêu quẹo, ra ngoài sân họ dựa vào nhau, nắm tay nhau bước đi ngã tới ngã lui. Thực khách đến quán Lạc Phúc ra về trong lạc thú men say là chuyên thường tình, thế nhưng khi Thu Hà và Tích Nhân đứng lên ra quán, đã có một người khách, một người khách ngồi đơn độc ở phía góc ngoài đã chú ý nhìn theo họ không chớp mắt và sau đó cũng trả tiền rồi đứng lên đi ngay.
Rượu đã làm cho con người mất hết sáng suốt, khả năng đề phòng khi biết Tích Nhân bị bệnh, Thu Hà đã quyết tâm phải chữa trị cho người yêu, và Tích Nhân cũng không phải là phường háo sắc nên có nằm chung với nhau đi nữa họ chỉ âu yếm nhau giây lát rồi mạnh ai náy ngủ. Hôm nay, họ mướn hai phòng để ngủ riêng, thế nhưng khi nắm tay nhau về đến phong của Thu Hà, Tích Nhân đã ngã xuống bên nàng, hai thân hình ôm chầm lấy nhau. Cậu thiếu niên Tích Nhân không còn tâm trí nào nghĩ đến những lời mẹ dăn, đến sống chết của chứng bệnh bẩm sinh, đến Thái Ất thần công phải giữ tấm thân đồng trinh mới có thể luyện thành, hắn chỉ còn biết cảm giác mê ly trong bàn tay bấu xé, thân hình hừng hực của Thu Hà. Còn nàng hình như cũng cảm thấy đêm đông mà người quá nóng nực, khuyến khích đưa đẩy bàn tay của hắn... Cả hai không còn chút gì để áy náy, để tự chế như đã hứa với nhau mà chỉ còn làm theo tính năng con người.
Nửa khuya hôm đó Thu Hà sụt sùi tự trách, Tích Nhân an ủi nàng, nhưng tự trong thâm tâm cũng tự trách chính mình, cảm thấy mình là người con bất hiếu. Hắn an ủi cho Thu Hà ngưng tiếng khóc tự trách của nàng, nhưng trong lòng hắn cũng tự khóc thầm.
Cả hai cùng tự trách, nhưng cả hai cùng thấy rằng, đã như vậy thì đến đâu hay đến đó, và khi Thu Hà ôm hắn tỉ tê: ''Tỷ tỷ hy vọng ta sẽ có một đứa con với Nhân đệ...'' Nàng không muốn nói thêm lỡ Nhân đệ có bề gì, ta cũng còn một đứa con, thì Tích Nhân cũng chỉ còn nghĩ hãy tận hưởng hạnh phúc với người yêu.
Sáng hôm sau, mặt trời lên cao họ mới uể oải thức giấc. Và gần đến trưa họ mới đưa nhau ra khỏi phòng. Sau khi Thu Hà báo cho chưởng quỹ biết mình phải ở lại trong mười hôm nữa và trả tiền thì họ đi ăn trưa ở quán Lạc Phúc, lần này họ chỉ dùng mỗi người một chén rượu. Sau đó đến mã trường Gia Viễn mua hai con ngựa tốt và Thu Hà đưa Tích Nhân đến khoảng đất trống của mã trường dạy cỡi ngựa. Tích Nhân ngạc nhiên tại sao chỉ cỡi ngựa mà phải ở lại mười ngày, nhưng khi thấy điều khiển ngựa thì không khó, mà đôi mông của mình ê ẩm như thế nào sau mấy giờ trên yên ngựa mới thấy thời gian mà Thu Hà đưa ra không phải là quá nhiều. Tối ấy, đôi mông ê ẩm của Tích Nhân được bàn tay êm ái của Thu Hà thoa bóp bằng thuốc rượu mà nàng phải đi mua ở một hàng bán thuốc.
Những ngày êm ả qua mau, Tích Nhân bấy giờ đã điều khiển ngựa thuần thục từ nước kiệu đến nước phi, biết cho ngựa phóng qua chướng ngại và ngừng ngựa kịp thời nếu trên đường đi có chướng ngại. Theo lời Thu Hà, đường lên phủ Lạng núi non hiểm trở, nhất là mùa đông càng nguy hiểm nên đã là kỵ mã thì phải hành nghề, nếu không sẽ tự mình chuốc hoạ.
Sáng hôm ấy gió vẫn lạnh, nhưng bầu trời không một chút mây đen, Thu Hà và Tích Nhân chất quà biếu lên lưng ngựa giã từ khách điếm Bắc Hành. Chưởng quỹ biết nàng là goá phụ, thấy Tích Nhân còn trẻ, cả hai xưng chị em, tỷ đệ, nhưng mướn hai phòng mà thực sự chỉ dùng có một, ông hiểu sự liên hệ của họ không phải chị em bình thường, chung chạ ra ngoài lễ giáo nên có chút coi thường trong lòng, nhưng mỗi ngày ông ta nhận được một số tiền hậu hĩ nên lúc nào cũng tỏ ra vồn vã và khi họ giã từ ông ta cũng hết lời cảm ơn, chúc cầu chúc thượng lộ bình an căn dặn khi nào trở về hãy đến khách điếm ông ta.
Trên đường đi có lúc lỏng buông tay khấu, hai ngựa kề vai, có lúc ra roi đuổi nhau, rồi dừng chân bên đường nghỉ ngơi ăn bánh uống nước. Đến những nơi có cảnh đẹp đưa nhau đi ngắm, như đến huyện lỵ Tiên Du nghe nói trên núi Lạn Kha có muôn thú đá, bàn cờ bằng đá, là nơi năm xưa Vương Chất, Từ Thức gặp tiên, họ ở lại một ngày đưa nhau đi dạo. Vừa đi vừa thưởng thức cảnh sắc non sông, vừa hưởng tình nồng ấm, cả hai đều thấy hành trình của họ thật không gì vui thú bằng và cũng không trông mong đi mau đến nơi đến chốn. Tuy nhiên, dù vui chơi như thế nào khi nào thấy trời về chiều Thu Hà cũng phải tìm một khách điếm ở nơi đông đảo hay có lính quan phòng trú ngụ. Theo lời giải thích của nàng như vậy mới an toàn. Đề phòng trộm cướp. Vừa đi vừa dung dăng dung dẻ như vậy, bốn ngày sau, lúc trời về chiều họ cũng đến thị trấn Xương Giang. Đây là một thị trấn lớn nhất ở khu vực miền Bắc lộ Kinh bắc.
Như thường lệ, họ ghé khách điếm sang trọng nhất ở đây là khách điếm Hòa Lạc. Trong khi cùng Thu Hà đứng chờ tiểu bảo mang hành lý vào trong cho mình, một cô gái từ trong khách điếm chạy ra mừng rỡ:
- Bát tỷ! Tiểu muội và các mọi người chờ Bát tỷ muốn rụng mắt!
Thu Hà cau mày hỏi nhanh:
- Gia gia đâu?
- Gia gia đã sang Trung Nguyên có việc. Nhận thư của Bát tỷ, Đại nương nương và đại tỷ phu đã phái tứ, ngũ, lục, thất tỷ phu, Lưu sư ca, Mã sư ca...
Tích Nhân thấy cô gái mừng rỡ đón Thu Hà khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, rất giống nàng, nhưng đôi mắt to tròn đen lay láy, má lún đồng tiền trông rất thơ ngây duyên dáng. Tích Nhân đoán cô gái là Vân Thao. Vân Thao thấy Thu Hà không mấy vui vẻ chú ý lời nói của mình dậm chân trách:
- Bát tỷ sao lại cứ cau mày với tiểu muội?
Thu Hà bấy giờ mới cười:
- Gặp thập muội ta mừng lắm, nhưng ta muốn gặp gia gia mà người không đến nên thất vọng!
Vân Thao bấy giờ nắm tay Thu Hà cười lại:
- Gặp lại Lưu sư ca không mừng sao?
Thu Hà vội giằng tay Vân Thao nói:
- Để ta giới thiệu Nhân đệ với Thao muội! Nhân đệ với ta ý hợp tâm đầu... Nên cũng có thể nói trượng phu của ta và là Bát tỷ phu của Thao muội.
Vân Thao nhìn Tích Nhân với ánh mắt ngạc nhiên, nàng thấy Tích Nhân nhỏ hơn chị mình quá nhiều, nhưng cũng thầm công nhận hắn là một thiếu niên anh tuấn...
Hình như có điều gì không mấy ổn thoả trong lòng, Vân Thao ấp úng:
- Chẳng lẽ như vậy sao bát tỷ?
Thu Hà lớn tiếng:
- Chuyện chung thân đại sự của ta chẳng lẽ đùa với ngươi. Vào thông báo với mọi người, ta và Nhân đệ sẽ vào sau.
Vân Thao chạy đi, Thu Hà nhìn Tích Nhân:
- Ta sợ đi vào vùng rừng núi sẽ gặp trộm cướp, hay bọn Đinh Hưng dò biết Nhân đệ không biết võ công chận đánh trả thù. Hơn nữa muốn cho gia gia ta biết sớm việc chung thân đại sự của ta nên mới có thư mời người đến đây...
Tích Nhân hơi tự hỏi tại sao Thu Hà nhờ người tiếp ứng mà hắn hoàn toàn không hay biết, nhưng nghe nàng nói thấy cũng không có gì quan trọng nên nói:
- Tiểu đệ nghĩ tỷ tỷ biết lo xa như vậy cũng tốt.
Nàng ngần ngừ giây lát:
- Lưu sư ca từ lâu để ý đến ta và gia gia ta cũng muốn sau khi mãn tang Kiệt huynh gả ta cho hắn, nhưng duyên trời đưa đẩy ta gặp Nhân đệ và chúng ta... dù chưa chính thức cũng nên nghĩa vợ chồng. Ta mong Nhân đệ không vì việc này mà khó chịu.
- Tiểu đệ đâu thể vì việc như vậy mà khó chịu, chỉ sợ Lưu sư ca của nàng khó chịu với ta mà thôi.
- Ta mong Nhân đệ hiểu ta là được, còn Lưu sư ca thì phải hiểu hoàn cảnh của mình.
Nàng chân thành:
- Thực sự nếu Nhân đệ không xuất hiện, thì ta cũng chưa hẳn chịu lấy Lưu sư ca vì lòng ta vẫn không thể quên Kiệt huynh. Ta đã định suốt đời ở vậy, nhưng gặp Nhân đệ thì ta chỉ còn biết Nhân đệ và tha thiết yêu Nhân đệ..
Tích Nhân nắm tay nàng:
- Tiểu đệ hiểu tình yêu của Hà tỷ, lòng tiểu đệ đối với Hà tỷ như thế nào nàng cũng rõ. Không điều gì có thể làm cho tình cảm của chúng ta sứt mẻ.
Thu Hà nắm chặt bàn tay của hắn:
- Có lời Nhân đệ ta như trút hết được lo lắng trong lòng.
Nàng thở dài:
- Những ngày qua, ta sợ về Hoàng gia trang có người nói này nói khác đến tai Nhân đệ, rồi xảy ra nghi ngờ, ghen tuông thì ta sẽ khốn khổ khôn cùng.
- Tiểu đệ thật lòng yêu tỷ tỷ và biết tỷ tỷ cũng vậy, nếu vì lời người này người kia làm vẩn đục tình cảm chúng ta, thì tiểu đệ đâu còn xứng đáng với lòng thương yêu của tỷ tỷ, và cũng đâu xứng đáng là một người quang minh lỗi lạc.
Thu Hà vui vẻ:
- Đa tạ... Phu quân. Chúng ta vào trong kẻo họ chờ đợi.
Vào khách điếm, Thu Hà và Tích Nhân được tiểu nhị dẫn đến một căn phòng rộng, nơi mà những thương buôn thường thuê để gặp gỡ trao đổi, hay những gia đình lớn, bang hội mượn để gặp mặt khi ở chung trong khách điếm. Vào phòng Thu Hà cung tay:
- Kính chào chư vị tỷ phu, Lưu sư ca, Mã sư ca.
Và quay lại một thanh niên cỡ hai mươi tuổi cười:
- Chào Nông sự điệt...
Trong phòng, quây quanh một chiếc bàn gỗ vuông, đầu bàn một người đàn ông vạm vỡ, độ bốn mươi tuổi, sắc mặt rắn rỏi, râu quai nón, đầu bịt khăn đen, áo da thú ngắn tay, đệ lộ hai cánh tay bấp thịt nổi cồn cộn. Bên trái, ba người đàn ông cũng mặc áo da thú ngắn tay đầu bịt khăn đen, một người má hóp, râu lưa thưa, một người mặt vuông, da ngăm, một người mặt đen có một vết sẹo dài trên má. Tuổi tác của họ độ bốn mươi, ba mươi lăm, ba mươi sáu. Bến hữu, ngoài cô bé Vân Thao, ba người cũng cách ăn mặc giống nhau, ba người độ ba mươi, một người độ hai lăm, hai sáu và người mà Thu Hà gọi là Nông sư đệ độ hai mươi tuổi. Theo cách ngồi trong phòng, tuổi tác và sự chào hỏi của Thu Hà, Tích Nhân thấy người Lưu sư ca của nàng tướng mạo thanh lịch, mặt trắng răng đen, mày rậm, nếu cặp mắt lớn hơn một chút thì đúng là một trang mỹ mạo. Người trong phòng nghe Thu Hà chào hỏi, nhưng hầu như tất cả mọi cặp mắt đều nhìn chăm chú vào Tích Nhân. Tích Nhân thấy người ngồi giữa cũng chú ý đến cây gậy trên tay mình. Biết họ là người của Thu Hà, Tích Nhân cũng vòng tay xá:
- Tiểu đệ là Tích Nhân tham kiến chư đại huynh.
Người ngồi chủ toạ, thấy hắn cung kính chào hỏi mới đứng lên:
- Chào tiểu hiệp! Đã là người thân của Bát muội, thì cũng là người nhà, xin mời ngồi..
Thu Hà nắm lấy tay Tích Nhân, dõng dạc:
- Theo gia pháp họ Hoàng nhà ta, góa phụ có thể tự chọn người mình thương mến để đi thêm bước nữa. Gia gia không có mặt ở đây để ta bẩm báo và xin người chấp nhận quyết định của ta, nhưng gặp Tứ, Ngũ, Lục, Thất tỷ phu và các sư ca, sư đệ đến đón hôm nay ta xin thông báo, Nhân đệ là người ta yêu thương và sẽ là trượng phu của ta.
Người con gái miền núi có tục nghĩ sao nói vậy. Đối với tình trai gái không rụt rè, e ấp nên không làm cho ai ngạc nhiên đối với thông báo của Thu Hà. Tuy nhiên nhiều cặp mắt đã vô tình hướng về người đàn ông ngồi bên hữu Tứ tỷ phu của nàng mà Tích Nhân đã nghĩ ngay là người sư ca họ Lưu. Tích Nhân thấy người này nghe Thu Hà thông báo, sắc mặt tái mét, đôi mắt nhìn Tích Nhân toé lửa, nhưng hắn lấy lại ngay sự bình tĩnh và cười khẩy:
- Theo quy luật của Hoàng gia thôn, nếu hai người đàn ông cùng yêu thích một người đàn bà họ phải được tỷ đấu với nhau để phân hơn kém.
hutructiensinh
Đến đoạn này thì bị thiếu!
hutructiensinh
Có lẽ vì có tâm cầu sống và có lẽ cũng đã có những ngày ăn uống thừa thải, sức khỏe hiện thay đổi nhiều, Tích Nhân tiếp tục mò mẫm, theo lòng suối mà đi. Khi trợt chân ngã quị chống tay ngồi dậy, khi sợ hãi vì tiếng hú của khỉ vượn, cọp kêu... hay tiếng chim bất chợt giật mình vỗ cánh, Tích Nhân ngồi thu mình giây lát rồi đi tiếp. Với Tích Nhân hiện giờ cọp, rắn rết, ma quỷ... đều không nguy hiểm bằng con người!
Khi tiếng chim buổi sáng bắt đầu trỗi những điệu nhạc du dương, và ánh sáng le lói xua tan màn đêm, Tích Nhân thấy mình đang ở trong một con suối, nước quá gối, lòng nước rộng hơn trượng, hai bờ đá thẳng đứng cao quá đầu, cây cối gai góc rậm rạp che phủ thành vòm bên trên nhìn lên không thấy bầu trời. Suốt đêm ngâm mình dưới nước, Tích Nhân muốn tìm một nơi khô ráo để nằm nghỉ, nhưng chẳng thấy nơi nào trống trải cả, đành men theo con suối đi tiếp.
Đi một lúc nữa Tích Nhân mới cảm thấy nước dưới chân âm ấm, và nhớ là suốt đêm chạy trốn có mệt mỏi sợ hãi, nhưng chỉ rét cóng lúc mới rớt xuống nước, còn bò lết đi được một lúc sau thì hầu như chẳng thấy lạnh lẽo nữa, thì ra dòng nước suối là dòng nước nóng. Dọc hai bờ suối gai góc, cây cối giăng mắt chằng chịt nên khi gặp một phiến đá bằng phẳng trong lòng suối, Tích Nhân bèn nằm lăn ra để nghỉ mệt. Có lẽ bây giờ cũng đã trưa, qua vòm cây lá bên trên Tích Nhân không nhìn rõ bầu trời xanh hay mù đục, nhưng có thể nhìn thấy ánh sáng dọi chiếu xuyên qua kẽ lá và khi thấy được ánh sáng, Tích Nhân cũng thấy trên những cành cây, tàn lá, có những con vật đang nhẹ nhàng trườn mình qua lại, có những con bám chặt trên thân cây, cuộn mình nằm yên. Những con vật mà Tích Nhân nằm ngửa nhìn lên thấy rõ là rắn, rất nhiều loại rắn...
Xà Khê! Tích Nhân nghe Bế Thiệu nhắc đến hai tiếng Xà Khê, hay khe rắn là một trong những vùng ác địa ở Đại Việt, ít ai dám héo lánh tới. Con đường từ Kinh thành lên trấn Lạng chỉ đi băng qua gần khu Xà Khê nhưng mỗi khi đi qua lại, từ thương buôn đến quân lính đều phải đi ban ngày và phải mang theo nào cây xun, cây ngải, hùng hoàng kỵ rắn để đề phòng bất trắc. Đi sâu vào Xà Khê chỉ hạng chuyên dùng độc nổi tiếng và những cao thủ thượng thừa trên giang hồ.
Thấy rắn khắp trên cây và nhớ hai tiếng Xà Khê, Tích Nhân vô cùng sợ hãi, nghĩ rằng cả đêm mình đã đi theo con suối mà không gặp rắn, thì cứ bò theo con suối, có dòng nước nóng ấm rắn sẽ không làm nguy hại, và phải thoát nhanh ra khỏi chỗ ác hại này. Tích Nhân lại rón rén bò xuống nước, rồi len lén, nhẹ nhàng lội theo dòng nước đi tiếp.
Cuối cùng Tích Nhân cũng ra khỏi dòng suối nhỏ hai bờ cây cao che phủ, đến một nơi quang đãng, một thung lũng nhỏ. Con suối đổ vào hồ nước độ vài mẫu giữa thung lũng đang bốc hơi như sương mù. Ra đến thung lũng Tích Nhân càng cảm thấy sợ hãi hơn vì khắp nơi, cây nhỏ có rắn nhỏ, cây lơn có rắn lớn và trên mặt đất cũng lúc nhúc rắn bò. Ôi! Có thể nói đây là một thung lũng rắn.
Tích Nhân không thể nào biết mình đã lọt vào xà động. Một nơi mà từ xưa đến nay chưa ai dám đặt chân vào. Khi thoát khỏi bao vải, sợ người đuổi bắt Tích Nhân lần mò theo khe suối mà đi. Vì đêm tối, tâm trạng nặng nề lo sợ và đau khổ, Tích Nhân mãi đi, không để ý, không nhìn thấy gì, nếu thấy càng đi xuôi theo dòng nước càng gặp nhiều rắn và khi dòng suối chảy vào một hang ngầm dài vài chục trượng và chung quanh miệng hang đu đầy những rắn thì dù có gan bằng trời cũng chẳng bao giờ dám đi tiếp và lọt vào xà động như bây giờ. Sở dĩ loài rắn trong Xà Khê không con nào ngăn trở hay làm hại Tích Nhân thứ nhất là vì người hắn đang mang đầy nọc độc của kiến. Nọc độc của kiến không giết Tích Nhân, nhưng làm cho người hắn sưng vù tiết ra mùi hôi của loài kiến quen thuộc trong khu vực Xà Khê. Ngoài cả người hắn không khác gì ổ kiến, vì mò theo lòng suối mà đi, rắn không nằm dưới nước nên Tích Nhân đã không đạp nhầm hay quơ trúng rắn, một điểm nữa là thông thường loài vật dù độc hại và hung dữ đến đâu chúng thì chúng cũng nằm yên và đó là trường hợp Tích Nhân. Tích Nhân bấy giờ chỉ sợ con người theo đuổi, hoàn toàn vô uý với rắn, cho nên loài rắn cũng chẳng buồn để ý đến hắn.
Khi Tích Nhân nhìn thấy và lo sợ, thì rắn trong động cũng hình như phát hiện có người xâm nhập vào lãnh thổ của chúng. Khe nước đi vào thung lũng hai bờ không còn cao nữa mà chỉ độ hơn thước nên khi rắn lần lần kéo tới, thì Tích Nhân chỉ có con đường duy nhất là chạy vào hồ, và nước trong hồ không đủ sức nóng làm phỏng người, nhưng khá nóng nên rắn chỉ kéo tới rồi nằm chung quanh, có con cất đầu, có con quẫy đuôi, nhưng không con nào lội xuống nước để tấn công Tích Nhân.
Vào hồ nước Tích Nhân thấy giữa hồ có một cù lao đá rộng độ vài trượng, trên cù lao có cây cỏ ra hoa màu đỏ và lá màu tím thẫm. Thấy chung quanh hồ rắn đầy dẫy nhưng chúng không bò xuống nước, Tích Nhân nghĩ rằng cù lao đá giữa hồ nước là nơi an toàn có thể ngồi hay nằm nghỉ ngơi.
Tích Nhân lội ra cù lao, nước trong hồ có chỗ sâu đến cổ, ra gần cù lao hơn, Tích Nhân thấy nước nóng hơn, nhưng cũng cạn dần và đến sát cù lao thì chỉ sâu đến bụng. Trèo lên cù lao, Tích Nhân thấy giữa ở giữa cồn đá lại có một giếng nước mấy thước chỉ có đá trắng không cây cỏ nào mọc được. Sờ lên đá Tích Nhân thấy rất nóng và nghĩ rằng nước trong ao nhỏ giữa cù lao cũng nóng nhiều so với nước trong hồ. Thấy gần mép cù lao có một miếng đá cao vài thước bề mặt bằng phẳng đủ một người nằm và mặt đá sờ lên chỉ âm ấm, Tích Nhân bèn trèo lên nằm nghỉ.
Trải qua bao nhọc nhằn, đau đớn và không giây phút chợp mắt, vừa nằm giây lát Tích Nhân đã ngủ vùi và khi giật mình thức giấc trời đã vào đêm. Sau một giấc ngủ say, Tích Nhân thấy người khoẻ khoắn, những nhức nhối ngứa ngáy vì kiến cắn trên da thịt chỉ còn cảm giác tê ngứa, nhưng bụng lại đói cồn cào. Nhìn vào trong rừng chung quanh thung lũng, chung quanh hồ nước Tích Nhân thấy cả rừng cây, bờ hồ, bờ cỏ muôn ngàn đốm ánh sáng nhấp nháy lóng lánh khi ẩn khi hiện trông đẹp tuyệt vời nhưng biết đó là mắt rắn. Khắp nơi đều rắn, hắn nghĩ nếu không thể thoát khỏi nơi này chỉ có cách ăn rắn mới sống được. Nhưng rắn bầy rắn lũ như thế làm sao có thể bắt được một con mà không nguy hiểm?
Đói quá, Tích Nhân mò bức một chiếc lá cỏ tím mọc ven cù lao, đưa lên miệng nhai thử thấy cay và đắng vô cùng, hắn vứt ngay chiếc lá nhưng đã thấy miệng rát bỏng biết ý nghĩ ăn lá cây đỡ đói nữa.
Tích Nhân thầm tính có lẽ hắn bị bắt, bị đem đi và trốn thoát đến giờ này đã hai ngày hai đêm. Tính ra thời gian, Tích Nhân càng cảm thấy đói hơn nữa, nhưng đành ngồi một nơi ôm bụng chịu đựng. Ngồi một lúc, Tích Nhân lại nghĩ đến cái ngủ. Ngủ có thể quên được đói, nhưng bụng đói cồn cào Tích Nhân lại không thể nào ngủ được và cứ phải ngồi lên rồi nằm xuống.
Cuối cùng Tích Nhân ngồi lên ôm bụng thở dài, và khi vô tình nhìn quẩn quanh, Tích Nhân chú ý bờ đá quanh chiếc giếng nhỏ phát ra một thứ ánh sáng lờ mờ và nước dưới giếng hình như gợn sóng phản chiếu ánh sáng nhấp nháy lên xuống, vòng vèo trông rất đẹp. Tò mò, Tích Nhân cởi áo quần cột hai bàn chân rón rén đến xem và thấy trong giếng có một con rắn trắng như tuyết dài hơn thước, to bằng ngón chân cái, đang lượn lờ lên xuống qua lại. Có lẽ đã sống rất bình yên trong giếng chưa bị ai hay con thú nào rượt bắt nên Tích Nhân đến miệng giếng ngồi xuống, con rắn trắng vẫn không để ý, vẫn bình thản lượn lờ. Nhìn thấy con rắn, cặp lông mày lưỡi kiếm của Tích Nhân cau lại, đôi mắt hiện ra nỗi vui mừng rồi nhanh chóng lừa khi con rắn lượn lên vừa tầm tay liền chụp bắt. Con rắn bất ngờ bị bắt, vùng vẫy lấy thân quấn chặt lên tay Tích Nhân, nhưng hắn cũng liền đưa cổ rắn lên miệng cắn mạnh. Sau khi hút hết máu, Tích Nhân ăn cả da thịt con rắn, chỉ phun ra ngoài những mẫu xương sống của nó.
Tích Nhân đã hút máu, ăn sống con rắn trắng không phải vì đói mà xuất thân từ gia đình võ học, có học qua y thuật và cũng biết mình bị bệnh thất âm tuyệt mạch, may ra chỉ có những hãn thế kỳ trân dị thảo như thiên niên tuyết sâm, thiên niên hà thủ ô, linh chi ngàn năm và máu huyết của Bạch Long xà mới có thể chữa khỏi. Bạch Long là một loại rắn không độc, da thịt thơm ngon, ngoài công năng chữa bách bệnh, nó còn có tác dụng bồi tăng công lực cho người luyện tập võ công. Chỉ có người có nhiều duyên phước mới gặp được Bạch Long, không ai dụng tâm đi tìm mà có thể gặp nó, bởi vì nó không phải sống ở một nơi có những điều kiện đặc biệt nào. Nó có thể lang thang ở khe rạch nơi đồng ruộng khó phân biệt với rắn nước tầm thường, nó cũng có thể sống trong rừng sâu, suối thẳm, đồng cỏ hoang vu không người lai vãng. Nó cũng có thể hiện diện ở miền lạnh giá, thì cũng có thể có mặt ở nơi quanh năm nắng ráo.
Tích Nhân biết giống rắn tiểu Bạch Long có thể chữa bệnh bẩm sinh của mình, nhưng không biết khi con rắn phải sống trong một đầm nước nóng, thân thể và máu huyết của nó tính lại cực âm, chí hàn nên chỉ trong giây lát sau, Tích Nhân nghe trong bụng lạnh ngắt, từng luồng khí lạnh xông ra đơn điền toả vào kinh mạch và thân thể bắt đầu tê cứng ngã nhào xuống nước. Nước nóng làm chân tay Tích Nhân có thẻ cử động được nhưng vẫn thấy lạnh phải run cầm cập, ngoài cái lạnh từ xương thịt mình như bị trương lên, mạch máu như muốn vỡ vô cùng đau đớn khó chịu. Cử động theo phản ứng tự nhiên, Tích Nhân đứng trong giếng nước nhảy lên nhảy xuống như con choi choi, nước bắn tung toé, và khi những hạt nước rơi xuống mặt đá thì bốc hơi lên. Buổi sáng hôm ấy, nếu có ai ở xà động thì không thể thấy hòn cù lao đá nữa vì đã bị hơi nước che phủ.
Thấy nhảy lên nhảy xuống làm dễ chịu hơn, Tích Nhân vừa nhảy vừa vung tay đánh lui đánh tới... Cho đến khi mặt trời lên giai sào, Tích Nhân cảm thấy sự căng nức của da thịt bớt đi phần nào, thì hắn cũng nghe một tiếng hú dài lảnh lót và giây lát sau trong đám hơi nước mịt mù của cù lao đá, xuất hiện một người áo quần đen, mặt mày tay chân che kín bằng vải đen. Bóng đen nếu không có bộ ngực và mái tóc đen huyền óng ả thả xuống quá lưng thì khó biết là nam hay nữ. Nữ nhân che kín tay chân mặt mày xuất hiện trên cù lao thấy Tích Nhân đang ở trong giếng nước thì tức giận gầm lên nắm cổ Tích Nhân xách lên quăng mạnh. Thân lực của nữ nhân thật kinh khiếp, thân thể của Tích Nhân không phải là nhẹ nhưng nữ nhân xách và quăng lên cao cả trượng, may mắn là rớt xuống hồ nước, nếu không thì đã gẫy hết xương cốt. Nữ nhân nhìn xuống giếng nước nóng không thấy con Bạch Long lại tức giận gầm lên lần nữa, phi thân ra hồ chụp đầu Tích Nhân mang lại cù lao. Tích Nhân khi ra giếng nước đã cỡi áo quần quấn đạp dưới đáy giếng, bây giờ trần truồng như nhộng. Tuy nhiên nữ nhân hình như không chút ngại ngùng, ném hắn xuống mắt đá, nữ nhân cầm cổ tay hắn xem mạch, cặp mắt long lên ác độc, và rút trong người một con trủy thủ đen tuyển. Thấy nữ nhân muốn giết mình, Tích Nhân quát hỏi:
- Ngươi là ai? Có thù oán gì với Nhân mổ?
Nữ nhân không trả lời búng ra một luồng chỉ lực cách không điểm huyệt hắn rồi ngồi xuống dí mũi trủy thủ vào động mạch cổ tay hắn. Tích Nhân nhắm mắt thở dài, hiểu ra rằng nữ nhân biết hắn đã ăn thịt con Bạch Long nên bây giờ lại muốn uống máu của hắn. Tích Nhân nhắm mắt chờ chết. Tuy nhiên, khi mũi dao kề lên động mạch cổ tay Tích Nhân, thì nữ nhân lại dừng tay và hai bàn tay lại sờ sẫm, nắn bóp lên những khớp xương, các kinh huyệt trên người hắn, ngay cả vùng xương thiêng của hắn nữ nhân cũng không ngại ngùng. Thấy nữ nhân làm điều kỳ lạ, Tích Nhân mở mắt định quát mắng, nhưng bàn tay của nữ nhân nhanh nhẹn vô cùng, hắn vừa mở mắt, thì nữ nhân đã lật úp hắn lại, lướt qua xương vai, xương sống và sau đó hú lên một tiếng lảnh lót, tiếng hú không phải người, không phải vượn, cao bổng, kéo dài và bằng một động tác dụng lực kỳ lạ, nữ nhân chỉ nắm cổ tay của hắn nhưng có thể đưa hắn lên cao vừa đẩy thân thể của hắn lên vai mình, hú dài một tiếng nữa, phóng đi.
Tích Nhân đã từng nghe mẫu thân kể đến võ công thượng đẳng của ngoại tổ mình, cũng như của những cao thủ thượng thặng ở Đại Việt và Trung nguyên năm xưa còn truyền tụng lại như thuật kinh công có thể đi trên mặt nước, lướt trên đầu ngọn cây ngọn cỏ, đầu ngón tay có thể phóng ra chỉ kình làm tan bia vỡ đá, chưởng tung có thể tụ khí đánh ra như sấm sét, v. v... nhưng chưa bao giờ thấy. Hôm nay, qua nữ nhân áo đen, Tích Nhân đã chứng kiến việc búng ngón tay từ xa có thể điểm huyệt, dùng kinh công lướt qua mặt hồ và sau đó bay lướt qua đầu ngọn cây mà đi không khác gì chim bằng.
Không hiểu nữ nhân là ai, thù hay bạn đối với mình, nhưng nằm trên vai nữ nhân, nghe gió lùa qua hai tai phần phật, mở mắt thấy cây cỏ nằm rạp lại phía sau, Tích Nhân kính phục võ công của nữ nhân vô cùng và phân vân không hiểu ngoại tổ của mình, một kỳ nhân thế ngoại của Đại Việt hiện nay, võ công có hơn được nữ nhân đang bắt mình hay không? Hắn cũng thầm ao ước mong sao mình có được võ công như nữ nhân này.
Nữ nhân đi như tên bắn, nhưng Tích Nhân nằm trên vai lại thấy êm ái dễ chịu không giống như trước đây bị tên Đèo Căn bỏ trong bao vác chạy, xốc lên xốc xuống khổ sở vô cùng.
Tích Nhân không hiểu có phải dùng khinh công như vậy, cứ vài giờ phải điều tức một lúc hay không? Nữ nhân phi hành độ vài giờ, ném Tích Nhân xuống đất, tìm chỗ ngồi điều tức độ nửa giờ, rồi đi tiếp. Khuya hôm đó đến một bờ suối, nữ nhân ném Tích Nhân xuống, đi vào rừng, lúc sau màng về một con gà, quơ một số cây khô chất lại thành đống. Nữ nhân không dùng đá đánh lửa như mọi người mà bàn tay nắm nhánh cây trong giây lát, nhánh cây bốc cháy. Nữ nhân mồi lửa, để con gà bên cạnh, búng tay cách không giải huyệt cho Tích Nhân, không nói nửa lời bỏ đi đến một hòn đá cách đó vài trượng ngồi quay lưng lại điều tức. Trong người các luồng hàn khí vẫn còn, ở giữa rừng khuya, không mảnh vải che thân, vừa lạnh vừa đói, dù nữ nhân không nói lời nào, nhưng cử chỉ cho Tích Nhân biết hắn có thể nướng gà để ăn và sưởi ấm nên liền lại bên đống lửa, xỏ con gà lên một cành cây hơ nướng. Gà chín, không biết nữ nhân lớn nhỏ thế nào hắn gọi:
- Gà đã chín, đại tỷ có thể lại ăn.
Không thấy trả lời, Tích Nhân lại gọi lớn:
- Mời cô nương dùng gà.
Nữ nhân vẫn im lặng, hắn nghĩ nữ nhân có võ công rất cao, phải là người lớn tuổi, lễ phép:
- Kính mời tiền bối dùng gà.
Hỏi mấy lần nữ nhân cũng chẳng thèm ư hử, Tích Nhân cũng ngại mình đang trần truồng nên cũng không dám mang lại gần mời mọc. Ngần ngừ giây lát, bụng quá đói Tích Nhân không khách sáo nữa. Ăn no, ngồi dựa gốc cây hơ lửa rồi ngủ quên lúc nào chẳng hay. Khi thức giấc thấy mình đã đang nằm trên vai nữ nhân.
Nữ nhân cõng hắn, lúc đi lúc nghỉ nhưng thuỷ chung cũng với tốc độ không thua ngựa phi nước kiệu suốt ngày hôm sau. Đến nửa đêm nữ nhân hú lên một tiếng dài không khác gi vượn, nhưng âm vang lại lồng lộng bất tận và Tích Nhân thấy tốc độ khinh thân còn nhanh hơn nữa, băng trên ngọn cây lướt nhanh lên một hòn núi thật cao, khoảng hơn giờ sau, đến một bờ vực, nữ nhân một tay nắm chân Tích Nhân, một tay nắm một sợi dây dài, tung mình xuống bên dưới, khi dừng lại nữ nhân nghiêng vai hất Tích Nhân xuống mặt đá.
Bị ném xuống mặt đá đau đớn vô cùng, Tích Nhân tức giận chưa kịp lên tiếng mắng chửi, thì nữ nhân biến mất, giây lát sau trở lại với cây đèn sáp. Ánh đèn cho Tích Nhân thấy mình đang ở trong một động đá rộng vài trượng vuông. Nữ nhân thần bí đặt cây đèn sáp, một cuốn sách da đen lên trên một tảng đá hình vuông giống như chiếc bàn nhỏ, rồi phóng ra ngoài, không biết đi đâu. Trong khi nữ nhân phóng mình đi thì cũng phóng chỉ kình vô hình giải hết các huyệt đạo của hắn.
Tay chân được cử động, sự lạnh lẽo do khi âm hàn trong người xung ra cũng giảm rất nhiều, không hiểu nữ nhân sao lại đặt cây đèn và quyển sách lại làm gì, Tích Nhân bước lại xem.
Quyển sách đen là những trang sách bằng da dê, có lẽ chỉ nửa quyển, phía sau không có bìa, trang đầu có bốn chữ lớn: Huyền Âm khí công, bên cạnh có kẹp một lá thư nhỏ mới viết chữ còn thơm mùi mực, nét chữ tuyệt đẹp: " Ngươi mang tuyệt chứng thất âm tuyệt mạch là người trăm năm khó tìm để có thể luyện thành Huyền Âm chân khí. Ngươi ăn con tiểu Bạch Long, trong người hiện đã có chân khí tương đương với mười năm công lực. Hẹn cho ngươi ba năm phải luyện thành Huyền Âm khí công này. Nếu người không dốc tâm dốc chí hoàn thành, đả thông sinh tử huyền quan thì ta không giết ngươi, ngươi cũng không thể sống thêm vì tuyệt chứng của ngươi. Hừ! Ngươi còn nhỏ mà đã sắc dục quá độ, con tiểu Bạch Long chỉ có thể giúp ngươi thọ thêm được ba năm..."
Tích Nhân đọc lá thư của nữ nhân để lại thở dài. Sau khi mất thân đồng trinh với Thu Hà, tự biết mình không còn sống lâu, hy vọng mong manh này chỉ là ảo vọng, nên hết lòng thương yêu, chiều chuộng Thu Hà và cũng thầm tính khi về nhà nàng, có chỗ ở ổn định dù nàng có con với mình hay không, cũng sẽ viết lại Thái Ất thần công và Đằng Tiên bí pháp lưu lại cho nàng... Thế nhưng hắn đã vô tình mà nghe được sự thực phũ phàng. Đau khổ hối hận khôn xiết, thì cũng cùng lúc bị giành giật, bắt giữ, muốn chết đi cho rảnh, và trong lúc tuyệt vọng lại thấy thêm sinh lộ. Lá thư của nữ nhân nói hắn không thể sống quá ba năm nếu không luyện thành Huyền Âm chân khí là hoàn toàn không ngoa, bởi phụ thân và mẫu thân của hắn từng đã dồn hết tâm huyết nghiên cứu sách vở y dược cổ kim đã không tìm ra môn thuốc nào có thể trị dứt tuyệt chứng của hắn. Ngoại tổ của hắn một kỳ nhân võ học cũng đã vì hắn mà lặn lội sang trung nguyên định lên tận Tuyết sơn, Trường bạch sơm tìm thiên niên tuyết sâm và cũng thăm dò để tìm ra một bí cấp võ công có thể trị được tuyết chứng của hắn.
Ngoại tổ của hắn ra đi, biết chuyến đi của mình nguy hiểm và cũng không muốn võ lâm Trung nguyên chú ý, biết lai lịch nên lưu lại cây Đằng Tiên cho mẫu thân của hắn cất giữ, hẹn ba năm sau sẽ trở về động thất ở Công Mẫu Sơn, nơi mà lúc nhỏ hắn rất thích thú với dòng suối mát lạnh quanh năm, những quả đào tiên to tròn ngọt ngào không thể tìm ra nơi nào có được, và hắn cũng từng nói ra ước mơ, nếu có chết muốn được chôn cạnh mộ ngoại tổ mẫu trong vườn tiên đào.
Qua lá thư của nữ nhân che kín tay chân mặt mày, hắn biết mình may mắn ăn được con Bạch Long, lại có cuốn Huyền Âm bí kíp và có thời gian ba năm để có thể vừa cứu mạng vừa có thể trở thành một cao thủ thượng thừa nên không biết nữ nhân là ai, trẻ hay già, thù hay bạn, Tích Nhân cũng nghĩ nữ nhân là người đem đến cho mình cơ hội, là người cứu mạng của mình nên quỳ gối:
- Không hiểu phải gọi ân nhân bằng bà hay cô, tiền bối hay đại tỷ, Tích Nhân cúi đầu lạy ba lạy tạ ơn cứu mạng và chỉ cho con đường sống. Tích Nhân quyết không để ân nhân phải thất vọng. Trong ba năm nếu không luyện thành Huyền Âm khí công ân nhân không giết, Tích Nhân cũng sẽ tự huỷ cái thân vô dụng của mình.
Rập đầu lạy xong ba lạy, Tích Nhân không đợi ngày mai, lật bí kíp ra đọc và bắt đầu tư thế luyện tập tầng công lực thứ nhất.
Buổi sáng, ánh nắng vàng dịu tuyệt đẹp chiếu dọi vào cửa động, Tích Nhân xả công bước ra ngoài mới thấy mình đang ở trong một hang động nằm cheo leo giữa bờ vực thẳm, nhìn xuống bên dưới sương mờ dày đặc không biết sâu bao nhiêu trượng, ngước mắt nhìn lên thẳng tắp tới mây, nếu không phải là người có khinh công cao tuyệt thì không thể nào đi đâu được.
Nhìn thấy địa thế bí hiểm như thế Tích Nhân tự hỏi phải chăng nữ nhân mang mình đến đây để bỏ cho chết đói chết khát? Nhớ lại trong đêm nữ nhân đã đi giây lát và trở lại với cây đèn sáp liền vào trong xem thử. Chú ý kỹ Tích Nhân mới thấy vách phía trong có một hang nhỏ vừa người đi chỉ vì có một phiến đá che phía trước nên khó nhận ra. Bên trong cửa hang tối om, nhưng vì muốn khám phá Tích Nhân vẫn lách mình vào trong. Mò mẫm đi một lúc Tích Nhân thấy phía trước có ánh sáng yếu ớt và đến một căn động tương đối lớn hơn động bên ngoài, lòng động sáng lờ mờ nhờ ánh sáng xuyên qua kẽ hở của vách đá chiếu xuống. Qua ánh sáng lờ mờ ấy, Tích Nhân thấy vách đá phía sau có nước rỏ lách tách và giữa động có để mấy giỏ mình tinh, củ nâu, đậu lạc, hạt trái cây, mấy hũ mật ong, muối và cạnh đấy, trên có một hòn đá hơi bằng phẳng có để mấy cây đèn sáp ong còn nguyên.
Thấy có khoai, có nước, Tích Nhân yên trí không còn lo nghĩ gi nữa, chỉ tập trung vào việc luyện tập võ công. Khi đói nhai sống đậu lạc, mình tinh và hạt trái cây uống nước, khi buồn ngủ nằm ngay xuống sàn đá mà ngủ, còn tất cả thì giờ thì tập trung luyên công. Mấy tháng sau khi số khoai, đậu trong động gần hết, nữ nhân che kín vải đen xuất hiện mang đến một số táo khô, thịt khô, ít bộ quần áo và cũng không nói tiếng nào, chụp mạch môn hắn thăm dò công phu rồi đu dây đi ngay.
Ngày qua tháng lại Tích Nhân miệt mài luyện công, vài tháng nữ nhân lại đem thức ăn đến. Mỗi lần nữ nhân trở lại, vì bây giờ đã được có áo quần ăn mặc nên Tích Nhân không còn ngại ngùng, tỏ ra rất mừng, hỏi han chào đón, muốn được chuyện trò với nữ nhân giây lát, nhưng nữ nhân cũng không bao giờ lên tiếng. Qua hết năm thứ hai, Tích Nhân đã luyện đến tầng thứ bảy của Huyền Âm chân khí, nữ nhân xuất hiện, lần này không mang theo khoai củ cho hắn nữa mà chỉ có một sợi dây gai to dài. Sau khi cột sợi dây vào hòn đá to giữa động, nữ nhân ném sợi dây xuống vực rồi nắm tay hắn kéo ra ngoài. Nữ nhân cầm sợi dây tuột xuống vực, ra dấu hắn làm theo. Tích Nhân ngoan ngoãn làm theo ý muốn của nữ nhân. Qua khỏi vùng khói đá suốt ngày bao phủ, Tích Nhân thấy đáy vực là một thung lũng nhỏ bao quanh bởi những vách đá thẳng tắp, trong thung lũng có cỏ cây, chim chóc và giữa thung lũng có một hồ nước rộng vài chục trượng, nước xanh ngắt. Nữ nhân ra dấu cho hắn đi theo, bứt mấy lá rau xanh quanh hồ ra dấu bảo hắn ăn. Tích Nhân ăn thử lá rau thấy nhân nhẩn đắng, nhưng lại nuốt xuống cổ thấy ngọt. Nữ nhân lại lăng không chụp xuống nước bắt ngay được một con cá lớn đưa cho Tích Nhân xem rồi ném xuống hồ trở lại. Nữ nhân là người câm, Tích Nhân nghĩ như vậy nên hỏi:
- Phải chăng đại tỷ muốn từ nay tiểu đệ xuống đây tự tìm lấy thức ăn?
Nữ nhân gật đầu, rồi phăng giây đi lên trên động ngay. Khi Tích Nhân đu giây lên tới động đá trở lại nữ nhân đã mất dạng, sợi giây từ trên núi xuống nữ nhân cũng không lưu lại. Tích Nhân vào động thấy có mảnh giấy để lại: " Trong hai năm ngươi luyện được bảy tầng Huyền Âm khí công chứng tỏ thông minh và chuyên cần lắm. Ta rất vừa ý. Ba tầng còn lại khó khăn hơn nhiều và ngươi chỉ còn hơn năm nữa để quyết định mạng sống của ngươi. Hãy cố gắng. Ta có việc quan trọng phải vắng mặt một thời gian lâu. Từ nay ngươi tự lo liệu lấy. Luyện thành công lực để trị tuyệt chứng Huyền Âm chưởng pháp và Huyền Âm chỉ sau khi ta trở về và ngươi không còn là gã yểu tử nữa thì ta sẽ giúp ngươi luyện tập... biến ngươi trở thành một tuyệt đại cao thủ trên chốn giang hồ.."
hutructiensinh
HỒI THỨ NĂM

Lại Khóc Biệt Ly

Hơn hai năm nữ nhân áo trùm kín thân thể như khối vải đen không nói lời nào, nhưng đều đặn cung cấp thức ăn. Dù nữ nhân không nói một lời nhưng đã nhiều khi hắn bắt gặp ánh mắt thiện cảm và khuyến khích, Tích Nhân thấy nữ nhân rất quan tâm cho mình, đến mạng sống của mình nên lòng vừa tri ân vừa kính mến. Tích Nhân biết rõ muốn hoàn thành một môn công nội công thượng thừa đến trình độ đả thông sinh tử huyền quan, người có căn cơ trung bình phải tốn vài chục năm tôi luyện. Ông ngoại hắn khi rời khỏi núi đã trên năm mươi tuổi, tốn ba chục năm để hoàn thành Thái Ất thần công. Nghĩ lại nữ nhân đã chọn một nơi ở giữa trời đất để hắn có thể dành hết thì giờ tập luyện không bị phân tâm là đã tính toán, đã quan tâm tới hắn rất nhiều. Hôm nay nhận lá thư dặn dò đầy quan tâm của nàng, Tích Nhân càng thêm cảm động, tự hứa không để phung phí giây phút nào trong việc luyện công.
Từ lúc nữ nhân lưu lại sợi dây, Tích Nhân một hai ngày lại đu dây xuống đáy vực bắt cá nướng ăn. Tuy nhiên sau đó Tích Nhân thấy tảng đá dưới một gốc cây to bên bờ hồ bằng phẳng ngồi luyện công rất tốt nên ở luôn dưới đáy vực, chỉ khi nào mưa gió mới lên trên động.

o0o

Thời gian thấm thoát trôi, trong gần ba năm dù ăn uống thiếu thốn nhưng thân thể Tích Nhân cao to như thổi, mấy bộ áo quần nữ nhân mang đến không mặc được, và Tích Nhân cũng không còn cảm thấy khí hậu ảnh hưởng đến mình, trời càng lạnh càng thấy khoẻ, luyện công nhanh hơn, lại ở giữa chốn hoang dã một mình nên cũng cảm thấy không cần đến quần áo.
Lại gần một năm nữa trôi qua, Tích Nhân đã luyện đến tầng thứ chín Huyền Âm chân khí, và tràn đầy hy vọng sẽ hoàn thành Huyền Âm thần công trước thời hạn. Một hôm đang ngồi luyện công, Tích Nhân thấy một áp lực rất lớn từ bên trên sa xuống rất nhanh, vội vàng xả công và giây phút sau một con Bạch Ưng rất lớn rơi xuống hồ lông lá, nước bắn lên tung toé. Rớt xuống nước con ưng cố vùng vẫy, nhưng mỗi lần vùng vẫy lại bị chìm xuống nước. Tích Nhân vội vàng bơi xuống hồ. Con ưng thấy hắn lội ra càng vùng vẫy, cố chạy, Tích Nhân kêu lên:
- Bạch Ưng ngoan! Hãy để ta giúp ngươi một tay, Ta không làm hại ngươi đâu.
Tích Nhân lội đến gần, con Bạch Ưng dùng mỏ mổ lia để tự vệ, Tích Nhân tránh né và tiếp tục vỗ về:
- Ta chỉ giúp ngươi vào bờ mà thôi, nhất định không làm hại ngươi. Hãy ngoan ngoãn... hãy ngoan ngoãn.
Không hiểu vì đã kiệt sức, hay vì tương liên với lòng tốt của Tích Nhân, một lúc sau con Bạch Ưng nằm im. Tích Nhân bợ tay dưới bụng đưa vào bờ, quan sát thấy nó bị gãy một cánh và một chân. Tích Nhân để lên tảng đá bẻ mấy cành cây nhỏ, tước vỏ cây làm chỉ cặp lại chân và cánh cho nó. Dưới vực có nhiều hoa cỏ lạ nhưng Tích Nhân không biết thứ nào có công dụng trị xương gãy nên chỉ cặp mấy cành cây hy vọng xương không bị đung đưa sẽ tự lành. Từ lúc có con chim ưng bị thương sa xuống vực, Tích Nhân ngoài bắt cá cho mình ăn còn nuôi con ưng nữa. Ngày tháng đã làm cho con ưng và hắn thân quen nhau, mỗi khi cho ăn, Tích Nhân cũng vuốt ve tâm sự, coi như một người bạn thân.
Loài vật mau lành, hơn tháng sau con ưng có thể đi đứng bình thường và cũng thỉnh thoảng chạy lấy trớn để bay. Có khi nó bay ngang hồ bắt cá cho nó và cho Tích Nhân. Tích Nhân không muốn con chim đi mất, nhưng cũng muốn nó mau trở lại đời sống bình thường. Nhiều khi Tích Nhân bồng nó thảy lên cao để thử xem nó có lấy trớn mà bay cao được không. Tuy rất quan tâm đến con ưng, nhưng hằng ngày phải bỏ hết tạp niệm để luyện công, Tích Nhân cũng không có thì giờ chú ý chơi đùa với nó nhiều. Một chiều nọ, sau khi xả công Tích Nhân nhìn quanh không thấy con ưng đâu nữa, biết nó đã hoàn toàn bình phục và dời khỏi nơi tù túng, hắn mừng cho con ưng, nhưng cũng cảm thấy như mất mát một thứ gì rất lớn, nhìn trời thở dài. Như thường lệ, Tích Nhân lấy ít cành cây thổi lửa, bắt cá nướng. Trong lúc cá vừa chín, thì không khí chao động, con ưng từ trên cao đáp xuống. Tích Nhân mừng rỡ chạy ra đón, ôm lấy Bạch Ưng mừng rối rít:
- Tiểu ưng, thì ra ngươi cũng con nhớ đến ta. Hay lắm! Ngươi đi đâu thì đi nhưng đừng bỏ ta nhé!
Thấy miệng Bạch Ưng ngậm một con thiềm thừ to bằng ba ngón tay da bóng bẩy đỏ như lửa, Tích Nhân bảo:
- Ngươi thích ăn thịt thiềm thừ? Ngươi đã có đồ ăn thì ta không phải lo cho ngươi nữa!
Tuy nhiên, con ưng không nuốt con thiềm thừ mà nhả ra trên tay hắn như có ý đấy là thức ăn mang về cho hắn. Tích Nhân cầm con thiềm thừ đưa lại miệng ưng, nó lại tìm bàn tay của Tích Nhân đặt trở lại. Thấy cử chỉ của con ưng, Tích Nhân tươi cười:
- Tiểu ưng đã muốn ta ăn con thiềm thừ này, thì thôi ta cũng chiều ngươi vậy!
Hắn đưa lên lửa nướng, nhưng Bạch Ưng quạt mạnh đôi cánh làm lửa bay tung tóe và tắt ngấm. Nhìn cử chỉ con Bạch Ưng, Tích Nhân nghĩ Bạch Ưng có thể là con vật thông linh, mang con thiềm thừ về cho hắn, có lẽ biết là vật hiếm quý, có thể cũng không khác gì con rắn bạch trắng tiểu Bạch Long, người dùng nó có thể tăng thêm công lực và muốn mình ăn sống nên ngần ngừ giây lát rồi bỏ con thiềm thừ vào miệng, nhắm mắt nhai đại. Chiều ý Bạch Ưng, nhai sống con thiềm thừ, Tích Nhân tưởng tanh tưởi lắm nhưng ngược lại nghe như có mùi thơm kỳ lạ và rất ngon ngọt. Hắn vuốt ve lưng Bạch Ưng khen:
- Đa tạ tiểu ưng, đã cho ta một món ăn lạ khoái khẩu.
Ăn xong con thiềm thừ và con cá mới nướng, Tích Nhân vuốt ve Bạch Ưng, dăn bảo từ nay có đi đâu thì đi, thỉnh thoảng trở về bầu bạn với mình cho vui. Và khi trời tối, Bạch Ưng bay lên đọt cây còn hắn ngồi lại chuẩn bị điều tức tiếp tục luyện công, thì bấy giờ lại thấy từ đan điền một luồng nhiệt khí từ từ bung ra. Hắn đang luyện Huyền Âm khí, trong người chỉ có luồng khí âm hàn chu lưu trong thân thể, bây giờ trong người lại có thêm làn khí nóng, lần lần hai luồng khí một nóng một lạnh xung đột nhau làm hắn thấy máu huyết nhộn nhạo. Nghe triệu chứng trong người, Tích Nhân la thầm, Bạch Ưng thông linh đã mang về cho hắn một con thiềm thừ vô cùng hiếm quý, người luyện võ có thể tăng thêm công lực không khác gì Bạch Long, nhưng lại có tính chí dương. Luồng khí chí dương của thiềm thừ phát sinh rất mạnh. Tích Nhân nhờ thân thể thích ứng do tuyệt chứng thất âm tuyệt mạch, rồi lại may mắn ăn con tiểu Bạch Long, vì thế luyện Huyền Âm chân khí mau tiến bộ hơn người thường gấp mấy lần và đã luyện qua tầng thứ chín, chân khí trong người rất dồi dào, nhưng vận công để chống lại luồng khí nóng phát sinh trong thân thể chẳng những không thể trấn áp được mà càng làm cho hai luồng khí nóng lạnh xung đột nhau dữ dội, mỗi khi vận công trấn áp kinh mạch như muốn vỡ bụng ra, khắp người đau đớn, lúc nóng, lúc lạnh khó chịu vô cùng.
Thân thể vật vã trong đau đớn, Tích Nhân nghĩ tình trạng của mình không có cao thủ tuyệt thế như nữ nhân bao kín mặt mày giúp đỡ thì chỉ còn nằm chờ chết. Nghĩ đến chết, Tích Nhân xót xa nhớ lời dặn dò của thân mẫu, ân hận suýt có tội lớn vì sớm gần nữ sắc, cảm thấy an ủi được may mắn ăn tiểu Bạch Long, luyện Huyền Âm chân khí sắp thành tựu để tự cứu được mạng, thì lại gặp chuyện không may!
Tuy nhiên nghĩ đến thân mẫu, đến tâm nguyện của mình Tích Nhân đã nhớ đến Thái Ất thần công, một môn nội công âm dương kiêm bị và nhớ lời chỉ dẫn triệu chứng hai khí nóng lạnh có thể xung đột nhau khi luyện tầng thứ chín, không khác gì tình trạng của mình hiện nay. Tích Nhân phân vân một lúc, không hiểu đường đột dùng bí quyết của tầng thứ chín Thái Ất thần công có nguy hiểm gì không, nhưng rồi thân thể càng lúc càng đau nhức, nóng lạnh khổ sở liên miên bèn mạo hiểm ngồi theo tư thế và chiếu theo yếu quyết để mong dung nạp hai luồng khí nóng lạnh trong người.
Cố gắng giây lát Tích Nhân thấy khí huyết có thể điều khiển theo tâm trí của mình, mừng rỡ bỏ hết tạp niệm, tập trung tinh thần và quên hết ngoại cảnh chung quanh. Trải qua ba đêm hai ngày, khi Tích Nhân xả công cảm thấy chân khí trong người đầy dẫy, thân thể thoải mái vô cùng, biết mình đã bất ngờ mà có thể hoàn thành Thái Ất thần công, một môn tuyệt học mà cả ngoại tổ của mình cũng phải tốn gần bốn chục năm mới hoàn thành, mừng rỡ khôn cùng. Tuy nhiên, vẫn phân vân không biết hiểu điều suy nghĩ của mình có đúng hay không? Tích Nhân vận công phóng một chưởng đánh vào một tảng đá to gần đó, tảng đá tức thời dưới chưởng lực của hắn vỡ thành hàng trăm mảnh.
Được sống và hoàn thành Thái Ất thần công một cách không ngờ, Tích Nhân vui sướng nhảy tung trong thung lũng. Ban ngày con Bạch Ưng đã bay đi, nếu không Tích Nhân đã ôm vuốt ve nó tỏ lời cảm tạ.
Nghĩ mình phải ăn mừng một bữa thịnh soạn, Tích Nhân đu dây lên thạch động, lần đu này thấy mình chỉ giựt nhẹ sợi dây mà thân thể đã có thể bay lên cả trượng và lên tới thạch động chỉ trong giây lát.
Lấy một ít muối, Tích Nhân xuống đáy vực, tìm một con cá thật to làm sạch, ướp rồi mới nướng. Đang ăn thì Bạch Ưng trở về, Tích Nhân mừng rỡ chạy tới ôm lấy:
- Đa tạ tiểu ưng... Nhờ ngươi mà ta đã luyện hoàn thành Thái Ất thần công của ngoại tổ ta.
Bạch Ưng để cho hắn ôm, rồi nhả lên tay hắn một trái mật, không biết là mật con gì nhưng Tích Nhân nghe còn nóng. Ăn con ếch đỏ như lửa của Bạch Ưng, Tích Nhân tưởng họa lại đắc phúc nên lần này thấy quả mật không ngại ngùng:
- Tiểu ưng, ta biết ngươi đã sống rất lâu, thông linh không khác gì người. Từ nay, ngươi cho thứ gì ta cũng ăn, không bao giờ từ chối.
Và Tích Nhân không ngại ngùng đem lại suối rửa sơ và nuốt quả mật. Có lẽ quả mật chỉ có tác dụng bổ khí điều nguyên bình thường mà không phải thân dược hãn thế như tiểu Bạch Long, hoả thiềm thừ nên Tích Nhân không thấy phát sinh kỳ tích gì.
Suốt buổi chiều hôm đó, Tích Nhân chơi đùa với Bạch Ưng và cũng lần đầu tiên phát hiện Bạch Ưng có một nội lực rất hùng hậu, mỗi khi vỗ hai cánh phát ra một luồng lực đạo rất mạnh và cho rằng Bạch Ưng thông linh tìm ăn nhiều vật kỳ bảo nên mới có khí lực vậy.
Như thường lệ, khi màn đêm làm đáy vực tối đen, Bạch Ưng phóng lên cây, còn Tích Nhân thì dù luyện thành Thái Ất thần công nhưng nghĩ lại lời dặn của nữ nhân phải hoàn thành Huyền Âm chân công mới có thể trị tuyệt chứng thất âm tuyệt mạch của mình nên lại ngồi xuống đá để tiếp tục.
Khi bắt đầu tập lớp thứ mười của Huyền Âm chân công, Tích Nhân nhận thấy khó khăn vô cùng, mỗi khi luồng chân âm chuyển động, thì khí chân dương cũng phát sinh, buộc hắn phải bỏ dở để theo đường lối Thái Ất thần công dung hoà chúng, không thể nào tiếp tục dẫn khí đơn thuần theo lối Huyền Âm như trước. Cố gắng vài lần không được, Tích Nhân chán nản, nằm xuống đá ngủ.
Buổi sáng thức giấc, thung lũng vắng vẻ, Bạch Ưng đã đi tìm thức ăn bay lượn trong bầu trời của nó, một mình không biết làm gì, Tích Nhân lại thử tập lại tầng thứ mười của Huyền Âm thần công. Với hắn hiện giờ, nếu không hoàn thành Huyền Âm chân khí, đả thông sinh tử huyền quan, thì mấy năm chịu mọi khổ sở trong lòng động và dưới đáy vực sâu một mình một bóng chỉ là công vô dụng. Nghĩ vậy, Tích Nhân dặn lòng quyết tâm dù cho khí dương cương có phát động ngăn trở đi nữa cũng phải hoàn thành lớp thứ mười Huyền Âm thần công.
Sự ngoan cố của Tích Nhân tạo ra một hiện tượng kỳ dị, chung quanh người phát ra một luồng khí trắng như sương rất lạnh, trước còn nhẹ nhàng sau dày đặc, che khuất thân thể của hắn, một lúc sau luồng khí lạnh thu lần lại rồi thân thể hắn lại bốc ra làn khí nóng, liên tiếp thay đổi. Tích Nhân không nhìn thấy hiện tượng này, trì chí chịu đựng khổ sở, vẫn ngồi yên không động, dù có lúc người nóng như lửa, đổ mồ hôi, có khi cảm thấy như ở trong tuyết giá, lạnh run.
Trong lúc quyết liệt phải luyện tầng cuối cùng của Huyền Âm chân khí, mà hai khí âm dương trong người đã luyện qua Thái Ất thần công nên có tính tương sanh, âm thịnh sinh dương, dương thịnh sanh âm làm cho chân khí trong người mau chóng phát sinh, không điều khiển được có thể làm Tích Nhân bể kinh mạch mà chết.
Vận số hắn còn dài, trong lúc nguy hiểm nữ nhân bao che mặt mày đã trở về, từ trên thạch động đu dây xuống. Lúc nữ nhân đến gần Tích Nhân lại là lúc luồng khí bao quanh thân thể Tích Nhân chuyển sang màu trắng đục, đứng cách cả mấy thước cũng nghe hơi lạnh.
Nữ nhân nhìn tình trạng của Tích Nhân, ánh mắt bộc lộ sự mừng rỡ vô hạn. Nữ nhân chờ cho làn hơi lạnh tỏa quanh người Tích Nhân vừa nhạt liền tiến nhanh tay điểm các yếu huyệt sau lưng hắn, rồi ngồi xuống, xé vải bao tay, áp hai bàn tay lông lá đen như tay vượn lên hai huyệt mệnh môn và đại truy của hắn.
Tích Nhân bị nữ nhân điểm huyệt, nhưng trong lúc chân khí trong người hỗn loạn nên không hay biết, và nữ nhân cung không biết vì chân khí trong người hắn đang lúc như nước triều dâng, xung phá khắp nơi nên các yếu huyệt vừa bị điểm liền được giải khai. Tấu xảo, lúc nữ nhân áo đen ngồi áp hai tay lên huyệt đạo của Tích Nhân cũng vừa lúc Tích Nhân thấy khó có thể chịu đựng để tiếp tục luyện tầng thứ mười Huyền Âm chân khí nữa, nên quay trở lại cách vận công Thái Ất để mong dung hòa trở lại chân khí trong người.
Hai luồng khí âm dương trong người hắn lúc này gần như cuồn cuộn, liên tiếp thúc đẩy nhau, Tích Nhân dồn hết định lực, ý niệm hướng dẫn nhưng gần như vô dụng, đang than thầm không biết phải làm sao, thì thấy chân khí thoát nhanh qua hai huyệt mệnh môn, và đại truy, thân thể dễ chịu dần, mừng rỡ liền chú tâm theo khẩu quyết Thái Ất.
Khi Tích Nhân định tâm dồn hết ý chí trong cách hướng dẫn chân khí theo Thái Ất, nữ nhân áo đen ngồi sau lưng Tích Nhân bỗng thấy chân khí của hắn không còn thu hút được qua hai tay mình nữa. Và trong lúc nữ nhân phân vân chưa biết làm sao thì Bạch Ưng trở về, nó liệng qua lại vài lần lao mình xuống như mũi tên mổ mạnh lên huyệt bách hội của nữ nhân.
Là một cao thủ võ lâm thuộc hàng thượng đẳng, nhưng trong lúc bất ngờ, hai tay đặt lên lưng Tích Nhân bị hút chặt, nữ nhân đã không tránh được chiếc mỏ nhọn cứng như sắc của Bạch Ưng. Bách hội là nơi hội tụ thần khí con người, bách hội bị thương, người luyện võ không còn cách gì vận dụng công lực theo ý được nữa. Nữ nhân không còn vận công được, hai bàn tay dính chặt lên huyệt đạo Tích Nhân và chân khí trong người lại theo hai bàn tay chuyền qua người hắn. Hiểu tình trạng nguy hiểm của minh, hai mắt nữ nhân tức giận như muốn nẩy lửa, nhưng đành thúc thủ.
Tích Nhân điều hợp được hai khí âm dương trong người, thì lại thấy có hai luồng khí tràn qua mệnh môn và đại truy đưa vào kinh mạch nên tiếp tục chiếu theo yết quyết để dung hoà chúng. Thời gian tiếp tục trôi, hết ngày sang đêm luồng chân khí đầy dẫy trong người Tích Nhân theo khẩu quyết Thái Ất đã đả thông tất cả kinh mạch, chân khí lần lượt xuyên qua các huyệt vĩ lư, tỳ lư, và ngọc lư, khai thông hai mạch nhâm đốc... đạt mức tam hoa tụ đỉnh, một kỳ tích chưa từng có Thái Ất thần công. Theo Thái Ất bí kíp, Thái Ất thần công là một môn nội công âm dương kiêm bị, tốn rất nhiều thời gian, người luyện qua tầng thứ chín kể như đã hoàn thành. Sự tập luyện tiếp tục kéo dài, hai khí âm dương tương sanh làm cho chân khí ngày càng dồi dào sẽ lần lượt xung phá tam hoa, đạt đến cảnh giới tối cao tam điên quy nguyên, khí thần hợp nhất. Thời gian không ấn định, nhưng thường thì luyện đến tầng thứ chín con người đã già, ít ai còn kiên nhẫn để đạt cảnh giới cuối cùng như Tích Nhân hiện giờ.
Trưa hôm sau, Tích Nhân thấy chân khí vận dụng dễ dàng, tuỳ ý lưu chuyển, thân thể thoải mái tưởng chừng thoát thai hoán cốt, xả công đứng lên, thì nghe sau lưng nữ nhân che kín mặt mày ngã bịch xuống đá.
Trong lúc hoàn toàn quên hết ngoại cảnh chú tâm vào việc luyện công, Tích Nhân không biết nữ nhân trở về và ngồi sau lưng hắn. Thấy nữ nhân trong tình trạng này hắn hốt hoảng:
- Đại tỷ!
Hắn vội ngồi xuống đỡ nữ nhân lên. Thấy nữ nhân yếu ớt, nghĩ lại mình đang ở trong tình cảnh ngặt nghèo nhưng được sống, phải chăng nữ nhân đã vì mình mà tốn hao công lực mới đến nỗi này, Tích Nhân cảm động rơi lệ:
- Phải chăng đại tỷ vì giúp tiểu đệ mà lâm cảnh thế này? Tiểu đệ thật đáng chết!
Hắn mếu máo:
- Đại tỷ võ công cao cường, hãy chỉ tiểu đệ làm cách nào để phục hồi công lực lại cho đại tỷ?
Nữ nhân thở dài não nuột rồi bập bẹ một cách khó khăn:
- Ngươi... ngươi hãy... đi đi. Hãy...đi ngay đi...
Tích Nhân cương quyết:
- Đại tỷ là ân nhân cứu mạng của Tích Nhân này, trong tình trạng của đại tỷ hiện nay, Tích Nhân dù chết cũng không đi đâu nửa bước.
Tiếng nói đầy chân tình của hắn lại làm nữ nhân thở dài rồi nói, lần này âm thang gọn gàng hơn:
- Ngươi không giúp cho ta được gì đâu! Ta... năn nỉ ngươi... giúp ta... là đừng ở đây nữa.
Tích Nhân quỳ gối, khóc:
- Dù trước đến giờ đại tỷ luôn luôn lạnh nhạt, thuỷ chung không một lời nói nào, nhưng Tích Nhân còn được sống đến ngày hôm nay cũng nhờ ơn đại tỷ. Nay đại tỷ gặp nạn nỡ nào không để Tích Nhân lo lắng cho đại tỷ?
Hắn khóc, hắn năn nỉ, nữ nhân vẫn im lặng, một lúc sau thở than:
- Thì ra ngươi là một kẻ rất chí tình, chí thiết nhưng tình trạng ta bây giờ ngươi có muốn giúp cũng không giúp gì được nữa. Ta không muốn ai thấy ta, nhất là lúc ta sắp chết, nên ta chỉ muốn ngươi đi khỏi đây ngay và đừng bao giờ quay trở lại.
Nữ nhân nằng nặc đòi hắn phải đi ngay, Tích Nhân không hiểu tại sao, nhưng rồi nhớ lại nữ nhân lúc nào cũng che kín toàn thân, phải chăng nữ nhân quá xấu xí và không muốn ai nhìn thấy sự xấu xí của mình?
Tích Nhân cương quyết:
- Đại tỷ võ công cái thế, nhất định nghĩ ra phương pháp và chỉ bảo cho Tích Nhân cách phụ giúp cho đại tỷ. Tích Nhân ngu muội, nhưng bảo Tích Nhân chết ngay còn hơn. Tích Nhân không biết đại tỷ là người thế nào, đẹp xấu ra sao, tính tình thế nào, nhưng Tích Nhân không còn ai thân thích, đại tỷ là người cứu mạng, xin được cho Tích Nhân coi đại tỷ là người thân nhất của mình, có họa cùng chịu, có phước cùng hưởng. Con ngươi đối với nhau chỉ ở tấm lòng, còn những việc khác có gì quan trọng? Nếu đại tỷ còn cố chấp xua đuổi Tích Nhân, thì Tích Nhân sẽ đập đầu lên tảng đá này...
Nữ nhân im lặng một lúc lâu, than thở:
- Không ngờ ta lại gặp một người chí tình và cố chấp như ngươi. Thôi được! Ta không đòi ngươi đi nữa...
Tích Nhân mừng rỡ, lau nước mắt, vui sướng nhảy cỡn:
- Đa tạ đại tỷ... Đa tạ đại tỷ.
Nhìn cử chỉ vui vẻ của hắn, ánh mắt nữ nhân biểu lộ sự cảm xúc rất mạnh, nhưng liền nhắm mắt, trách:
- Ngươi chẳng ăn mặc gì cả!
Nghe nữ nhân trách, Tích Nhân nhìn lại mình hoảng hốt, ngồi sụp xuống núp sau hòn đá. Nữ nhân cười nhẹ, tiếng cười đầu tiên mà Tích Nhân nghe được. Sau tiếng cười, nữ nhân bảo:
- Lúc ta đem ngươi về đây cũng khác gì bây giờ! Ta thấy áo quần ngươi vất bừa bãi trong thạch động, thân thể ngươi thay đổi, nhưng cũng có thể dùng để che đậy phần nào.
Tích Nhân nghe nói vội phóng chạy. Hắn chưa luyện khinh công nhưng nội lực hùng hậu, mỗi cái phóng chân đưa thân hình về phía trước như tên bắn và khi đu sợi dây cũng nhanh không khác khỉ vượn.
Nữ nhân nhìn Tích Nhân thở dài:
- Ôi! Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên! Ta suốt đời mưu cầu rồi trở nên công dã tràng! Kẻ thừa hưởng là hắn! Phải chăng kiếp trước ta có nợ nần gì với gã tiểu tử nầy?
Tích Nhân lên thạch động, lấy chiếc áo choàng quanh người rồi xuống ngay.
- Đại tỷ có thể chỉ dẫn Tích Nhân cách phục hồi công lực cho đại tỷ?
Nữ nhân quan sắt hắn từ đầu đến chân, khen ngợi:
- Ngươi đã trở thành một trang nam tử, công lực đã đến mức tam hoa tụ đỉnh, võ lâm khó có ai sánh bằng, mừng cho ngươi.
Tích Nhân cung tay:
- Cũng nhờ ơn đại tỷ.
Nhưng hắn rụt rè:
- Tích Nhân đã không thể luyện thành tầng thứ mười Huyền Âm thần công. Tích Nhân có chết vì tuyệt chứng của mình cũng không sao. Chỉ xấu hổ là không hoàn thành lời căn dặn của đại tỷ.
Nữ nhân có vẻ thương hại:
- Rõ là ngốc tử. Ngươi đã có công lực như bây giờ, nhâm đốc khai thông còn lo tuyệt chứng gì nữa?
Và hỏi:
- Nhưng ngươi đã luyện môn nội công gì?
- Bạch Ưng cho Tích Nhân một con thiềm thừ màu đỏ, sau khi ăn xong trong người phát sinh một luồng khí nóng càng lúc càng lớn mạnh, người lúc nóng lúc lạnh quá khổ sở, chẳng lẽ chờ chết, đánh liều áp dụng đường lối Thái Ất thần công thử xem có dung hòa được không? May mắn là đã dung hòa được.
- Phải chăng hôm qua ngươi cũng vận dụng Thái Ất thần công?
- Sợ không thành công tầng thứ mười thì không thể trị được tuyệt chứng, và đại tỷ quở trách nên đã cố gắng luyện. Không ngờ khi khí Huyền Âm lưu chuyển được vài vòng, thí khí dương cương lại phát sinh rất mạnh... Hai luồng khí nóng lạnh mỗi lúc mỗi mạnh hơn, xung đột nhau dữ dội, nếu đại tỷ không trở về kịp thời thì Tích Nhân có lẽ đã chết...
Nữ nhân nhắm mắt giây lâu:
- Ngươi là một người có duyên phúc không ai bằng. Con tiểu Bạch Long ta nuôi dưỡng ngươi vô tình mà hưởng, Hồng Hoả Thiềm Thừ vật ngàn năm khó tìm người riêng ở một nơi mà tới miệng. Lục Dương chân khí trong người ta cũng tương đương với ba chục năm hỏa hầu cũng đã gom hết vào người người.
Tích Nhân nghe nói sụp gối:
- Vì Tích Nhân mà đại tỷ mất hết công lực! Tích Nhân không biết làm sao đền đáp. Đại tỷ nếu biết phương cách thu lại công lực xin thực hiện, Tích Nhân dù chết cũng không ngại.
Nữ nhân thở dài:
- Ta không còn công lực để vận công thu hút chân khí của ngươi. Trước đây ta bị độc thương trầm trọng, tạm thời dùng công lực bản thân khống chế, khi mất công lực chất độc đã lan vào xương, dù ngươi có truyền lại công lực cho ta, ta cũng không còn sống bao lâu nữa. Như vậy, chấp nhận lòng tốt cũng chỉ làm cho võ lâm mất đi một kỳ tài một cách vô ích mà thôi.
Nữ nhân nhìn hắn:
- Ngươi không cần phải áy náy với ta. Thật sự ta đem ngươi về đây bảo ngươi luyện Huyền Âm thần công cũng không phải ý tốt muốn cứu mạng ngươi mà chỉ muốn lợi dụng để thu lấy khí hàn âm giúp ta trở lại nhân dạng mà thôi. Hôm nay nếu ta không bị hại, thì ngươi cũng chỉ là một người ở đây đợi chết!
Nghe nữ nhân nói, Tích Nhân thất vọng, nhưng nghĩ lại dù gì mình cũng mang ơn nữ nhân. Nếu không gặp nữ nhân, thì giờ đây đã là nắm xương trong mộ, nên cũng cữ nhiệt tình:
- Tích Nhân không mấy tin lời đại tỷ, nhưng dù đại tỷ có ý gì đi nữa, Tích Nhân còn sống đến ngày hôm nay cũng nhờ đại tỷ. Tích Nhân ngu muội, nhưng biết có cách gì phục hồi công lực cho đại tỷ thì dù phải mất mạng Tích Nhân cũng không từ nan.
Nhiệt tình của hắn làm nữ nhân cảm động, nhắm mắt giây lát như dằn cảm xúc rồi hỏi:
- Ngươi có chịu làm nghĩa tử của ta?
- Chẳng lẽ đại tỷ...
Nữ nhân u buồn:
- Nếu ta là một cô gái bình thường có chồng lúc mười lăm mười sáu thì con của ta cũng phải ở trạc tuổi ngươi.
Tích Nhân rất tôn trọng mẫu thân mình, tự hỏi hôm nay nhận một người đàn bà khác làm mẹ có xúc phạm đến thân mẫu mình hay không, lấy làm khó nghĩ. Nữ nhân thấy hắn chần chừ, thở dài.
- Ta muốn thành toàn cho ngươi vì cũng muốn nhờ ngươi giúp ta vài việc quan trọng. Nhưng ngươi thấy khó khăn thì thôi!
Tích Nhân vội quỳ gối:
- Không hiểu đại tỷ muốn dạy Tích Nhân làm việc gì, nhưng dù khó thế nào Tích Nhân cũng sẽ cố hết sức mình. Mẫu thân mất sớm trong đau khổ nên Tích Nhân không thể gọi ai khác là mẹ. Xin đại tỷ tha thứ cho. Tích Nhân xin bái đại tỷ làm sư phụ hay nghĩa tỷ. Dù danh xưng gì, từ nay cũng cúc cung phụng dưỡng như người thân thương nhất của mình.
Nữ nhân im lặng giây lâu:
- Ta muốn thành toàn võ công cho ngươi, nhưng những ngày sắp đến, ta sẽ hoàn toàn bất lực, ngươi phải chăm lo cho ta không tránh khỏi đụng chạm, bỏ đi ngăn cách nam nữ bất thân. Ngoài danh nghĩa con lo cho mẹ thì khó có danh nghĩa nào làm cho ta không áy náy. Nhưng thôi, ta cứ coi ngươi như nghĩa đệ.
Tích Nhân mừng rỡ:
- Đa tạ đại tỷ.
Lúc ấy Bạch Ưng trở về mang theo một trái mật rắn rất lớn cho Tích Nhân, Tích Nhân vuốt ve Bạch Ưng chỉ nữ nhân:
- Đây là nghĩa tỷ của ta, từ nay tiểu ưng cũng phải thân thiện với người. Kiếm món ngon vật lạ quí đem về cho người dùng.
Bạch Ưng nhìn nữ nhân gật đầu, rồi bay lên cây. Nữ nhân khen ngợi:
- Con Bạch Ưng này thông linh quá chừng, có nội lực hùng hậu, biết cách tấn công người khác, có lẽ đã từng cao nhân nuôi dưỡng. Sau này người ra giang hố có nó đi theo sẽ là một trợ thủ đáng kể.
Tích Nhân rửa quả mật dâng cho nữ nhân:
- Xin đại tỷ dùng quả mật này, có lẽ nó cũng rất hiếm quý.
- Ngươi đúng là đứa em tốt, nhưng ta chưa muốn ngươi nhìn thấy hình thù kỳ dị của ta, ngươi hãy nuốt đi.
- Đại tỷ có sự kỵ thì để tiểu đệ đi ra xa một chút.
- Thôi, để ta xem khi thấy mặt mũi gớm ghiếc của ta ngươi có còn can đảm nhận ta làm đại tỷ nữa hay không?
Nữ nhân đưa tay kéo bỏ bao che mặt, đôi mắt thật sắc nhìn Tích Nhân.
Khi nữ nhân đưa tay lên, Tích Nhân đã thấy bàn tay lông lá đen thui như tay vượn, và nữ nhân kéo bỏ khăn che mặt vượn, mặt khỉ, kỳ dị vô cùng.
Tích Nhân nhìn đăm đăm nữ nhân, hiểu vì sao nữ nhân phải che kín cả người. Đàn bà ai không quý sắc đẹp? Nữ nhân có vóc dáng, mái tóc đẹp vô cùng, không ngờ mặt mày lại kỳ dị như vậy. Với mặt mày thân thể như vậy nữ nhân đã phải chịu đựng biết bao nhiêu đau khổ? Tự nhiên Tích Nhân cảm thấy thương nữ nhân vô cùng, quỳ gối ôm lấy bà:
- Đại tỷ, mong người đừng quan tâm tới ngoại hình. Biết đại tỷ đau khổ thế này tiểu đệ càng thương quý đại tỷ hơn.
Nữ nhân cảm động, sa lệ nghẹn ngào hai tay ôm lấy đầu hắn:
- Ngươi.., ngươi thật là đứa em... rất tốt.
Bà ngừng giây lát rồi tiếp:
- Ngươi đã có nội lực không ai bằng, nhưng chưa học biết quyền chưởng, khinh công, kiêm pháp... để thật sự trở thành một cao thủ. Ta muốn sống thêm một thời gian ngắn nữa để chỉ điểm cho ngươi...
Tích Nhân từ nhỏ sống trong tình thương yêu của mẹ, nay nữ nhân đề nghị nhận làm con, không muốn xúc phạm đến mẹ ruột, nên chỉ nhận làm nghĩa tỷ, nhưng trân quý nữ nhân vô cùng, hắn vui sướng:
- Đại tỷ đã có cách để duy trì mạng sống, thì hãy sống mãi, cố sống mãi với tiểu đệ...
Nữ nhân than thở:
- Hỡi ơi! Mấy chục năm ta chỉ sống trong cô độc. Độc lai độc vãng. Hôm nay ta mới biết ra con ngươi ở đời có người thân, được trong tình thương yêu là hạnh phúc vô giá trên đời!
Bà ta thở dài:
- Có lẽ ta có thể sống được vài tháng, nhưng ngươi sẽ khổ sở vô cùng. Âm Dương Tý Ngọ cốt sẽ lần lần làm gân cốt ta bạc nhược. Ta sẽ không khác gì một người bệnh không nhấc chân tay, hàng ngày phải nhờ chân khí của ngươi hộ trì kinh mạch, trấn áp chất độc. Hàng ngày vào giờ tý, giờ ngọ, thân thể ta lạnh run, nóng sốt, ngươi ngoài dùng chân khí trấn áp còn phải sưởi ấm, quạt mát cho ta, không hiểu ngươi có chịu nổi khổ cực hay không?
- Dù làm bất cứ việc gì mà đại tỷ được sống, thì dầu sôi lửa bỏng, tiểu đệ cũng không ngại, huống chi mấy việc tầm thường ấy!
Hắn hỏi:
- Chất độc trong người đại tỷ là gì? Có thuốc gì để trị dứt?
- Ngoài thuốc giải của Ngũ độc giáo ra không có thuốc gì. Hơn nữa, ta bất ngờ mất hết công lực, chất độc đã lan ra, khó còn có cơ cứu vãn. Thì giờ chúng ta không nhiều, không nên nghĩ chuyện viễn vông nữa. Bây giờ ta chỉ ngươi cách truyền công hộ trì kinh mạch cho ta và giờ tý giúp ta chịu đựng cơn nóng rét.
Tích Nhân chú ý lắng nghe nữ nhân giải nghĩa về kinh mạch, cách vận công đưa nội lực của mình vào kinh mạch người khác ra sao, nhất nhất Tích Nhân ghi nhớ, và sau đó thực hành ngay. Song song với việc đưa chân khí vào kinh mạch nữ nhân, hắn cũng vận công biến nội lực thành khí nóng hay lạnh toát ra khỏi cơ thể để sưởi ấm hay làm mát dịu lại thân thể của bà ta.
Sau giây phút thực hành, nữ nhân vừa ý:
- Xem ra ta có thể đủ thời gian truyền lại hết võ nghệ cho ngươi.
Bà ta nói tiếp:
- Hiện giờ ta còn khỏe, để ta nói cho hiền đệ biết ta là ai, vì sao có hình dạng gớm ghiếc thế này và nguyên nhân nào ta đã đưa hiền đệ về đây. Sau khi ta mất hiền đệ cũng phải thay ta hoàn thành vài công việc còn dang dở.
- Tiểu đệ cung kinh nghe đại tỷ.
Nữ nhân hắng giọng:
" Ta tên là Trần Kỳ Anh, vốn là tam công chúa của Hán vương Trần Hữu Lượng. Khoảng bốn chục năm trước gia gia ta đã cùng với các lộ anh hùng của Minh giáo khởi binh chống quân Nguyên. Gia gia ta chiếm cứ cả vùng tây nam Trung nguyên, bao gồm các đất Cán, Hồ, Quảng, binh lực hàng trăm vạn, xưng đế ở Thái Thạch. Để thống nhất lực lượng nghĩa quân và thống nhất Trung nguyên, gia gia ta cử đại binh đánh Chu Nguyên Chương cũng là một lực lượng Minh giáo chiếm cứ vùng Giang Triết. Chẳng may trong trận chiến sinh tử ở hồ Thẩm Dương, gia gia bị tên mà thác, binh lực tan vỡ. Các tướng đã tôn anh ta lên làm vua chạy về Vũ Xương. Sau trận chiến Thẩm Dương quân lực của chúng ta gần như tan vỡ nên Chu Nguyên Chương thừa thắng tiến đánh, và không thể nào chống cự nổi. Lúc bấy giờ ta mới sinh ra và mẫu thân ta đã ký thác cho một võ sĩ trung thành là Phó Đổng. Phó tướng quân đã mang ta sang Đại Việt ẩn tránh. Chúng ta tạm ở trong các thị trấn một thời gian, hoà đồng với người Việt để không ai biết tung tích. Bảy năm sau, Phó tướng quân đưa ta lên một thạch động kể rõ gia thế, yêu cầu ta dốc hết tâm trí luyện tập võ công để sau này liên lạc lại với các tướng lãnh đang ẩn náu, con cháu họ đang lưu lạc để hưng khởi lại Hán triều. Gia gia và mẫu thân ta đều xuất thân từ võ lâm, nên trong lúc có binh lực trong tay cũng đã gom tụ nhiều bí cấp, kỳ trân dị thảo giúp cho người tập võ mau tiến bộ. Bộ bí kíp võ công mà mẫu thân ta giao cho Phó tướng quân là Lục Dương thần công của Thiếu Lâm, khinh công vân lông tam hiện của Thiên Long tự, kiếm pháp của Võ Đương, Côn Luân, Thanh Thành, Hoa Sơn, Nga Mi và ngay cả bổng pháp của Khất bang.... Nhờ những thứ kỳ dược giúp tăng chân khí, sau mười năm luyện tập, dù chưa qua hết tầng thứ mười Lục Dương công, ta đã trở thành một cao thủ khó tìm địch thủ. Sau ấy ta cùng Phó Đồng qua đất Hồ Quảng cùng với một số cao thủ của Hán quân năm xưa như Tô Khang, Trương Địch, Bành Quan, Mã khởi... thành lập Phượng Hoàng bang. Trong lúc chúng ta phát triển thế lực, thì một số cao thủ từng theo Thục vương Minh Ngọc Trân cũng thành lập Di Lặc hội. Một số cao thủ Minh giáo năm xưa cũng oán hận Chu Nguyên Chương là một tín đồ trước theo Minh giáo khởi nghĩa, nhưng rồi khi có thế lực lại phản giáo, giết chết giáo Minh vương Hàn lâm Nhi. Khi thống nhất đất nước, thành lập triều đình đổi quốc hiệu Đại Minh nhưng thực chất không những hoàn toàn bỏ ngoài tai tôn chỉ Minh giáo, mà còn tìm cách làm tan rã thế lực Minh giáo, tán sát cao thủ của giáo phái này nên buộc họ phải trốn tránh và bí mật thành lập Bạch Liên Giáo. Ở vùng Ngô Việt, những cao thủ của Trương Sĩ Thành, cũng lẫn lộn thay tên đổi họ trà trộn và phát triển Hải xà bang. Cao thủ của Đại Lý năm xưa muốn phục quốc nhưng cũng thành lập Thiên long hội... Nhưng Phượng Hoàng Bang, Bạch Liên Hội và Di Lặc Hội là ba thế lực đông người mạnh của nhất."
Trần Kỳ Anh cười mỉa mai:
" Cùng một lúc muốn chống lại bọn " Chu Cẩu", nhưng chưa làm làm cho tay chân họ Chu rụng một sợi lông, thì chúng ta tìm cách thống lĩnh, thu tóm lẫn nhau. Do sự xung đột xảy ra thường xuyên, cao thủ giao đấu liên tiếp, ta mới biết công lực của mình còn thua giáo chủ Bạch Liên Giáo rất xa, nên quyết tâm phải hoàn thành Lục Dương thần công. Ta giao hết mọi việc cho Phó Đồng và bốn vị "tứ đại tướng" Tô, Trương, Bành, Mã về đây ẩn cư. Không may, trong lúc ta đang vận khí ở giai đoạn khó khăn nhất của tầng thứ mười Lục Dương công, Phó Đồng đến bất ngờ. Ông ta bị thương nặng, vào thạch động gặp ta kêu lên một tiếng "công chúa" thống thiết rồi ngã ra chết. Vì xúc động, chân khí đi ngược đường, ta cũng ngã ra bất tỉnh.
Tỉnh dậy ta đem Phó tướng quân về Tổng đàn Phượng Hoàng bang mới biết chúng ta bị Di lặc hội, phối hợp với Ngũ độc giáo tấn công. Để bảo toàn lực lượng, Phó tổng quản đã liều mình tử chiến. Trong Phượng Hoàng bang, ông ta là người có võ công cao nhất, cũng cùng luyện Lục Dương thần công như ta, nhưng ông có hỏa hầu cao hơn và nhiều kinh nghiệm chiến đấu hơn.
Ta đi tìm Di lặc hội và Ngũ độc giáo trả thù cho Phó tướng quân, ông không khác gì nghĩa phụ của ta. Ta cũng cố luyện thêm Lục Dương công, nhưng từ ngày chân khí đi ngược ngã ra bất tỉnh, Lục Dương công của ta chẳng những không tiến bộ mà người ta sau đó ngứa ngáy khó chịu rồi lông đen mọc ra khắp mình mẩy. Ta từ một cô gái được truyền tụng là Phượng Hoàng Tiên Tử, trở thành người không dám gặp ai, để ai thấy mặt, và tiếng nói của ta cũng cứng dần. Ta từ người lần lần biến thành vượn!"
Nghe Kỳ Anh kể tới đây, Tích Nhân xúc động, ôm lấy vai bà kêu lên nghẹn ngào:
- Đại tỷ!
Kỳ Anh cảm nhận được sự xúc động của hắn, nắm chặt tay hắn như thầm tỏ lời cảm ơn, rồi kể tiếp:
"Là một con người ai cam tâm để cả thân thể mọc đầy lông lá không khác khỉ vượn, nhất là một cô gái như ta. Ta ra lệnh cho bang chúng Phượng Hoàng bang ngừng hoạt động, rút vào bóng tối, tập võ công, còn ta lo chữa chứng bệnh lạ của mình. Ta tự nghiên cứu, biết những võ công của Phật môn, người luyện phải từ từ mà tiến, không thể nôn nóng, đã để chân khí chạy ngược đường đó là một nguyên nhân. Nguyên nhân thứ hai, ta là nữ nhân lại tập luyện khí thuần dương đã làm cho con người thay đổi nhưng chỉ chưa nhìn thấy! Tóm lại, khí cương dương là nguyên nhân chính thay đổi nhân dạng của ta, muốn chữa trị, thân thể ta phải thu hút được khí chân âm, hay dùng kỳ bảo gì có theo đường hướng luyện khí dung hóa nó mới trở về nhân dạng.
Ta điều tra biết Ngũ độc giáo đã có thể nuôi một giống rắn rất hiếm quý ít khi tìm được là giống tiểu Bạch Long để tăng nguyên khí cho người luyện võ. Và đó là bảo vật trấn sơn của họ. Thân thể của Bạch Long kỳ đặc ở chỗ là sống trong điều kiện lạnh lẽo thì ai may ăn được, thân thể sẽ thụ đắc trên mười năm công lực chí dương, ngược lại sẽ thụ đắc được khí chân âm. Ta đã đánh cắp được con Bạch Long của Ngũ độc giáo, nhưng trong lúc bỏ chạy bị trúng tý ngọ hồn trâm của giáo chủ Ngũ Độc.
Trước đây để đi tìm vật chí âm, ta đã từng biết qua Xà Khê và xà động ở Đại Việt, nên cướp được Bạch Long, ta bôn ba đến xà động và tập cho Bạch Long quen sống trong nước nóng. Ta trồng tử diệp thảo, một loại cỏ độc khắp hòn cù lao đá giữa hồ, nó chẳng những xua đuổi rắn rết không dám lên cù lao, mà người thường bước chân tới cũng bị trúng độc mà chết. Tiểu Bạch Long phải sống trong điều kiện mới ba năm mới phát sinh hiệu dụng ta cần, vì thế sau khi bố trí, ta lại về Hồ Quảng, liên lạc với bang chúng khuyến khích họ luyện công, lẩn quanh tổng đàn Ngũ độc giáo để tìm thuốc giải. Khi bị trúng Âm Dương Tý Ngọ cốt, ta phải cố sức chạy, độc ở trong người quá lâu nên không cách gì vận công trục xuất ra ngoài. Ta chỉ dồn chúng vào một chỗ, ngăn chận không cho lây lan. Vì luôn luôn phải dùng một phần công lực để khống chế chất độc, không dám kịch chiến với cao thủ nên mấy năm ta cũng chưa thể gần gũi giáo chủ Ngũ độc giáo để lấy thuốc giải như ý muốn."
Nữ nhân cười:
- Không ngờ trời xui khiến ta tốn bao tâm huyết cho con Bạch Long, ngươi không biết ở đâu mò tới và dùng nó. Ta giận điên người, muốn ăn thịt uống máu của ngươi, nhưng lại sớm phát hiện ngươi bị chứng thất âm tuyệt mạch, một tuyệt chứng nhưng là điều kiện trăm năm khó gặp để luyện Huyền Âm thần công, một bí cấp ta đã tốn nhiều năm trời điều tra và mới lên tận Huyền Âm cung ở trường bạch sơn đánh cắp. Biết ngươi có điều kiện tốt như vậy, thay vì giết ngươi, ta đã mang ngươi về đây để ngươi luyện Huyền Âm công. Dĩ nhiên không phải muốn cứu mạng ngươi, mà mong sử dụng ngươi, để khi ngươi vừa hoàn thành, thì ta thu hút Huyền Âm chân khí trong người của người. Bây giờ ngươi đã hiểu âm mưu ác độc của ta chưa?
Tích Nhân thở dài:
- Đại tỷ ở trong một hoàn cảnh bắt buộc phải như vậy. Nghe đại tỷ kể lại, tiểu đệ chẳng những không chút hờn oán nào mà lại thấy ân hận, và thương đại tỷ hơn. Hiện giờ không biết phải làm sao để đền bù cho đại tỷ. Nếu được, Tích Nhân dù chết cũng chẳng từ nan.
- Trong cõi u minh có những sắp xếp mà con người không hiểu được. Ngươi đến xà động, bị ta dùng luyện Huyền Âm khí công mà lại hoàn thành Thái Ất thần công đều đâu phải ý ngươi mà hoàn toàn như do đất trời xui khiến. Có lẽ kiếp trước ta đã mang nợ nần gì với ngươi nên kiếp này phải trả.
- Kiếp này không trả được, tiểu đệ cũng nguyện kiếp sau sẽ trả hết ân nghĩa mà đại tỷ đã ban cho.
Rồi Tích Nhân nhiệt thành:
- Không hiểu có tiền kiếp hay không, nhưng từ lúc gặp đại tỷ, dù lạnh nhạt, hất hủi, nhưng tiểu đệ lúc nào cũng cảm nhận có cái gì thân thiết một cách kỳ lạ đối với đại tỷ, như thân thương tự bao giờ...
Kỳ Anh:
- Thật vậy sao? Ừ nhỉ! Ta định lợi dụng ngươi, nhưng ta cũng thấy ngươi có cái gì thật đặc biệt, đi đâu ta cũng... phân vân vì ngươi.
Tích Nhân reo lên:
- Nhất định tiền kiếp đại tỷ và tiểu đệ không phải là mẹ con, anh em, thì cũng...
Kỳ Anh:
- Hừ! Ngươi đã suýt nói bậy rồi!
Kỳ Anh la hắn dứt tiếng thì thân thể run lên, hối hắn:
- Có lẽ đã giờ tý.
Tích Nhân vội vàng truyền công lực cho bà ta. Khi Kỳ Anh qua cơn nóng lạnh, Tích Nhân chân thành:
- Thạch động cũng vậy mà ở đây cũng vậy, không có chỗ nào có thể để đại tỷ có thể nằm nghỉ mà không bị khí lạnh xâm nhập. Xin đại tỷ dựa vào người tiểu đệ mà ngủ. Đại tỷ phải ngủ mới được.
Kỳ Anh thở dài, rồi dựa vào ngực hắn. Khi Kỳ Anh thở đều, Tích Nhân nhìn mặt mày tay chân Kỳ Anh càng thương cảm, hắn không chút động đậy, suốt đêm ngồi vận khí để sưởi ấm giấc ngủ của bà.
Kỳ Anh ngủ một giấc bình thản cho đến sáng. Mở mắt thấy Tích Nhân vẫn ngồi yên, bà cảm động:
- Nhân đệ!
Chỉ hai tiếng nhưng chứa đầy thương yêu, thân thiết.
Tích Nhân cũng mở mắt ân cần:
- Đại tỷ thấy trong người thế nào?
- Ta cảm thấy rất khoẻ. Nhưng ngươi chắc cả đêm không ngủ, hãy điều tức giây lát đi.
Kỳ Anh chống tay ngồi lên, nhưng mới bước xuống tảng đá xiêu xiêu ngã. Tích Nhân vội đỡ bà:
- Đai tỷ muốn đi đâu?
- Ta cần một chỗ vắng vẻ.
Tích Nhân ngơ ngác:
- Đại tỷ có ai đâu ngoài đại tỷ và tiểu đệ?
- Thật là ngốc tử, con người mới ngủ dậy ai mà chẳng phải...
Tích Nhân vỡ lẽ:
- Tiểu đệ đúng là ngốc!
Biết Kỳ Anh muốn đi đâu, Tích Nhân đỡ bà đến một bờ cỏ cao rồi đi tránh. Khi thấy Kỳ Anh loạng choạng đứng lên thì trở lại dìu bà.
Từ đó, những giờ tý, ngọ Tích Nhân vận công hộ trì kinh mạch, ban đêm làm chỗ tựa cho Kỳ Anh ngủ. Ngược lại, ngoài lúc Tích Nhân phải ngủ giây lát, nướng cá cho hai ngươi ăn, đưa mật rắn hay trái cây Bạch Ưng mang về cho Kỳ Anh dùng, còn tất cả thì giờ Kỳ Anh ngồi dựa thân cây chỉ hắn thu phát công lực, vận khí truyền âm, chưởng chỉ, khinh công, kiếm pháp các môn phái võ lâm Trung nguyên. Vì Kỳ Anh cử động khó khăn, chiêu thức bà ta phải dùng lời nói diễn tả nhiều hơn biểu diễn cho Tích Nhân xem nên sự hấp thụ của Tích Nhân rất chậm chạp. Tuy vậy Kỳ Anh hết lời khen ngợi và vui mừng. Vì theo bà sự tiến bộ của Tích Nhân cũng nhanh hơn dự định. Thời gian qua mau, sức khỏe Kỳ Anh càng ngày càng yếu, sự hướng dẫn của bà cũng chậm lại và sự đi đứng của bà không còn như trước, Tích Nhân phải bồng mỗi khi cần di chuyển. Một điều Tích Nhân cũng nhận thấy, khi Kỳ Anh càng mất sức, thì lông lá trên mặt trên tay của bà ta cũng hình như rụng dần. Một hôm ngứa ngáy khắp toàn thân, bà ta không muốn nói với Tích Nhân, nhưng rồi tối đó không thể không bật ra tiếng rên rỉ. Tích Nhân lo sợ:
- Đại tỷ cảm thấy như thế nào? chuyện gì xảy ra?
Kỳ Anh hổn hển:
- Ta đang ngứa, ngứa như nứt da, xé thịt... Có phải đã quá dơ bẩn hay không, ngươi tìm cách.... tìm cách đưa ta xuống hồ cho ta tắm rửa một chút xem thử có bớt không?
Hiện giờ Kỳ Anh đã không còn cử động chân tay nữa, đi đâu Tích Nhân phải bồng ba ta, và ngay cả phải nhắm mắt để giúp Kỳ Anh cởi bỏ giải quyết những cần thiết của thân thể, thì làm sao để bà ta có thể tự tắm rửa được?
Tích Nhân xem Kỳ Anh không khác chị ruột, có nghĩ đến những bất tiện giữa nam nữ cách biệt, nhưng cũng cho rằng dù phải làm thế nào đi nữa mà lòng chân chính, thì cũng chẳng có gì phải uý kỵ. Nghĩ vậy, Tích Nhân không ngại ngùng, bồng Kỳ Anh lội xuống hồ, một tay đỡ bà, nhắm mắt, cởi bỏ áo quần của bà ta. Kỳ Anh có chút hốt hoảng, nhưng rồi bà ta cũng thấy rằng không còn cách gì khác. Người nghĩa đệ đã khoáng đạt biến phải tùng quyền, thì tại sao mình lại câu chấp?
Tích Nhân tắm cho Kỳ Anh, bồng bà lên đặt ngồi dựa gốc cây, xuống hồ giặt giũ bộ quần áo bà đã mặc quá lâu cho sạch rồi nhắm mắt lên bờ mặc lại cho bà. Sau đó truyền chân khí, vận dụng sức nóng trong thân thể bốc ra sưởi ấm bà.
Kỳ Anh dựa lên người Tích Nhân, mắt ứa lệ, nhiều câu hỏi đặt ra trong đầu, không hiểu giữa mình và Tích Nhân thật sự tiền duyên nghiệp chướng như thế nào? Tuy nhiên Kỳ Anh cũng thấy rằng những ngày bên hắn dù trở thành một người bất lực, chịu nhiều khổ sở của thân thể, nhưng cũng cảm nhận những cảm giác êm ái thân thương kỳ diệu, những niềm vui chưa bao giờ có. Kỳ Anh chìm vào giấc ngủ với nụ cười trên môi.
Sáng dậy, khi Kỳ Anh vẫn còn ngủ, Tích Nhân cúi xuống nhìn người đại tỷ, không tin ở mắt mình. Khuôn mặt của Kỳ Anh hôm nay đây đó vẫn còn một ít lông đen đúa, có chỗ ửng đỏ nhưng khuông mặt của bà đã hiện rõ khuôn mặt của một giai nhân. Tích Nhân không tin ở mắt mình, nhưng nhắm mắt mở ra vẫn thấy không có gì thay đổi.
Kỳ Anh mở mắt, như thường lệ gọi:
- Nhân đệ!
Tích Nhân như cái máy:
- Đại tỷ!
Kỳ Anh thấy ngay ánh mắt của hắn:
- Ngươi nhìn ta có vẻ kỳ lạ?
Tích Nhân bồng Kỳ Anh ra bờ hồ:
- Đại tỷ nhìn xuống nước xem, thì hiểu tại sao tiểu đệ đã không thể không nhìn đại tỷ.
Kỳ Anh nhìn mặt mình dưới nước, nhìn hai bàn tay và cánh tay rồi bảo Tích Nhân:
- Ngươi cho ta xem hai chân ta như thế nào?
Tích Nhân vén ống quần bà lên. Kỳ Anh nhìn bắp chân mình vẫn còn đầy lông, nhung có lẽ cũng đã rụng nhiều, đôi mắt chợt rơi lệ:
- Có lẽ trước khi ta chết, ta có thể trở lại làm người.
Tích Nhân:
- Đại tỷ chắc chắn là một tuyệt thế giai nhân.
Kỳ Anh thở dài:
- Ta cũng chẳng đẹp gì lắm đâu. Nhất là trải qua bao nhiêu thời gian phải sống dưới hình dạng không khác gì khỉ vượn.
Từ hôm đó, người Kỳ Anh tiếp tục ngứa ngáy. Có khi Tích Nhân gãi, chà xát cho bà, có khi Tích Nhân bồng bà đi tắm. Mỗi ngày lông trên người Kỳ Anh rụng thêm một ít, da của Kỳ Anh sau khi rụng lông, đỏ và sần sùi, nên những khi tắm cho nàng, Tích Nhân cũng không mảy may có cảm giác ngại ngùng.
Một buổi sáng, sau khi tắm cho kỳ Anh trong đêm, Tích Nhân mở mắt thấy người nằm tựa lên ngực mình là một cô gái, một tuyết thế giai nhân. Khuôn mặt trắng như trứng gà bóc, đôi môi không thoa son mà đỏ hồng, lông mi cong vút. Hai bàn tay bỏ xuôi theo thân người cũng chẳng khác ngọc ngà. Tích Nhân không thể tưởng tượng Kỳ Anh trẻ như vậy và đẹp như vậy. Tích Nhân lúc nào cũng trân trọng Kỳ Anh, trong lòng không bao giờ có chút tà niệm dù gãi hay tắm rửa lên da thịt, nhưng sáng hôm ấy hắn chợt thấy lòng bâng khuâng, phải nhắm mắt không dám nhìn lâu, ngồi im nín thở cho đến khi Kỳ Anh thức giấc và gọi tên hắn như thường ngày.
Tích Nhân nhắm mắt, thở dài:
- Người ta ca tụng Hằng Nga nơi nguyệt điện, hay Tây Thi, Dương Quí Phi ngày xưa, tiểu đệ không những người đó có đẹp như Đại tỷ hay không?
Kỳ Anh ngạc nhiên:
- Nhân đệ nói gì vậy?
Tích Nhân không trả lời, lại bồng ba lên ra hồ nước:
- Đại tỷ nhìn xuống hồ nước sẽ hiểu lời tiểu đệ nói.
Kỳ Anh nhìn xuống mặt hồ, nhìn hai bàn tay mình, rồi bảo hắn:
- Ngươi cho ta xem những nơi khác trên người ta như thế nào?
Tích Nhân lại vén ống quần bà lên. Kỳ Anh nhìn bắp chân mình, bấy giờ đã trắng nuốt như ngó ngọc, lại nghẹn ngào:
- Ta đã hoàn toàn thật sự làm lại con người.
Tích Nhân ngờ vực:
- Đại tỷ trông chỉ độ trên hai mươi, cũng không lớn hớn tiểu đệ là bao, nhưng sao lại bảo mình đáng tuổi...
Kỳ Anh:
- Ta cũng không ngờ! Ta từ người biến thành vượn ở lúc vừa hai mươi ba tuổi. Hôm nay ta hoàn toàn trở lại hình dạng con người thì cũng giống như lúc hai mươi ba tuổi của năm xưa. Bây giờ ta thật vui, nhưng...
Kỳ Anh nhắm mắt thở dài:
- Có lẽ một vài hôm nữa, ngươi đưa ta lên thạch động. Ta cảm thấy trong người đã yếu rất nhiều.
Tích Nhân:
- Lên thạch động lúc nào cũng được. Nếu tỷ tỷ muốn tiểu đệ đưa đi ngay.
- Ừ! Nếu đi bây giờ cũng được.
- Đại tỷ không cần tiểu đệ đưa đi...
- Ngươi cứ giúp ta như mọi ngày, sau đó đưa ta lên thạch động.
Tích Nhân đã phải bồng và giúp Kỳ Anh việc bài tiết hàng ngày, nhưng hôm nay hắn chợt cảm thấy hơi khó khăn, hình như phải lấy hết can đảm. Có lẽ bàn tay run run của hắn cũng làm cho Kỳ Anh cảm nhận một cảm giác kỳ lạ, đôi má cũng chợt ửng hồng.
Đưa Kỳ Anh lên thạch động, bà ta bảo Tích Nhân để mình xuống nền, đẩy tảng đá như chiếc bàn giữa động sang một bên. Tích Nhân làm theo lời thấy dưới tảng đá một cái hầm lớn, bên trong để bốn cái hộp, Kỳ Anh dạy hắn đem hết ra ngoài.
Tích Nhân lại bồng kỳ Anh lên, đặt bà ta ngồi dựa lên người mình.
- Đại tỷ nhìn xem có thiếu thứ gì không?
- Dĩ nhiên là không. Không ai biết nơi đây ngoài ta, Phó tướng quân đã chết, và ngươi. Những gì ngươi mới đem ra là tài sản quan trọng nhất của Phượng Hoàng bang và của ta. Bốn cái rương này, rương thứ nhất đựng sách vở. Tất cả đều là võ công bí kíp, từ nay ta mong ngươi bảo quản sử dụng cho đúng. Chọn nhân tài có căn cơ đức độ mà truyền thụ. Hộp thứ hai để Phượng Hoàng ngọc lệnh bài và danh sách bang chúng. Phượng Hoàng ngọc lệnh là lệnh bài của bang chủ Phượng Hoàng bang, bang chúng thấy nó như thấy bang chủ. Đáng lẽ ta phải trịnh trọng thắp bàn hương án hai tay truyền lại cho ngươi, nhưng tay chân ta đã bất động...
Tích Nhân biết kỳ Anh đang trối trăn, xúc động ôm bà bật khóc:
- Đại tỷ! chẳng lẽ... đại tỷ trối trăn với tiểu đệ!
Đôi mắt trong trẻo, tinh anh của Kỳ Anh cũng long lạnh giọt lệ, nhưng rồi cười nhẹ:
- Ngươi đã là một thanh niên to lớn mà mỗi chút mỗi khóc hay sao? Ta đã chết đâu? Có thể cũng còn phiền ngươi thêm vài ngày nữa.
Tích Nhân nói trong tiếng nấc nghẹn:
- Nhưng tiểu đệ cảm thấy...
Hắn bồng bà đứng lên:
- Tiểu đệ đưa đại tỷ đi khỏi nơi nầy, tìm thần y điều trị.
Kỳ Anh gắt:
- Ngươi điên rồi hay sao? Ngươi cũng biết mạng ta chỉ còn ngày giờ hay sao? Ta đã bảo không có thần y nào có thể cứu chữa nổi.
Nghe Kỳ Anh lớn tiếng rồi thở hổn hển, Tích Nhân vội bồng bà trở lại, ngồi xuống sàn dựa lưng vào vách đá, nước mắt lã chã tuôn rơi.
Kỳ Anh nhẹ nhàng:
- Ngươi truyền một ít chân khí cho ta. Ta có thể sống thêm vài ngày, nhưng những ngày này ta chỉ hoàn toàn sống vào chân khí của ngươi.
Tích Nhân đặt Kỳ Anh xuống nền đá để bà dựa vào mình thúc đẩy chân khí vào người bà. Kỳ Anh:
- Ta chết khi đã có thể nhìn thấy mình trở lại hình dáng con người và cũng được chết bên cạnh một người thương quí ta chân thành, ta vô cùng mãn nguyện. Sinh ly tử biệt là chuyện thường của đời người. Ngươi là nam nhi đại trượng phu, không nên hở một chút là rơi lệ. Ta mong những ngày còn lại của ta được vui và nhìn thấy ngươi vui vẻ.
Tích Nhân nuốt nước mắt, vừa chuyền chân khí, vừa bồng Kỳ Anh lên:
- Tiểu đệ đưa tỷ tỷ ra ngoài, ra khỏi khu vực này để tỷ tỷ có thể nhìn thấy cảnh đẹp thiên nhiên.
Kỳ Anh mỉm cười:
- Ngươi muốn đưa ta đến đâu thì đi, nhưng thạch động này phải là chỗ đưa ta trở về.
Tích Nhân ra thạch động, một tay kẹp Kỳ Anh, một tay đu dây lên đầu núi. Dù tay kẹp một người nhưng đôi chân đạp lên thành đá phóng lên, tay chụp sợi dây, Tích Nhân nhanh nhẹn không khác con vượn phóng mình lên cây. Đặt chân xuống đầu núi hắn vội lấy hai tay bồng Kỳ Anh và hỏi:
- Đại tỷ có mệt không?
Kỳ Anh mỉm cười, nụ cười làm đôi mắt Tích Nhân ngơ ngẩn:
- Ta không mệt mà vui vì thấy khinh công Nhân đệ giang hồ hiện nay không ai qua được.
- Tất cả đều nhờ đại tỷ chỉ điểm.
Tích Nhân nói như cái máy, nhưng đôi mắt như bị khuôn mặt, cặp mắt và đôi môi Kỳ Anh thôi miên.
Bắt gặp ánh mắt của hắn, đôi má Kỳ Anh ửng hồng làm cho nàng càng xinh đẹp, và Tích Nhân như cái máy, như miếng kim loại trước cục nam châm cúi xuống nàng. Kỳ Anh kêu lên:
- Nhân đệ! Ngươi...
Tích Nhân rùng mình, ngồi xuống đất, lắc đầu mấy cái cho bình tĩnh, lấy tay đánh vào má mình:
- Tiểu đệ thật vô lễ, thật hồ đồ...
Tích Nhân tự đánh đến tát thứ ba, thì Kỳ Anh kêu lên:
- Đừng điên nữa! Dừng lại đi!
Tích Nhân dừng đánh thở dài:
- Tha lỗi cho tiểu đệ! Tiểu đệ chẳng phải kinh mạn, nhưng tỷ tỷ...
- Ngươi thấy ta đẹp lắm phải không?
Tích Nhân thở dài:
- Tiểu đệ không hiểu Tây Thi, Dương Quí Phi năm xưa như thế nào, nhưng tỷ tỷ là một người mà tiểu đệ chưa thấy ai đẹp bằng. Một người như tỷ tỷ thi nam nhân dù gỗ đá cũng bị thu hút. Tiểu đệ cũng vậy.
Kỳ Anh nhìn hắn:
- Có lẽ ngươi là một tên háo sắc. Khi gặp ngươi ta xem gân cốt kinh mạch đã biết người còn con nít mà đã mất thân đồng trinh.
Tích Nhân chợt buồn:
- Có thể tỷ tỷ nói đúng. Tiểu đệ là một tên háo sắc. Chính vì thế mà suýt chết sớm vì bị nữ nhân lợi dụng.
- Người lợi dụng ngươi xinh đẹp lắm phải không?
- Nếu so với tỷ tỷ thì không khác gì gà so với phượng, nhưng lúc đó tiểu đệ tưởng nàng là tiên trên đời, và tốt với tiểu đệ không ai bằng.
- Thật vậy sao?
Tích Nhân cười buồn, kể lại mình là một đứa trẻ cha mẹ chết sớm như thế nào, sống khổ cực ra sao, gặp Thu Hà nhìn ra cây Đằng Tiên, sắp mưu lợi dụng như thế nào nhất nhất kể lại cho Kỳ Anh nghe. Nàng cảm động:
- Ta không ngờ Nhân đệ trải qua nhiều đắng cay như thế. Nhưng trong cõi mênh mông hẳn có sự xắp xếp nào đó, nên cũng vì thế mà Nhân đệ dùng con Bạch Long và gặp ta.
Nàng nhắm mắt:
- Ta mãi tự hỏi duyên nghiệp giữa ta và Nhân đệ như thế nào? Tuổi của ta lớn hơn Nhân đệ rất nhiều. Nhưng từ nhỏ đến lớn chưa một người đàn ông nào ta để vào mắt. Lúc ta gặp Nhân đệ thì Nhân đệ hoàn toàn loã lồ, và ta vác Nhân đệ đi cả ngàn dặm đường. Lúc ấy ta không có ý nghĩ gì, nhưng sau này lại cứ mãi có ấn tượng. Phải chăng vì ấn tượng này mà ta không
hutructiensinh
cắn lưỡi tự sát khi mất hết công lực và cũng không hận thù Nhân đệ. Khi ta hoàn toàn bất lực, thì Nhân đệ là người đàn ông bồng ẵm, tắm rửa cho ta. Hỡi ơi! Nếu nói ta không có những rung cảm nào qua sự đụng chạm với Nhân đệ thì thật dối mình, nhưng thừa nhận thì thật là tội lỗi... xấu hổ!
Tích Nhân ôm ghì Kỳ Anh cúi xuống nàng trong xúc cảm:
- Tỷ tỷ! Chúng ta không dối minh nữa! Tỷ tỷ là Phượng Hoàng Tiên Tử hai mươi ba tuổi, còn tiểu đệ đã hai mươi.
Kỳ Anh thở dài:
- Ta thật sự lớn tuổi hơn Nhân đệ rất nhiều. Hố cách biệt không thể nào còn san phẳng. Hơn nữa ta là người... sắp chết! Nhân đệ lại nói chuyên yêu đương với người sắp chết để làm gì? Tình cảm, sự rung động của mỗi chúng ta thật sự như thế nào mình tự biết chẳng hay hơn? Ta muốn những ngày còn lại, ta và Nhân đệ thật vui vẻ với nhau.
Kỳ Anh nhắm mắt, tiếng nói nhỏ lại:
- Nhân đệ đã bồng ẫm vuốt ve, đêm ngày ta trong cánh tay Nhân đệ, thì còn ngại, tiếc gì với Nhân đệ nữa? Chỉ tiếc ta không thể làm gì hơn cho Nhân đệ... Ôi! Ta sắp chết mới biết sự gần gũi giữa người nam và người nữ có những kỳ diệu là thường.
Tích Nhân cúi xuống đôi môi đang chờ đợi của Kỳ Anh, và thân thể bất động của nàng run nhẹ trong cánh tay hắn.
Từ hôm đó, Tích Nhân bồng Kỳ Anh lúc ngồi trên đỉnh núi đón mây, nhìn trời đất bao la, núi rừng trùng điệp. Lúc đưa nàng xuống suối, lên sườn núi hái hoa kết lên tóc nàng. Họ có những ngày thật vô cùng hạnh phúc, nhưng chỉ được năm sáu ngày thi Kỳ Anh yếu hẳn, nàng bảo hắn đưa nàng về thạch động.
Lúc này, giữa họ không còn có những uý kỵ, Tích Nhân tiếp chân khí cho nàng qua huyệt Khí Hải để Kỳ Anh có thể nằm nhìn được khuôn mặt của hắn. Thấy hắn lại rơi lệ, Kỳ Anh khuyên nhủ:
- Duyên nợ hai ta kết thúc như thế này càng tốt đẹp. Ta có sống nữa cũng không thể làm người yêu trọn đời trọn kiếp với Nhân đệ. Những ngày qua, ta cảm thấy ngập tràn hạnh phúc. Ta như một cô gái hai mươi ba tuổi vừa biết yêu lần đầu và cũng được yêu. Ta sống thêm nữa chỉ làm cho chúng ta đau khổ.
Tích Nhân bật khóc:
- Tiểu đệ thật không cam tâm! Vì dù tiểu đệ có chết để tỷ tỷ sống, thì tiểu đệ cũng cam lòng. Tiểu đệ còn ngu muội, nếu còn cách gì để tỷ tỷ có thể kéo dài thêm thời gian xin hãy bảo cho tiểu đệ biết. Tỷ tỷ nói đi, đừng giấu tiểu đệ nữa!
Kỳ Anh cũng sa lệ:
- Ta muốn được cử động giây lát, được lau nước mắt, được ôm Nhân đệ trong giây lát, nhưng ta không làm được. Bây giờ ta rất muốn sống, sống thật sự mạnh khỏe trong vài bữa, được thật sự làm vợ Nhân đệ, nhưng...
Tích Nhân một tay chuyền chân khí, một tay ép nàng vào ngực mình, lớn tiếng trong tận cùng xót xa:
- Trời hỡi! Chẳng lẽ người nào thật sự yêu thương tiểu đệ đều phải chết tức tưởi? Trước kia là mẫu thân tiểu đệ, bây giờ là tỷ tỷ!! Tiểu đệ không thể nào quên cái chết của mẫu thân, thì hôm nay tiểu đệ cũng sẽ không bao giờ quên tỷ tỷ. Hãy cố sống thêm với tiểu đệ. Một giờ, một phút cũng là quí giá vô cùng. Tỷ tỷ mất, tiểu đệ vĩnh viễn không yêu bất cứ một người nào khác. Tiểu đệ sẽ sống mãi với hình ảnh của tỷ tỷ. Nàng là đại tỷ vô vàn trân trọng, nàng là tỷ tỷ vô vàn thương yêu, nàng là người yêu không ai có thể thay thế... Tỷ tỷ chết, tiểu đệ trọn đời sẽ chỉ sống với hình ảnh tỷ tỷ!
Trong xúc động tột cùng, Kỳ Anh đang mềm như bún bỗng như có một sức mạnh thần diệu nào đưa tới, hai cánh tay nàng tự nhiên vươn ra ôm lấy cổ hắn:
- Nhân đệ!
Và nàng bật khóc, tiếng khóc mừng vui. Tiếng kêu chất chứa yêu thương tận cùng, tiếng khóc cảm động của Kỳ Anh, và vòng tay của nàng làm Tích Nhân cúi xuống nàng trong cảm xúc tột cùng:
- Anh tỷ!
Và hắn mừng rỡ:
- Anh tỷ! nàng đã có thể cử động! Đôi tay của nàng! Nàng có thể cử động! Nàng sẽ sống mãi!
Hắn bồng nàng đứng lên nhảy cỡn, vẻ mặt hân hoan, vui sướng tọt cùng. Nhìn sự vui mừng của hắn Kỳ Anh càng cảm động, nàng úp mặt lên vai hắn, cũng vui mừng:
- Ôi! Ta thật sự có thể ôm được Nhân đệ! Trời đất thật thương ta.
Vòng tay của nàng ôm chặt hắn hơn. Tích Nhân hớn hở bồng Kỳ Anh, vừa la vừa reo một lúc rồi đặt nàng xuống:
- Tỷ tỷ xem mình có thể đứng không nào?
Hắn đặt Kỳ Anh xuống, hy vọng nàng có thể đứng, như đôi tay nàng có thể cử động, nhưng không, đôi tay nàng vừa rời khỏi cổ hắn, thì cả thân người cũng lại như trước, không có chút sức lực nào, liền ngã ngửa. Nếu Tích Nhân không nhanh tay chụp lại, thì nàng đã đập đầu xuống đá.
Tích Nhân ôm Kỳ Anh trở lại, mặt tràn đầy thất vọng. Kỳ Anh thở dài:
- Nhân đệ đừng hy vọng nữa! Người ta thường nói đến sức mạnh tinh thần, phản xạ vô thức. Sức mạnh tinh thần có thể làm cho con người có những phần ứng bất ngờ. Trong lúc quá cảm xúc trước tình yêu của Nhân đệ, con người ta đã có một phản ứng không ngờ như vậy. Đấy chỉ là giây phút nhất thời mà thôi.
Tích Nhân chìm đắm trong sự suy nghĩ, lẩm bẩm: sức mạnh tinh thần... phản xạ vô thức! sức mạnh tinh thần...
Hắn la lên:
- Phải chăng khi cảm xúc, tỷ tỷ quên mình, không biết mình bị chất độc khống chế thì tay chân cử động được? Như vậy phải chăng chất độc đã khống chế tư tưởng của tỷ tỷ hơn là nó có tác dụng làm cho gân cốt không hoạt động?
- Ta không biết về chất độc nhiều, chỉ biết âm dương tý ngọ làm gân cốt mềm nhũn như nhuyễn cân tán. Tuy nhiên, nhuyễn cân tán chỉ ảnh hưởng trên con người một thời gian, còn âm dương tý ngọ làm cho người nóng lạnh và yếu dần cho tới chết. Tình trạng của ta hơn mấy tháng nay như thế nào Nhân đệ đã rõ.
Nàng thở dài:
- Nhân đệ đừng mang theo ảo tưởng nữa.
Tích Nhân chìm đắm suy tư và bỗng cúi xuống Kỳ Anh. Hắn cúi xuống, mở tung và say đắm hôn lên những vùng mẫn cảm của nàng. Người Kỳ Anh như nóng lên, con tim đập nhanh hơn... Tích Nhân chờ đợi một phản ứng nào đó của nàng. Có thể nàng ôm lấy hắn hưởng ứng, hay có thể nàng vùng lên tát cho hắn một tát tai vì cho rằng hắn đang mạo phạm... thế nhưng tay chân Kỳ Anh vẫn không nhúc nhích..
Tích Nhân không thấy một phản ứng nào lại ồm nàng khóc:
- Tỷ tỷ...
- Ta hiểu Nhân đệ muốn làm gì! Ta cũng muốn ôm lấy Nhân đệ. Hơn lúc nào hết ta muốn ta khỏe mạnh để được hiến dâng và đón nhận sự đê mê của tình yêu... nhưng số ta là như vậy!
Nàng não nuột:
- Nhưng như vậy cũng hay hơn để sau này Nhân đệ khỏi phải áy náy... hay khó quên..
- Chẳng lẽ đến lúc này tỷ tỷ vẫn không hiểu tình yêu của tiểu đệ? Giữa hai ta như có cái gì thiêng liêng gắng bó nhau từ bao nhiêu đời trước. Nếu tỷ tỷ đi đứng khỏe mạnh được, chúng ta ở đây trọn đời trọn kiếp, hay làm đôi chim hạc nội mây ngàn, thì đó là những ngày vui sướng và hạnh phúc nhất của tiểu đệ..
- Ta hiểu, ta đang được an ủi và đang được sống trong những giờ phút hạnh phúc nhất... nhưng ta cũng cảm thấy thân thể ta, từ trong xương đang lạnh ra và lạnh dần...
Tích Nhân vội thúc chân khí vào người nàng.
- Hãy để ta được nhìn Nhân đệ.
Tích Nhân thay đổi vị trí để tay lên huyệt khí hải của Kỳ Anh. Nàng nhìn khuôn mặt hắn:
- Đáng tiếc, ta không có khả năng để chải tóc, cạo râu cho Nhân đệ, dù tóc tai bù xù, râu ria tua tủa nhưng Nhân đệ là một trang mỹ mạo nam tử. Sau này ra giang hồ, không biết bao nhiêu cô gái sẽ mê mệt vì Nhân đệ!
- Nhưng từ hôm nay, tiểu đệ chí sống với hình ảnh của tỷ tỷ. Không có ai có thể thay thế tỷ tỷ.
- Đừng như vậy! Ta muốn Nhân đệ có người săn sóc. Một trong bốn chiếc rương là vàng ngọc. Đó không phải là tài sản của Phượng Hoàng bang, mà là của mẫu thân ta để lại cho ta. Sau này, Nhân đệ hãy thay ta tặng lại cho người Nhân đệ yêu thương.
Tích Nhân xót xa:
- Tỷ tỷ lại trối trăn?
- Hãy để ta nói, cũng không hẳn là lời trối trăn trước khi mất, mà nói để Nhân đệ nhớ.
- Sau khi ta mất, Nhân đệ thay ta nhận chức bang chủ Phượng Hoàng bang, chiếu cố cho bang chúng. Suy nghĩ cho cùng ta thấy việc tạo binh lực để lật đổ nhà Minh thành hay bại chưa biết ra sao nhưng sẽ gây ra không biết bao nhiêu tang tóc cho dân chúng, nên khi thay ta, Nhân đệ đừng để cho bang chúng bị cẩm y vệ Minh triều, Bạch liên giáo đàn áp, hướng dẫn chúng hành hiệp trượng nghĩa, tạo danh dự và tìm chỗ đứng xứng đáng trong võ lâm. Không nên nghĩ chuyện tranh bá đồ vương nữa. Sau này Nhân đệ không muốn làm bang chủ, tìm người có căn cơ, đức độ truyền Lục Dương thần công và võ công trấn bang cho hắn. Nhân đệ có thể hứa với ta?
- Tiểu đệ xin hứa.
Kỳ Anh tiếp lời:
- Giang hồ vô cùng hiểm ác, trước đây ta cũng chủ trương lấy hiểm ác đối phó với hiểm ác, nhưng nghĩ lại ta cũng từng giết oan nhiều người, vì vậy xông pha giang hồ Nhân đệ không nên quá yếu mềm để bị người lừa gạt, nhưng cũng không nên tự thị võ công gây ân oán khắp nơi. Với tính tình của Nhân đệ, ta lo dễ bị lừa gạt hơn là trở nên một hung thần. Nhân đệ dễ bị yếu lòng, nhất là với phụ nữ. Hãy nhớ, phụ nữ càng đẹp lòng dạ càng khó lường, ta mong Nhân đệ sau này luôn luôn cẩn trọng.
Tích Nhân:
- Tiểu đệ đã từng bị phụ nữ lừa gạt nên sẽ luôn luôn ghi nhớ lời Anh tỷ.
Kỳ Anh nhìn đăm đăm khuôn mặt hắn:
- Tích Nhân là một nam nhân mà nữ nhân có lẽ ai cũng ưa thích. Ta mong Nhân đệ cẩn trọng sau này. Đừng nói với ai, bất cứ ai chúng ta đã có những giây phút thân ái thế này. Hoàn cảnh kỳ lạ, mối tình kỳ lạ của chúng ta không ai hiểu được. Nói ra chỉ gây phiền não cho Nhân đệ và cũng làm cho bang chúng Phượng Hoàng bang và giang hồ dị nghị. Giải thích sự ra đi của ta cũng không nói đến việc biến thành dã nhân, khỉ vượn... làm gì! Bảo với họ ta luyện công bị tẩu hỏa nhập ma mà mất...
Nàng lại dặn thêm hắn:
- Nhân đệ đang có nội lực trong gian hồ hiện nay không ai bằng. Nhưng quyền chưởng, kiếm chiêu vì ta bị bệnh và Nhân đệ cũng đã dành thì giờ rất nhiều săn sóc cho ta nên chưa học được nhiều, sau khi ta mất, hãy dẹp sự thương tiếc, cố nghiên cứu các bí kíp và tập luyện cho thuần thục trước khi rời khỏi nơi đây...
Đôi mắt Kỳ Anh sáng lên như muốn thu hút hình ảnh hắn và tâm trí, rồi nhắm mắt.
Đôi mắt Trần Kỳ Anh nhắm lại, và giây lát sau Tích Nhân thấy chân khí của mình không thể đưa vào người nàng được nữa.
Tích Nhân ôm chặt Kỳ Anh, không còn rơi được giọt nước mắt nào.
Dù sao cũng không thể ôm mãi một xác chết. Mấy hôm sau Tích Nhân dọn dẹp sạch sẽ thạch động phía sau, đem Kỳ Anh đặt ngay ngắn trên một tảng đá, rồi bịt kín lối ra vào.
hutructiensinh
HỒI THỨ SÁU

Kết Tình Bằng Hữu

Sau khi Kỳ Anh mất, Tích Nhân thương nhớ không nguôi. Tất cả những hình ảnh của nàng, dù lúc Kỳ Anh cả người lông lá không khác khỉ vượn, đến khi trở về với hình dạng thực sự trông như mới trên hai mươi xinh đẹp tuyệt trần, Tích Nhân đều thấy thân thương yêu quí vô cùng. Hắn không muốn rời bỏ nơi nhiều kỷ niệm này, nên vẫn tiếp tục ở lại và vâng lời Kỳ Anh hàng ngày nghiên cứu thêm kiếm chiêu, quyền pháp từ những bí lục nàng lưu lại. Mấy tháng sau, Tích Nhân thấy rằng đi đâu ở đâu hắn cũng không thể quên Kỳ Anh, như vậy tại sao phải ở mãi trong đáy vực? Hắn có những bổn phận mà người mẹ hiền trước khi chết trông cậy. Hắn cũng phải làm những gì Kỳ Anh đã mong mỏi ở hắn trước khi mất nữa chứ!
Vào một buổi chiều, Tích Nhân nói lời giã biệt Bạch Ưng, con vật như cũng hiểu ý, sáng hôm sau nó không rời thung lũng sớm như thường lệ. Khi hắn vào thạch động đẩy hòn đá to lấy Phượng Hoàng ngọc lệnh và ít châu ngọc phòng thân, đu dây lên vực đá, Bạch Ưng bay theo vần vũ trên đầu. Vì không biết đang ở đâu, nhưng nhớ trước đây Kỳ Anh đưa đi hướng Tây Bắc, bây giờ Tích Nhân xuống núi nhắm hướng Đông Nam. Bạch Ưng lại đáp xuống cắn áo hắn. Mấy lần như vậy, Tích Nhân hỏi:
- Phải chăng tiểu ưng muốn đưa ta đi đâu? Nếu vậy cứ bay thấp dẫn đường.
Bạch Ưng đảo một vòng rồi nhắm hướng Nam bay đi. Tích Nhân chạy theo. Đây là vùng núi cao hiểm trở, sườn núi có khi thẳng đứng, liên tiếp chập chùng. Chim ưng bay trên không, nhưng Tích Nhân đi dưới đất, dù khinh công có thể phi qua bờ bụi, phóng qua gộp đá, nhưng lên xuống một ngọn núi cũng mất khá lâu. Bạch Ưng tiếp tục vần vũ chờ hắn. Mãi đến chiều đến một thung lũng nhỏ, cỏ xanh mơn mởn, suối chảy róc rách, thông reo, én liệng, hươu nai từng bầy, cảnh sắc rất đẹp. Bạch Ưng bay lên một ngon đồi, Tích Nhân chạy lên theo, thấy đỉnh đồi bằng phẳng, ở giữa đỉnh có một gian nhà gỗ nhỏ đã hoang tàn, dây leo che phủ. Bạch Ưng đậu trên mái nhà. Tích Nhân xô cánh cửa, và chờ đợi giây lát cho mùi xú uế bay tản mới bước vào. Ánh sáng lờ mờ trong căn nhà cho Tích Nhân thấy trong nhà nhện giăng kín, trên chiếc bàn gỗ đóng kín bốn phía như cái tủ ở giữa nhà để một cái hộp đen dài. Bên trong, sát vách, trên bộ ván một cụ già mặc bạch bào đang ngồi nhắm mắt theo tư thế toạ thiền, ngoài ra không có gì cả.
Tích Nhân cung kính vòng tay:
- Xin kính chào tiền bối.
Cụ già không lên tiếng. Tích Nhân chào lần thứ hai cụ già cũng không trả lời. Nhìn nhện giăng khắp nơi, lắng nghe cụ già không có hơi thở, Tích Nhân biết cụ già có lẽ là chủ nhân của Bạch Ưng và đã chết từ lâu. Với Bạch Ưng, mấy tháng nay Tích Nhân xem nó không khác gì bạn của mình nên nên quỳ gối đập đầu cung kính:
- Không biết tiền bối đã qui tiên, mở cửa xúc phạm làm động đến di thể, xin tiền bối tha thứ.
Tích Nhân lạy đến lạy thứ ba, những tiếng lè xè bỗng vang lên, chiếc hộp đen trên bàn di chuyển từ từ lên cao, và phía dưới một cái hộp đen khác được nâng lên, và bị đẩy nhanh ra ngoài, gần mép bàn. Trên đầu hộp có mảnh giấy nhỏ: "Hài tử! Hộp này tặng ngươi".
Tích Nhân nâng chiếc hộp lên thấy nhẹ nhàng, mở ra xem, bên trong có chiếc áo đen dệt bằng một thứ tơ đặc biệt, sờ tay lên thấy mát lạnh, một hạt châu, một cây trủy thủ đen nặng chình chịch, một quyển sách dày với một phong thư:
"Ta là Trương Thái Thanh, giáo chủ đời thứ mười hai Ngũ độc giáo. Ngũ độc giáo nổi tiếng giang hồ, nhưng chuyên dùng độc, còn võ công chân chính thì thua xa các võ phái ở Trung Nguyên. Ta rất khó chịu vì việc này, vì thế để công tìm tòi mong sáng chế cho Ngũ độc giáo một môn võ công đặc biệt. Một hôm dạo chơi ở hồ Động Đình ta thấy giống chim ưng bay liệng bắt cá, thân pháp, móng vuốt kỳ ảo vô cùng. Chim ưng đã thu hút ta, vì thế sau đó cho người tìm chim ưng đem về nuôi, tập luyện cho thân quen, rồi hàng ngày nghiên cứu thân pháp của chúng. Ta say mê nghiên cứu võ công từ chim ưng, không muốn bị ai quấy nhiễu nên ở riêng một mình, quên hết công việc của Ngũ độc giáo và người vợ trẻ, kém hơn ta gần ba chục tuổi và mới có đứa con thôi nôi. Sau năm năm ta sáng chế được một bộ trảo pháp đặt tên là Thiên Ưng trảo, và một bộ khinh công đặt tên Thiên Ưng phi đằng. Ta vui mừng từ nơi ẩn cử trở về Ngũ độc giáo để khoe với Tần Giáng Tiên, vợ ta và mọi người. Ta dùng kinh công Thiên Ưng phi đằng trở về trong đêm, khinh công của ta đã qua tất cả những trạm canh mà cao thủ bản giáo không ai phát giác được. Hỡi ôi! Vì thế mà ta chứng kiến cảnh đau lòng. Giáng Tiên mà ta tưởng đang chờ mong, sẽ bất ngờ vui mừng ngày trùng phùng và sự thành tựu của ta, thì nàng đang trong vong tay sư đệ ta. Ta muốn giết chúng, nhưng nghĩ lại ta đã bỏ đi quá lâu, ta cũng có lỗi và chắc chắn đứa con gái của ta sau này biết ta giết mẹ nó cũng sẽ vô cùng đau khổ. Vì thế, ta đã âm thầm ra đi. Ta đến chỗ này, thấy cảnh sắc rất đẹp nên quyết định ẩn cư và thề không bao giờ trở về Trung nguyên nữa. Hơn mười năm, để quên đời, ta chú tâm nghiền ngẫm võ công, lại thấy thiên nhiên là thầy dạy võ công siêu việt nhất trên đời. Không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của gió bão, gió bão có thể xô ngã cây to, cành lớn nhưng không thể làm ngã cọng cỏ non.
Không có sức mạnh nào như thác, nhưng thác không làm sứt mẻ bờ đá. Không có gì cứng như đá, nhưng đá lại bị nước xói mòn... Cái lý nhu cương thật khó lường, cương có thể thắng nhu nhưng nhu có thể thắng cương. Ta cũng nghiền ngẫm, đối chiếu võ công của các môn phái, từ quyền chưởng đến binh khí ta lại thấy hoa dạng, rườm rà có khác nhau, nhưng rút lại thì căn bản cương hay nhu cũng giống nhau. Chiêu thức càng bỏ bớt huê dạng càng là chiêu thức độc đáo. Thiên Ưng trảo của ta sáng chế từ bảy mươi hai đường, dần dần rút xuống, và cuối cùng ta thấy rằng nếu tâm ta thanh tĩnh, đứng trước kẻ thù dữ coi như trẻ con, trước gió lớn không ngại, trước lửa dữ không màng, chiêu thức tùy tâm mà phát, tùy cương, tùy nhu, ra chiêu mà vô chiêu, hữu thức mà vô thức, tùy ý, tùy tâm mới là tuyệt chiêu, tuyệt thức, bất bại trước mọi địch thủ. Ta nghiền ngẫm và giác ngộ đến đây, thì ta cũng biết ngày giờ tạo hóa đã đến, viết thư này cho kẻ hữu duyên. Quyển sách để lại, tất cả là hình vẽ. Ta vẽ từ bảy hai đường Thiên Ưng trảo lúc đầu và cuối cùng đi đến một tư thế duy nhất, tuỳ ngươi lấy đó mà suy ngẫm. Chút máy móc để lại chỉ để thử xem ngươi là người có đức độ hay không mà thôi. Chiếc áo Kim ty thiên tầm có thể hộ mạng vì đao kiếm tầm thường không thể làm rách. Hạt châu là Hùng Hoàng châu, ngươi mang nó có thể tỵ bách độc. Cây Ngũ độc thần trủy thân năm sắc, chém sắt như chém bùn, đã tẩm hàng trăm chất độc khác nhau và ta đã trừ bỏ hết chất độc trên đó. Ba vật này đều là bảo vật trấn sơn của Ngũ độc giáo. Sau này nếu ngươi gặp con gái ta, thấy nó là người có thể giáo hóa, giác ngộ, có thể cải biến Ngũ độc giáo từ một tổ chức tội ác thành một tập thể hành thiện, thì truyền giùm võ nghệ của ta cho nó, nói cho nó biết tại sao ta ra đi, giao ba bảo vật cho nó, và giúp nó thực hiện tâm ý của người cha chưa bao giờ thấy mặt. Nếu con ta không phải là người có thể làm việc này, hay quá ác độc thì ngươi hãy dùng tam bảo và võ công của ta giải tán Ngũ độc thần giáo. Sau khi ngươi lấy hộp này hãy dùng lửa hoả thiêu căn nhà và thân xác của ta."
Tích Nhân đọc lá thư di lưu của Trương Thái Thanh, cúi lạy ông ba lạy:
- Vãn bối đã có duyên gặp gỡ, nguyện sẽ làm theo những gì mà tiền bối căn dặn.
Cất những vật được tặng, ra ngoài, Tích Nhân vận công lực thành lửa đốt căn nhà gỗ. Khi ngọn lửa đang bốc cháy mạnh, Bạch Ưng đang bay vẫn vũ trên trời kêu một tiếng bi ai, rồi đâm đầu xuống như sao sa. Tích Nhân không ngờ Bạch Ưng thông linh và trung thành với chủ như vậy, thương tiếc vô cùng.
Rời đỉnh đồi xuống bờ suối, Tích Nhân hái ít trái rừng ăn đỡ đói, lấy chiếc áo thiên ty mặc thử rất vừa vặn với mình và thấy trời đã tối bèn đốt lửa đem sách Trương Thái Thanh lưu lại lật xem.
Hình vẽ và bị chú của tập bí kíp hấp dẫn ngay Tích Nhân. Hắn vừa cầm sách vừa luyện thử. Hôm sau, tiếp tục tập luyện theo bộ bí kíp. Khi đã thuần thục chưởng pháp và khinh thân phi ưng, hắn lại nghiền ngẫm đến những lời Thái Thanh về sức mạnh thiên nhiên, lý lẽ cương nhu trong trời đất. Vốn đã học qua rất nhiều thứ võ công từ những bí lục của Kỳ Anh và Đằng Tiên bí kíp của mình, Tích Nhân hàng ngày ngồi yên, hay phân tích tìm ra chỗ dở của các môn võ, trong mấy tháng có nhiều ngày Tích Nhân quên ăn quên ngủ, có khi trời mưa như trút vẫn ngồi bất động, nhưng cũng chỉ nhận thấy được những chỗ cao siêu, những chỗ rườm rà của các thứ võ công mà không thể nào thấu đạt đến trình độ vô chiêu, vô thức. Một hôm Tích Nhân nghĩ rằng đây cũng chỉ là chỗ mà Trương Thái Thanh suy nghĩ mà thôi, chưa hẳn ông ta đã làm được trong mười năm nghiên cứu, thì hắn cũng không thể nào ở mãi giữa chốn núi rừng này. Sau khi nghĩ như vậy, Tích Nhân vái lạy nơi hỏa thiêu di thể Trương Thái Thanh, rời thung lũng.
Với khinh công Thiên Ưng phi đằng, Tích Nhân thấy lên núi, xuống núi dễ dàng hơn, có thể để thân hình rơi từ vài ba trượng trên cao xuống bên dưới, cho dù ở giữa vách đá cheo leo cũng có thể lấy lại thăng bằng dễ dàng. Vừa đi, vừa ngắm đồi núi mênh mông, vừa thực tập Thiên Ưng phi đằng, chiều hôm ấy, khi băng qua một dãy núi cao, Tích Nhân nhìn xuống phía trước mặt thấy một bản làng, khoảng vài chục căn nhà sàn. Mấy năm côi cút một thân một mình trong rừng núi, gặp bản làng đầu tiên, nhìn thấy những căn nhà, từ các mái tranh nâu những làn khói lam toả lan ôm ấp, Tích Nhân cảm thấy như đang được hít thở một thứ sinh khí kỳ diệu của cuộc sống, của con người, và cảm thấy thèm được tiếp xúc, được nghe tiếng nói người khác, và cũng thèm một chén cơm, một chén trà nóng vô cùng. Hơn nữa, nghĩ mình cũng cần phải hỏi thăm đường để biết đang ở đâu, Tích Nhân dùng khinh công xuống núi, tiến vào bản. Đây là một bản nhỏ nằm trong một vùng thung lũng núi non bao bọc, dù mùa đông cảnh sắc xinh đẹp lạ thường. Những căn nhà sàn lợp tranh, nằm e ấp dọc theo sườn núi thông trúc xanh rì. Chạy quanh chân núi là con suối nhỏ, rải rác có những chiếc cầu gỗ bắc ngang. Giữa thung lũng là một hồ nước độ vài mẫu, lấp lánh như gương. Bên bờ cỏ xanh mướt, trâu bò, lừa, ngựa thung dung gặm cỏ. Năm ba đứa nhỏ chạy đuổi nô đùa. Xuống đến chân núi, Tích Nhân phải băng qua một cánh đồng cỏ, mới đến được phía bản làng. Có lẽ thân thể cao to của hắn nổi bật lên giữa cánh đồng, được những đứa trẻ nô đùa chú ý, chúng chạy vội về nhà, vừa chạy vừa la, và phút chốc tiếng cồng, tiếng trống vang lên dồn dập. Khi Tích Nhân đến gần bờ suối, từ trong những căn nhà, đàn ông, đàn bà, kẻ vác gậy, người cầm liêm ba, đủ loại vũ khí túa ra như sắp lâm trận. Tích Nhân ngạc nhiên vì từ lâu cũng biết các sắc dân miền núi rất hiếu khách, không hiểu tại sao mình mới đến nơi họ lại hung hăng như vậy?
Người dân trong bản túa ra, nhảy qua suối, bao lấy hắn thành một vòng tròn, Tích Nhân cung tay:
- Ta hạ mới đến đây chẳng hay đã đắc tội gì với quý vị?
Đám đông bật lên nhiều tiếng là mắng:
- Ngươi là đồng bọn của lũ giết người...!
Trong lúc mọi người ồn ào, thì có tiếng đằng hắng, từ phía sau mọi người rẽ ra, nhường chỗ cho một cụ già độ bảy tám chục tuổi, một cô gái, và một thiếu niên bước vào. Cụ già thân hình to cao, bản mặt ngăm đen, rắn rỏi, cặp mắt sáng quắc. Ông cụ cầm trên tay một cây trường côn. Cô gái đi bên trái độ mười bảy mười tám, gọn ghẽ trong bộ võ phục màu xanh, đội khăn đen. Bộ võ phục ôm gọn vóc dáng cân đối. Chiếc khăn đen làm nổi bật làn da trắng nuốt, và đôi mắt to đen, xinh đẹp tuyệt vời. Có lẽ ngoài Trân Kỳ Anh, Tích Nhân chưa gặp cô gái nào xinh đẹp như cô ta. Cô gái tay cầm kiếm. Thiếu niên cũng như cụ già cầm một cây côn. Thiếu niên trông rất phương phi, mày thanh mắt sáng.
Tích Nhân nghĩ cụ già có lẽ là bản trưởng nên lại vòng tay:
- Vãn bối là Lê Tích Nhân, tình cờ đi ngang qua đây muốn xin nhờ bữa cơm chiều và hỏi thăm đường, không hiểu có hiểu lầm nào mà mọi người xem vãn bối như kẻ tử thù?
Ông lão chăm chú nhìn Tích Nhân, hỏi:
- Ngươi từ đâu đến?
Tích Nhân làm sao biết mình ở địa phương nào nên chỉ lấy tay chỉ:
- Từ phía Tây Bắc tới.
Ông lão tức giận:
- Đúng là đồ nghiệt súc, dám rỡn mặt với ta!
Dứt lời cây côn trong tay lão bủa tới, kình lực rất mạnh. Theo kình lực của ông lão, Tích Nhân nghĩ những cao thủ mà hắn đã gặp như Lý Đại Hùng, Thiên Thủ tam kiếm chưa phải là đối thủ của ông ta.
Thấy ông lão chưa chi đã giở chiêu đoạt mạng, và cũng muốn biết võ công của mình học hôm nay tới đâu, Tích Nhân đứng một chỗ, hai bàn chân không di động, theo đường côn đoán ra thế thức mà ngả người ra sau, chồm tới trước, lách qua tả hay hữu để tránh né. Đánh ra mấy chiêu, đều là những tuyệt chiêu của mình mà thấy đối thủ chỉ thung dung lách người tránh thoát trong đường tơ kẻ tóc, biết gặp người chẳng phải tầm thường, ông lão nhảy thối lui, giọng dè dặt:
- Xin cho biết tốn tính đại danh. Đến đây vì việc gì?
Tích Nhân thấy ông lão ra tay không nhân nhượng, nhưng mặt không có vẻ tà ác, nên lại cung tay:
- Thật tình vãn bối chỉ tình cờ qua đây. Vì đã mấy năm theo đại tỷ học võ trong lòng núi, không biết nơi đó là đâu nên không thể trả lời câu hỏi của tiền bối mà thôi.
- Các hạ võ công cao cường, hẳn đại tỷ là nhân vật danh vang bốn biển?
Tích Nhân thở dài:
- Đại tỷ Trần Kỳ Anh chẳng phải là người Đại Việt, mà vốn là bang chủ Phượng Hoàng bang ở Trung Nguyên.
Ông lão câu mày:
- Đã là người võ lâm ở vùng biên giới, không nghe biết tình hình võ lâm bên nước Minh ra sao, chẳng hóa kiến thức quá ư kém cỏi? Lão phu nghe Phượng Hoàng bang đã lâu không còn hoạt động. Phượng Hoàng Tiên Tử tuyệt tích giang hồ, chẳng lẽ mười mấy năm qua bà ta chỉ lo dạy dỗ cho thiếu hiệp?
Tích Nhân:
- Vãn bối có nhiều việc khổ tâm không thể nói rõ hành tung đại tỷ tỷ, xin tiền bối thứ lỗi.
Khi trả lời cho ông lão, Tích Nhân nghe từ xa có tiếng chân ngựa phi nước đại. Ông lão cũng nghe thấy đưa mục quan về đầu đường. Giây lát, sau sườn núi năm con ngựa xuất hiện phi tới như bay và dần dần thấy rõ năm tay kỵ mã. Người đi đầu độ năm mươi cưỡi con ngựa ô, đầu đội khăn dày, thân thể cao to, hai huyệt thái dương gồ cao, mặt núng nính thịt, tay cầm đại đao. Kế lão, một mụ đàn bà độ bốn mươi, mặt mày son phấn lòe loẹt, cỡi ngựa hồng, đeo kiếm, một thanh niên mập mạp to lớn cầm đao, cỡi ngựa hồng, một cỡi ngựa bạch. Người cỡi ngựa bạch mặc võ phục xanh đeo kiếm, bao kiếm có tua vải hồng bay phất phơ, độ bốn chục tuổi. Người cỡi ngựa hồng tay cầm thương. Tích Nhân không ngờ gặp lại trong lúc này, đó là Tôn Cường, ngũ tỷ phu của Hoàng Thu Hà.
Đến nơi, lão to lớn nhảy xuống ngựa:
- Không thông báo trước, đường đột tới Vân Trung xin Nùng thúc thúc tha tội.
Ông già tức giận:
- Mã Vạn Lý! Ngươi đã để thuộc hạ đến đây giết kẻ vô tội, cướp lấy lừa ngựa, còn dám vác mặt tới, thật chẳng coi Nùng Bản Thanh ta ra gì!
Mã Vạn Lý vòng tay:
- Thứ lỗi, thứ lỗi, biết nghiệt tử ở nhà đã gây nên tội, nên tiểu điệt vội vàng đem hắn đến đây xin lỗi Nùng thúc thúc. Nghiệt tử sở dĩ hồ đồ cũng vì Tiên Nhi quá vô tình với nó. Chuyện con nít giận hờn gây nên hiểu lầm, tiểu điệt đến đây định thương lượng để đền bù thiệt hại cho Vân Trung Cốc.
Ông lão cười gằn:
- Hay lắm! Nếu Mã động chủ có hảo ý để giữ hoà khí giữa chúng ta, mấy chục con ngựa hãy đem đến hoàn trả. Còn tính mạng Nùng tam và Nùng ngũ, thì cắt đầu Mã Vạn Hùng đền mạng. Nếu được như vậy thì lão phu không còn lời gì để nói.
Người thanh niên lớn tiếng:
- Thật là hồ đồ!
Mã Vạn Lý quát:
- Hùng nhi không được vô lễ!
Ông ta vòng tay:
- Lúc Nùng Thừa Vũ hiền đệ còn sống, ngoài tình láng giềng còn coi vãn bối không khác gì anh em và đã có lần hứa gả Tiên Nhi cho Hùng nhi. Vãn bối chỉ có Hùng nhi là con trai, mẹ nó quá nuông chiều thành ra ngỗ nghịch, nhưng nó cũng không đến nỗi nào. Nếu thúc thúc xét lại, không cự tuyệt cuộc hôn nhân, thì Hùng nhi nhất định sẽ ăn năn và trở nên người tốt mà Vân Trung Cốc và Bạch Nhạn động cũng vì thế mà đời sống hòa bình, nương tựa lẫn nhau.
Ông lão xua tay:
- Giang sơn di cải, bản tính nan di. Một tên hung tàn như gã thì làm sao trở thành người tốt được? Ta có thay đổi ý kiến, Tiên Nhi cũng không bao giờ lấy gã.
Mụ đàn bà cười lanh lảnh:
- Hùng Nhi là tiểu chủ Bách Nhạn động muốn lấy ai lại không được? Nể tình Nùng lão dù sao cũng là gia gia của Thừa Vũ nên mấy lượt đem sinh lễ đến xin cưới bị từ chối, Bách Nhạn động vẫn nhẫn nhịn. Hôm nay, chung tối đến đây muốn có một lời dứt khoát, Nùng lão có chịu giữ lời hứa của Thừa Vũ, cho Tiên Nhi về làm dâu của nhà họ Mã hay không?
Nùng Bản Thanh quắc mắt:
- Ta cự tuyệt thì sao?
Người đàn ông đeo kiếm, khoát tay, ngăn không cho Mã phu nhân trả lời, chậm rãi từng tiếng:
- Mã đại ca và đại tẩu muốn hai nhà trở thành sui gia là điều rất tốt, sao Nùng Tôn ông từ chối? Theo tại hạ, Tôn ông không những gả cháu gái cho thiếu động chủ, mà cũng nên đem Vân Trung Cốc đặt dưới sự lãnh đạo của thiếu chủ. Như vậy, mới còn đất sống! Vân Trung Cốc, kể từ khi Nùng Thừa Vũ phu phụ bị tay sai của Hồ Quý Ly tàn hại, Nùng Tôn ông lại đóng cửa từ khách, không tiếp xúc với giang hồ, không lo trả thù đã làm cho võ lâm khắp vùng biên giới coi thường. Võ lâm trọng nhất là tín nghĩa, việc Tôn ông từ hôn làm cho võ lâm càng thêm thất vọng. Chính vì thất vọng với Vân Trung Cốc, mà Trần mỗ cũng phải đến đây để giúp Mã đại ca lấy lại công đạo.
Tôn Cường tiếp lời gã này:
- Nhìn cây thương trong tay mỗ, Tôn ông biết tại hạ từ đâu tới. Hoàng sư phụ và tất cả Thần thương trang quyết định ủng hộ Bách Nhạn động.
Ông lão Nùng Bản Thanh cả cười, tiếng cười ngạo nghễ và chua chát:
- Lão Hoàng Mật từ lâu muốn lãnh đạo dân tộc Nùng, định mượn dịp trừ cái gai Nùng Bản Thanh ta chứ gì? Hà! nhưng lão có đích thân đến đây cũng dễ đã thắng nổi cây côn trong tay ta huống chi là cái thứ như ngươi!
Ông ta chỉ người cầm kiếm:
- Còn ngươi, phải chăng có chút ít tên tuổi là Thanh Hồng kiếm khách Trần Ngải, võ sĩ của Phạm Sư Ôn năm xưa? Ta tiếc cho ngươi cũng có chút công lực, nhưng hết theo phản tặc nay lại giúp cho ma quỷ! Các ngươi tưởng mang theo Mã Vạn Lý kéo đến đây có thể làm ta sợ sệt mà gả cháu ta cho tên ngợm Vạn Hùng hay sao?
Mã phu nhân gằn từng tiếng:
- Hôm nay Bách Nhạn động không lấy lại công đạo, không rời khỏi Vân Trung Cốc. Tín nghĩa võ lâm phải lấy võ công giải quyết. Trước hết ta phải bắt con nhãi Tiên Nhi về cho Vạn Hùng, xem thử sau khi ván đã đóng thuyền nó có còn làm cao nữa hay không?
Mã phu nhân vừa chửi rủa vừa tuốt kiếm phóng tới Nùng Tiên Nhi. Nùng Bản Thanh đưa trường côn cản lại, nhưng Mã Vạn Lý cũng đã theo liền với vợ, cây đao dài tung ngay một chiêu cực kỳ mãnh liệt. Tiên Nhi và cậu thanh niên, người cử côn, người cầm kiếm xông ra. Mã Vạn Hùng cũng cầm đao xông lên. Giây lát, họ chia ra ba cặp, Mã Vạn Lý đánh với Nùng Bản Thanh, Mã phu nhân đánh với Nùng Tiên Nhi. Tích Nhân thấy Nùng Bản Thanh có thắng Mã Vạn Lý cũng phải mất mấy trăm chiêu, ngược lại thì Tiên Nhi dù có kiếm pháp liền lạc kín đáo nhưng thiếu hoả hầu. Cậu em học côn pháp của ông cũng đến nơi đến chốn nhưng thiếu công lực nên sẽ khó thắng Mã phu nhân và Mã Vạn Hùng. Tích Nhân không có cảm tình với anh em họ Hoàng, nhất là khi biết Hoàng Thu Hà định lợi dụng mình càng ghét hơn nữa, nên tự nhiên muốn giúp cho ông cháu Nùng Bản Thanh. Hắn chưa nghĩ ra cách giúp, thì dân trong bản ùa lại tấn công Tôn Cường và Trần Ngải. Tích Nhân họ cũng không chừa vì tưởng tất cả là động bọn. Hơn mười mấy người, đàn ông, đàn bà cầm cuốc, xẻng, đinh ba... không chiêu, không thức cứ nhắm đầu hắn đánh bổ, đánh sả xuống. Biết họ là những người dân thường, Tích Nhân một mặt nhảy tránh, một mặt giật lấy vũ khí của họ ném đi. Tôn Cường trái lại không nhân nhượng, ngồi trên ngựa múa cây thiết thương, kình lực phát ra vù vù, như một viên tướng xung trận vào một đám quân ô tạp, chỉ trong nháy mắt đã đâm và đánh chết mấy người. Trần Ngải võ công cao hơn Tôn Cường, thanh kiếm vung lên tỏa ra một vòng kiếm quang xanh biếc. Đinh ba, cuốc xẻng bị kiếm chặt cụt, nhưng có chút nương tay, không giết dân làng. Nùng Bản Thanh thấy dân làng bị chết thảm quát to:
- Tất cả bọn ngươi hãy rút hết qua khỏi suối cho ta. Nhanh lên! Không thì chết uổng mạng.
Mặc cho Nùng Bản Thanh la hét, dân làng thấy anh em bị chết càng hăng máu, bất kể sống chết xông lên và lại bị mất thêm mấy mạng. Thấy Tôn Cường giết người vô tội, Tích Nhân hét lên một tiếng, như con đại bàng phóng vút ra khỏi vòng vây, phóng tới quát:
- Biết chút võ nghệ để giết người vô tội hay sao? Hôm nay ta không thể nào không trừng trị bọn ngươi!
Thấy hắn phóng tới, biết là người có võ công, ngọn thương của Tôn Cường theo thế mãnh xà xuất động lia tới với tất cả kình lực. Đã từng học sơ thương pháp họ Hoàng, Tích Nhân lách mình tránh ngọn thương, đợi đi hết trớn, vùng tay chụp lấy. Tôn Cường hét:
- Tên mọi muốn chết!
Cán thương trong tay hắn xoay tròn, sức xoay rất mạnh. Tích Nhân không để hắn đắc ý, dùng nội lực nắm chặt, giật mạnh. Tôn Cường bị giật ngã xuống ngựa, tay thả cán thương. Tích Nhân bằng một chiêu kỳ dị, cây thương trong tay hắn vừa quay đúng nửa vòng thì rời khỏi tay và cằm phục xuống vai Tôn Cường.
Tích Nhân quắc mắt nhìn Tôn Cường:
- Ta chưa muốn giết ngươi, chỉ trừng trị nhẹ để từ nay ngươi không lạm sát bừa bãi nữa. Muốn sống thì hãy chạy đi. Đừng để ta đổi ý.
Một cánh tay bị hủy trong nháy mắt, Tôn Cường biết gã rách rưới trước mặt võ công cao không thể tưởng tượng nổi. Cánh tay bị hủy còn hy vọng chữa lành, chứ nếu ngọn thương phóng xuống ngực hay bụng thì đã trở thành xác chết mất rồi! Sợ hãi, Tôn Cường gượng đứng lên nghiến răng giựt ngọn thương ra khỏi vai, điểm huyệt cầm máu, rồi ba chân bốn cẳng chạy trốn. Dân làng thấy hắn ra tay đả thương Tôn Cường, không coi hắn là kẻ thù nữa, nới rộng ra ngoài.
Ông cụ Nùng Bản Thanh đang kịch chiến với Mã Vạn Lý mà trong lòng bồn chồn vô cùng. Ông nhận rõ hai cháu chỉ cố cầm cự vài chục chiêu nữa sẽ bị Mã phu nhân và Mã Vạn Hùng đả thương, trong khi dân làng lại bị Tôn Cường và Trần Ngãi sát hại rất nhiều, không biết làm sao che chở cho họ. Giờ thấy Tích Nhân ra tay giúp đỡ, mới ra chiêu đã loại trừ Tôn Cường lấy làm phấn chấn la lớn:
- Tiên Nhi, Thừa Lân! Hai cháu gắng giữ bình tĩnh ứng phó. Ông nội sẽ tiếp tay ngay.
Nùng Bản Thanh không còn lo âu, phấn chấn thần uy, ngọn côn trong tay liền trở nên linh động phi thường, Mã Vạn Lý lập tức bị ông ta áp đảo. Tiên Nhi và Thừa Lân cũng phấn chấn, cây kiếm và cây côn cũng liền linh hoạt trở lại.
Trần Ngải thấy Tích Nhân mới ra tay đã uy hiếp ngay một cao thủ võ lâm như Tôn Cường, có chút uý kỵ:
- Xin cho biết tôn tính đại danh?
Tích Nhân hừ mũi:
- Một kẻ ỷ vào võ công và báu kiếm giết người dân vô tội như ngươi không đáng hỏi danh tính của ta. Muốn sống hãy bỏ lại thanh kiếm chạy đi, bằng không hôm nay chỗ này là mồ chôn của ngươi.
Trần Ngải, nhảy xuống ngựa cả cười:
- Thanh Hồng kiếm khách đâu phải thành danh chỉ trong giây lát? Được lắm! Hôm nay để xem đây là mồ chôn của ta hay ngươi!
Trần Ngải đứng lấy thế, chỉ ngọn kiếm xanh lè ra phía trước, lưỡi chúc xuống:
- Xin mời lấy binh khí.
Tích Nhân chộp một cây đinh ba cầm tay:
- Xin mời!
Trần Ngải thuộc hàng cao thủ võ lâm, xông pha Nam Bắc mấy chục năm, nắm vững lý lẽ khi cao thủ đấu nhau, trước khi chưa tìm ra sơ hở của địch thủ, không vội ra tay. Trần Ngãi trong thế chuẩn bị, cặp mắt thu hết định lực nhìn Tích Nhân. Kỳ lạ, cặp mắt của ông ta lần lần thu liễm, Tích Nhân đứng yên, đứng bình thường, tay cầm đinh ba một cách ung dung, nhưng Trần Ngãi không thể tìm thấy đâu là chỗ sơ hở để phóng kiếm. Hắn không tìm thấy sơ hở của Tích Nhân, nhưng giây lát sau đó cây kiếm của hắn lại cử động, cử động vì đôi mắt Tích Nhân. Cặp mắt Tích Nhân làm cây kiếm Trần Ngãi lần lần múa lên vùn vụt, như mưa sa gió táp. Hắn bị cặp mắt Tích Nhân thu hút, cắp mắt như ngọn đèn, như lưỡi gươm, nhắm ngay vào những chỗ sơ hở của đường kiếm Thanh Hồng. Trần Ngãi liên tiếp biến chiêu để che đậy những chỗ sơ hở. Tích Nhân không ra tay, nhưng Trần Ngãi cứ múa kiếm, như đang ở trong thế đối đầu với một kiếm thủ vô cùng lợi hại, lần lần hơi thở nặng nhọc, đường kiếm rời rã, chân liên tiếp thối lui, và cuối cùng quỵ xuống, ói ra búng máu. Ông ta chống kiếm xuống đất la lớn thiểu não:
- Mạng ta hết rồi!
Ông ta thiểu não nhổ cây kiếm lên đâm vào cổ.
Trần Ngãi tự đâm vào cổ cái chết như cầm chắc, ai có thể ngăn cản ông ta, nhưng mũi kiếm vừa chạm da, thì ông ta không thể đẩy mũi kiếm đi sâu hơn. Tích Nhân từ xa mấy trượng đã phóng ra một viên đá nhỏ bắn đúng huyệt Hội Tông trên cánh tay cầm kiếm. Tích Nhân tiến tới, Trần Ngãi còn ngồi bệt trên đất quắc mắc:
- Ngươi muốn làm nhục ta?
Tích Nhân thở dài:
- Tiền bối đứng lên đi đi! Vãn bối mong rằng một cao thủ có kiếm pháp tuyệt luân, có tinh thần bất khuất như tiền bối, nếu hành hiệp trượng nghĩa, tế khốn phò nguy thì ích lợi cho nhân quần biết mấy! Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Vãn bối chỉ muốn có mấy lời mong tiền bối nghĩ lại.
Tích Nhân phất tay giải huyệt cho ông ta. Trần Ngãi đứng lên, nhìn Tích Nhân đang quay lưng bước đi ngẩn ngơ giây lát, rồi la lên:
- Xin dừng bước!
Tích Nhân dừng chân, Trần Ngãi vội quỳ gối:
- Xin thiếu hiệp thu dụng Trần Ngãi làm nô bộc, sớm hôm chỉ điểm!
Tích Nhân ngạc nhiên:
- Chẳng lẽ tiền bối còn muốn đùa cợt?
Trần Ngãi dập đầu sát đất:
- Hoàng thiên hậu thổ chứng minh, đây là tất cả thành tâm của Trần mỗ.
Tích Nhân vận công đề phòng, bước lại đỡ ông ta lên:
- Sao tiền bối lại có ý nghĩa lạ kỳ như vậy? Tích Nhân chỉ là tên cùng đinh mới bước chân ra giang hồ.
Tích Nhân thả tay ra, Trần Ngãi lại quỳ gối:
- Trên hai chục năm lăn lộn, hết đánh với quan binh, thì tranh giành tên tuổi trong Hắc đạo, Thanh Hồng kiếm khách chưa từng bị ai đả bại dễ dàng, khí kiêu ngạo càng chồng chất. Hôm nay, gặp chủ nhân, võ công và tài đức làm cho Ngãi tôi vô cùng khâm phục và chợt nhìn ra đâu là sáng tối. Không hiểu chủ nhân là ai, tôi nguyện suốt đời tận trung phò tá. Với tài đức của chủ nhân tôi biết theo người sẽ được dịp góp phần phò trì chánh nghĩa, sám hối lỗi lầm. Nếu chủ nhân không thu nạp và chỉ điểm, thì tôi đành tự sát.....
Thấy Trần Ngãi rất cương quyết, Tích Nhân cũng nghĩ mai sau mình còn phải trả thù nhà, có thêm một cao thủ như ông ta sẽ giúp ích rất nhiều, nên lại đỡ ông ta lên, Trần Ngãi dùng sức gằn lại:
- Nếu chủ nhân không thu nạp, Trần Ngãi sẽ không đứng dậy.
Tích Nhân cảm động:
- Được! Thúc thúc đứng lên đi, tôi chấp nhận cho thúc thúc theo tôi hành tẩu giang hồ và sẽ đối xử với thúc thúc như tình ruột thịt.
Trần Ngãi rập đầu ba cái:
- Cảm tạ chủ nhân.
Bấy giờ trận chiến giữa ông cháu Nùng Bản Thanh và vợ chồng Mã Vạn Lý sắp ngã ngũ. Có lẽ khi đánh với Tiên Nhi, thấy chồng lâm nguy, Mã phu nhân đã bỏ Tiên Nhi giúp chồng. Tiên Nhi rảnh tay lại cùng Thừa Lân vây lấy Vạn Hùng. Mã phu nhân trở thành người phải bay qua chạy lại giúp chồng và con, nhưng cách cứu ứng đó đã không làm cho cha con Mã Vạn Lý đủ sức cầm cự.
Tích Nhân nhìn cuộc chiến hỏi Trần Ngãi:
- Mã Vạn Lý là người thế nào?
- Mã đại ca cũng không phải là người gian ác. Đối với bạn bè rất có nghĩa khí. Chỉ có điều quá nể vì Mã phu nhân.
- Trần thúc thúc nghĩ chúng ta có thể dàn xếp họ được không?
- Chỉ sợ Mã Vạn Hùng không lấy được vợ không cam tâm, Mã phu nhân thấy con bực tức thì không chịu được.
- Đầu mối là Mã phu nhân! Điều gì làm cho bà ta quan tâm nhất?
- Có lẽ là đứa con trai!
- Vậy thì ta dùng cách trị này xem thử có hiệu quả không?
Dứt tiến, Tích Nhân phóng vào trận, thân pháp như quỷ mị, và khi Tích Nhân bước ra cục trường, ta đã nắm giữ Mã Vạn Hùng, lớn tiếng:
- Các ngươi dừng tay ngay.
Tiếng nói đầy nội lực của hắn có mãnh lực làm cho mọi người không ai bảo ai cùng nhảy ra phía sau, ngưng tay.
Tích Nhân lấy lưỡi trủy thủ năm sắc đâm một nhát trên vai Mã Vạn Hùng, rồi cùng nhanh tay cầm máu lại cho gã.
Mã phu nhân thấy con bị đâm một nhát dao, lòng đau như cắt không còn sáng suốt nhìn rõ tình hình, vội quát to và tung kiếm chém tới Tích Nhân, vừa tấn công vừa gầm to:
- Ngươi dám hại con ta!
Tích Nhân chờ lưỡi kiếm chém xuống, đưa lưỡi ngũ độc thần trủy lên, cây kiếm liền bị cắt thành hai đoạn. Mã Vạn Lý là người từng xông pha giang hồ, thấy con mình bị bắt dễ dàng, và nhìn thấy cây trủy thủ năm sắc trong tay Tích Nhân, nghĩ đến một việc, lo sợ rùng mình, vội nhảy lại cản vợ, và hỏi:
- Xin hỏi tôn giá là ai?
Tích Nhân đẩy Vạn Hùng lại cho ông ta:
- Ta là người tình cờ đi ngang qua đây, không hiểu lắm về sự mâu thuẫn giữa vợ chồng các ngươi và Vân Trung Cốc, nhưng thấy các ngươi đến đây giết người bừa bãi, nên phải ra tay trừng trị. Tôn Cường bị ta phế một cánh tay. Trần Ngãi tiền bối sớm biết ăn năn nên một lòng theo ta hành hiệp. Ông ta cho biết ngươi cũng không phải là kẻ cùng hung cực ác, nên thay vì trừng trị vợ chồng ngươi, ta lại có ý giảng hoà giữa Bách Nhạn động và Vân Trung Cốc, ngươi nghĩ sao?
Mã phu nhân lớn tiếng:
- Ngươi tưởng ngươi là ai kia chứ! Hoàng đế cũng chẳng dễ ăn nói với vợ chồng ta như thế?
Trần Ngãi:
- Từ nay thiếu hiệp là chủ nhân của Thanh Hồng kiếm khách ta! Mã đại tẩu ăn nói giữ lời!
- Trần Ngãi đại ca nói gì thế?
Trần Ngãi nói rõ từng tiếng:
- Thiếu hiệp là chủ nhân của Trần mỗ. Ai xúc phạm đến chủ nhân là kẻ thù của Trần mỗ.
Võ công của Trần Ngãi rất cao, vợ chồng Mã Vạn Lý đã bỏ rất nhiều công phu để mời giúp, hai vợ chồng liên thủ cũng chưa chắc thắng, vì thế Mã phu nhân ú ớ:
- Ngươi, ngươi...
Mã Vạn Lý thấy cây kiếm ngũ sắc trong lòng ngờ ngợ, và thấy tình hình biến chuyển hoàn toàn bất lợi cho mình, vong tay:
- Chẳng hay tôn giả có liên hệ gì với Ngũ độc giáo?
Tích Nhân không trả lời thẳng mà hỏi lại:
- Mã động chủ biết Ngũ độc giáo thần giáo thì phải biết giáo chủ tam bảo? Đã nhìn ra ngũ độc thần trủy còn phải hỏi làm gì?
Mã Vạn Lý và Mã phu nhân mặt tái mét, Mã phu nhân la lên:
- Hùng nhi!
Tích Nhân:
- Ta nghe Mã động chủ từng là bạn của con trai Nùng lão cốc chủ, và Vạn Hùng muốn lấy cháu gái Nùng cốc chủ. Như vậy, dù sao Nùng cốc chủ cũng là vai ông của Mã Vạn Hùng, thế nhưng hắn dám lên tiếng chửi bới, ta nghĩ phải trừng trị hắn chút đỉnh. Ngũ độc thần trủy có tẩm bách độc, trong thiên hạ ngoài ta, không ai giải được. Nếu Vạn Hùng chịu ăn năn sửa đổi làm người tốt, ta sẽ trị độc cho. Ngược lại, kẻ ngỗ nghịch như hắn không nên để sống.
Mã Vạn Lý có một người con, và biết sự độc hại của Ngũ độc giáo như thế nào nên quỳ lạy:
- Xin tôn giả tha mạng cho Hùng nhi, từ nay chúng tôi quyết quản thúc nó.
Mã phu nhân nghe tên Ngũ độc giáo đã hồn phi phách tán, biết con bị hạ độc càng lo sợ, ngã ra bất tỉnh. Mã Vạn Lý vội bò dậy đỡ vợ, khốn khổ:
- Xin đại hiệp tha mạng cho Hùng nhi.
Tích Nhân vòng tay hỏi Nùng Bản Thanh:
- Xin Nùng lão bá và Tiên Nhi cô nương cho biết thế nào?
Nùng Bản Thanh trả lời:
- Tiên Nhi và Vạn Hùng có giao ước từ năm Vạn Hùng mới lên bốn. Nói bội ước, thì Vạn Hùng năm mười lăm tuổi đã lấy vợ, tức là bội ước trước. Hiện nay trong nhà y tỳ thiếp năm sáu người. Thử hỏi Tiên Nhi là một cô gái xấu xa, thì họ Mã có để ý đến hôn ước hay không? Ngoài sắc dục, Vạn Hùng còn giết người bừa bãi, cả vùng ai cũng biết tính ác độc của hắn. Lão phu nghĩ Thúc Vũ còn sống cũng không thể nào vì lời hứa trong chén rượu mà chấp nhận hôn nhân.
Mã phu nhân tỉnh dậy lên tiếng cãi ngay:
- Vạn Hùng là con một cần người nối dõi, trong khi Tiên Nhi lại sang tận Nga Mi học võ, thì làm sao chờ đợi được? Còn giết người? Hắn giết ai? Giết bọn không tuân lệnh chủ nhân, lấy gia pháp xử trị sao gọi là giết người bừa bãi?
Tiên Nhi cứng rắn:
- Ta thà chết còn hơn làm vợ một người như hắn.
Tích Nhân hỏi Mã Vạn Lý:
- Mã động chủ khi cưới vợ cho con có đến Vân Trung động xin cưới Tiên Nhi cô nương trước hay không?
Mã Vạn Lý ngập ngừng:
- Cái đó... cái đó...
Nùng Bản Thanh:
- Nếu cháu gái lão Hoàng Mật không vì sanh khó mà mất cách đây hơn bốn năm, bọn họ Mã các ngươi có dám nhắc đến hôn ước với nhà họ Nùng ta hay không? Hừ! Lão Hoàng Mật âm thầm cộng tác với Tri châu Tư Minh Hoàng Quảng Thành, muốn bành trướng thế lực tay sai nhà Minh, nên làm sui gia với Bách Nhạn động để tạo vây cánh. Phải chăng khi cháu lão mất, lão mới đồng ý và giúp các ngươi khai thác hôn ước năm xưa với nhà ta? Ta nằm trong ruột lão Hoàng Mật! Lão cho rằng Vạn Hùng làm rể Vân Trung Cốc cũng sẽ lôi kéo Vân Trung Cốc chúng ta. Nếu không, thì giết ta và Thừa Lân, rồi Vân Trung Cốc cũng thuộc về Vạn Hùng. Hừ! Ta còn cầm được cây trường côn, các ngươi đừng hòng đạt được mục đích!
Tích Nhân hỏi Trần Ngãi xem thử ông ta thật lòng và thẳng thắn hay không:
- Lời của Nùng cốc chủ đúng sai thế nào?
Trần Ngãi cung kính:
- Thưa chủ nhân, lời Nùng tiền bối nói ra không sai lắm. Thuộc hạ sở dĩ có mặt ở đây một phần cũng do Hoàng Mật nhờ cậy.
Tích Nhân:
- Xin Trần thúc thúc cho biết rõ hơn.
Trần Ngãi thở dài:
- Nói thì hơi dông dài! Nhà Trần từ đời Nghệ Tông về sau, vua hèn quan yếu, Quý Ly chuyên quyền mặc tình làm mưa làm gió. Chính vì chán ghét Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ còn lấy họ Lê, thuộc hạ đã theo Phạm minh chủ khởi binh hy vọng chấn chỉnh lại nước nhà. Nhưng Phạm Sư Ôn khi lấy được kinh thành lại tự cao tự mãn quên hết mục đích ban đầu. Nùng Tôn ông trước đây chửi thuộc hạ rất đúng! Thuộc hạ thấy Sư Ôn không còn có lòng vì dân vì nước nên bỏ ra đi, nhờ đó còn sống đến ngày hôm nay, nhưng cũng không khỏi mang tiếng bất trí và phải tránh né triều đình. Lăn lộn giang hồ, thuộc hạ có tiếng là bất phân chính tà, có lúc đánh giết quan binh, làm bạn với hắc đạo. Trong những người chứa chấp là Hoàng Mật. Từ khi Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, nhân sĩ Đại Việt chia làm hai phái, một phe cho rằng nhà Trần đã chấm dứt nên theo về chúa mới, một phe tìm phương khôi phục nhà Trần. Phe này liên hệ với Trần Khang, một người nghe đâu là tôn thất, con cháu của Trần Nguyên Bưu đã sang nhà Minh nhờ can thiệp. Hoàng Mật là người tích cực trong việc khôi phục nhà Trần và sốt sắng chuẩn bị nhân sự để làm lực lượng tiền phong và hướng đạo đón quân Minh đưa vua Trần về nước. Thuộc hạ ở trong thế chống Hồ Quý Ly, nên thuận theo Hoàng Mật. Việc ép hôn đối với Tiên Nhi cô nương, dĩ nhiên làm theo kế hoạch của Hoàng Mật. Thuộc hạ cũng biết đây là sự quá đáng, nhưng nghĩ rằng tất cả cũng vì việc nước nên đã tiếp tay cho Mã động chủ.
Mã phu nhân:
- Ngươi nói vậy mà không thấy thối sao? Chẳng phải ngươi đã nhận ba trăm lạng vàng của chúng ta mới chịu có mặt? Còn Hoàng thúc thúc! chính ta phải năn nỉ nhiều lần ông ta mới chịu chấp nhận cho chúng ta đi cưới con quỷ Tiên Nhi cho Hùng nhi, thì thử hỏi ông ta có âm mưu nào trong việc này?
Trần Ngãi cười khẩy:
- Ba trăm lạng vàng phu nhân đưa cho tai hạ hay Hoàng Mật? Ta chẳng nhận một chỉ nào. Hoàng Mật có nói với ta, nếu ta giúp cho hai vợ chồng ngươi đạt được ý nguyện, thì ngoài việc sau này nhân sự, ngựa chiến của Vân Trung Cốc và Bách Nhạn đều được huy động ủng hộ quân Minh, vợ chồng các ngươi cũng đã tặng trước ba trăm lạng vàng để góp phần tài chính cho đại cuộc. Như vậy, giúp cho hai người lấy lại thể diện bị từ hôn là công tư đều vẹn. Ta đến Bách Nhạn động chỉ vì lới nói này của Hoàng Mật. Tin hay không tuỳ các ngươi.
Mã Vạn Lý than thở:
- Phu nhân không nên cố chấp nữa. Trong giang hồ ai không biết Thanh Hồng kiếm khách chẳng sợ đất trời, luôn trọng chữ tín. Lời nói của Trần đại hiệp không thể không tin. Chúng ta bị lợi dụng mà không biết đấy thôi.
Đoạn ông ta hướng về Tích Nhân:
- Xin tôn giả lấy lượng hải hà tha cho Hùng nhi.
Tích Nhân lấy viên Hùng Hoàng châu thảy lên xuống trong tay:
- Hùng Hoàng châu cũng là một trong tam bảo. Giải bách độc của ngũ độc thần trủy chỉ có Hùng Hoàng châu mà thôi. Nhưng trước khi cứu mạng hắn, ta muốn vợ chồng ngươi phải thề đền bù thiệt hại cho Vân Trung Cốc. Việc hứa hôn của Thúc Vũ tiền bối năm xưa chính các ngươi đã bội hôn trước đi cưới cháu lão Hoàng Mật cho Vạn Hùng, thì nay phải bỏ qua không được ép uổng nữa. Mã phu nhân cũng phải hứa với ta, từ nay phải kiếm chế Vạn Hùng, thê thiếp giới hạn không quá năm người, không được giết bất cứ người nào không biết võ công thì ta mới giải độc cho hắn, còn không sẽ để hắn chết một cách vô cùng đau khổ.
Mã phu nhân ngang bướng, nhưng cũng rất sợ tên tuổi ngũ độc giáo, nhất là biết con bị trúng độc, cúi đầu. Mã Vạn Lý thấy vợ ngoan ngoãn, vội vàng:
- Tôn giả đã dạy, Bách Nhạn động từ nay nghe theo sự sai bảo, quyết chẳng nuốt lời. Nếu có điều gì sai phạm đất trời trừng phạt.
Đã lạm dụng danh nghĩa Ngũ độc giáo, Tích Nhân nồ thêm, cười:
- Nếu các ngươi nuốt lời, trời đất đâu chưa biết, Bách Nhạn động sẽ như thể này!
Tích Nhân vận công, dùng ngũ độc thần trủy phát ra một đường, tức thì cỏ cả một vùng hơn trượng bị chém ngã sát đất. Người có khả năng phát ra kiếm khí như vậy võ lâm chỉ nghe đồn, chưa ai thấy, làm họ vừa ngưỡng phục vừa sợ hãi. Vợ chồng Mã Vạn Lý vối quỳ gối:
- Chúng tôi cả đời chẳng dám nuốt lời.
Tích Nhân cầm viên Hùng Hoàng châu tiến lại Vạn Hùng, tên này sợ hãi vội quỳ theo cha mẹ. Tích Nhân đặt viên Hùng Hoàng châu lên vết thương Vạn Hùng, bảo hắn:
- Từ nay ngươi nên tu nhân tích đức, sửa đổi tánh tình thì mới thừa kế sự nghiệp cha mẹ lâu dài được. Ngươi có thấy vì ngươi mà gia gia ngươi đã mất ba trăm lượng vàng, suýt nữa để Bách Nhạn động bị người ta lợi dụng hay không?
Vạn Hùng cúi đầu:
- Tiểu nhân biết tội.
Tích Nhân thu viên Hùng Hoàng châu bỏ vào túi, nói:
- Ngươi đã vô sự, vết thương chỉ vài bữa là lành.
Vạn Hùng lí nhí:
- Đa tạ...
Tích Nhân hỏi Nùng Bản Thanh:
- Tiền bối muốn Bách Nhạn động đền bù như thế nào?
Bản Thanh cảm khái:
- Thúc Vũ khi nhỏ hay thường qua lại với Vạn Lý nên lão phu xem Vạn Lý không khác gì con cháu. Sau này thấy Vạn Lý thân mật với Thần thương trang và giới hắc đạo nên lão phu xa lánh mà thôi. Nay nếu Vạn Lý biết hổi cải, tích đức hành thiện thì số người chết oan kia cũng ngậm cười nơi chín suối mà thôi. Người đã chết còn đòi mạng sao được. Trâu bò, lừa ngựa chỉ là những vật tầm thường, lão phu đâu có hơn thua gì!
Mã Vạn Lý cảm động, khóc:
- Nùng thúc thúc! Cháu có lỗi với Thúc Vũ và thúc thúc vô cùng. Nghĩ lại thật lấy làm xấu hổ.
Nùng Bản Thanh tiến lại đỡ Vạn Lý lên:
- Ngươi nhìn biết lỗi lầm, ta cũng thấy an ủi vô cùng. Hy vọng từ nay chúng ta sống bình an, thân thiện như xưa.
Mã phu nhân cảm động:
- Mọi sự cũng vì tôi chiều con và nông nỗi mà ra. Vũ nương tôi xin thề với thúc thúc chúng tôi sẽ không để điều gì đáng tiếc xảy ra.
Nùng Bản Thanh cười bao dung:
- Có lời của cháu ta tin tưởng lắm. Trời đã tối, thôi mọi người hãy tới nhà ta uống chén rượu cười xoà, bỏ qua mọi chuyện.
Mã phu nhân:
- Xin thúc thúc cho vài bữa nữa. Thúc thúc không chấp nhưng chúng tôi cũng phải làm điều gì để tỏ sự ân hận với những người chẳng may..
Nùng Bản Thanh:
- Cũng được! Lúc nào cũng được. Nếu các ngươi xem ta là thúc thúc, thì ta cũng xem cách ngươi như vợ chồng Thúc Vũ.
Vợ chồng Mã Vạn Lý và Mã Vạn Hùng cung kính cáo từ Tích Nhân và Bản Thanh lên ngựa.
Nùng Bản Thanh đợi ba người đi khỏi cúng tay:
- Không biết Ngũ độc giáo chủ giá lâm, xin miễn chấp.
Tích Nhân vội vàng:
- Vãn bối may mắn gặp được di thư và tam bảo của Trương giáo chủ để lại mà thôi, vãn bối thật chưa biết Ngũ độc giáo như thế nào, xin tiền bối đừng hiểu lầm.
Nùng Bản Thanh:
- Thì ra như vậy, nãy giờ lão phu lấy làm ngờ vực vì Giáo chủ Ngũ độc giáo hiện nay là đàn bà họ Tần, nghe nói bá đạo vô cùng, nhưng cung cách của thiếu hiệp thì lại hoàn toàn khác.
Ông ta mời:
- Trời đã tối, không hiểu lão phu có hân hạnh được đón tiếp thiếu hiệp?
Tích Nhân:
- Vãn bối mấy năm sống trong rừng núi tập luyện võ công. Hàng ngày chỉ ăn cá nướng và hoa quả để sống. Đây là lần đầu tiên gặp bản làng và đang thèm miếng cơm vô cùng.
Nùng Bản Thanh cười ha hả:
- Tiên Nhi, ngươi hãy về nhà nấu ngay cho ông nội một nồi cơm lớn. Hẹn ngươi trong một giờ phải có một bữa cơm thịnh soạn đãi quí khách.
Tiên Nhi cười lên ánh mắt:
- Xin tuân lệnh.
Nàng xoay qua kéo vài cô nữa chạy đi ngay.
Bản Thanh dặn dò người trong bản lo cho thi thể những người bị chết, rồi mời Tích Nhân và Trần Ngãi:
- Xin mời thiếu hiệp và Trần Ngãi hiệp theo lão phu.
Trần Ngãi lại bên ngựa lấy cái bao nhỏ, hỏi:
- Con ngựa này theo vãn bối đi khắp nơi, không biết lão cốc chủ có thể cho người săn sóc giùm?
- Việc ấy Trần đại hiệp không phải lo ngại.
Ông lấy tay chỉ, một trung niên vội vã đến dắt con ngựa đi cho ăn uống.
hutructiensinh
HỒI THỨ 7

Nghe Luận Thế Nước

Nhà Nùng Bản Thanh cất lưng chừng đồi, trên một khoảng đất bằng vài mẫu, to lớn gấp ba bốn lần những căn nhà khác. Có nhà trước, nhà sau. Cũng là nhà sàn, nhưng đượm nét cổ kính, vách gỗ, sàn gỗ lên nước đen bóng, chung quanh hoa cảnh tốt tươi, lan treo khắp nơi tỏa hương thơm ngát. Là một người có võ công, nhưng trong nhà không treo cung kiếm mà lại treo nhiều thi họa. Bức Vân Trung đồ vẽ cảnh sắc Vân Trung Cốc thật sống động. Nhìn qua nơi cư ngụ, Tích Nhân biết ông cụ Nùng Bản Thanh là bậc ẩn sĩ, văn võ song toàn, cảm tình càng tăng.
Trần Ngãi là người có tên tuổi, nhưng vì cảm tài mến đức nên đã xin làm nô bộc cho Tích Nhân, vì thế ông cụ Nùng Bản Thanh mời ngồi, thì chờ cho Tích Nhân ngồi rồi mới ngồi ở một chiếc ghế cách xa một chút.
Tích Nhân và Trần Ngãi đều cùng lên tiếng khen ngợi nơi cư trú thanh nhã của gia đình Bản Thanh. Giây lát, Nùng Thừa Lân mang trà, trái cây khô ra mời. Nùng Bản Thanh rót trà:
- Đây là trà Tuyết San, loại trà cổ thụ mọc trên đỉnh núi cao do lão phu pha chế. Xin mời hai vị.
Trần Ngãi ngụm trà, chắc lưỡi:
- Hương vị thật thơm, mùi vị trong đắng có ngọt, trà xuống cổ mùi ngọt thơm tho còn trong miệng, thật Ngãi tôi chưa được dùng thứ trà nào như thế này.
Nùng Bản Thanh:
- Lão phu ngày tháng nhàn rỗi, có chút khinh công nên có thể tìm đến những cây trà Tuyết san cổ thụ mọc cheo leo trên vách đá ngàn trượng hái đọt non, phơi khô trong nắng sớm, ướp với ngàn hoa nên cũng tự hào với thứ trà mình tự pha chế này.
Tích Nhân:
- Nhìn thư họa treo đầy, cách uống trà, chơi hoa của tiền bối cũng biết tiền bối là bậc văn võ song toàn. Tích Nhân thật có phước, mới xuất sơn được gặp một người như tiền bối, nhất định sẽ được nghe nhiều điều hữu ích.
Nùng Bản Thanh khiêm nhường:
- Một lão già trong núi, không công ngồi rồi thì có khả năng gì như lời thiếu hiệp nói. Thanh Hồng kiếm khách là người lão phu từng nghe tên tuổi, còn thiếu hiệp là ân nhân của Vân Trung Cốc, nhưng chưa được vinh dự để biết tôn tính, chẳng hay ngoài Phượng Hoàng bang chủ là đại tỷ, những bậc tôn trưởng khác là những ai để Nùng Bản Thanh tôi ghi nhớ.
Tích Nhân thưa:
- Vãn bối là Lê Tích Nhân, con trai duy nhất của Ngân bút Lê Trung Lương và Đằng Tiên Trần Kim Phượng. Ngoại tổ của vãn bối là Đằng Tiên lão nhân Trần Nguyên Luân.
Nghe hắn nói rõ lý lịch, Bản Thanh cảm khái:
- Đúng là Phượng Hoàng thì sinh ra Phượng Hoàng.
Còn Trần Ngãi đứng lên, cảm động:
- Năm xưa thuộc hạ đã thọ ơn cứu tử của vợ chồng Lê đại hiệp, lòng những canh cánh không biết lúc nào có thể đền ơn, không ngờ hôm nay đất trời dun rủi được từ đây hầu hạ cho chủ nhân, thật mãn nguyện vô cùng.
Tích Nhân nhìn ông ta:
- Lúc nãy thấy thúc thúc quá quyết liệt, sợ từ chối thúc thúc buồn lòng, nhưng vãn bối nghĩ, Trần thúc thúc hà tất phải như vậy. Hay là chúng ta kết nghĩa...
Trần Ngãi càng cương quyết:
- Đã biết chủ nhân là ai, thì Trần Ngãi này càng không bao giờ đổi ý, đây là một vinh dự lớn cho tôi, xin chủ nhân đừng làm cho tôi thất vọng.
Nùng Bản Thanh vuốt râu, nhẹ nhàng:
- Lê công tử lòng rất áy náy, nhưng lão phu biết tính tình Thanh Hồng kiếm khách, lời nói đã thốt ra không bao giờ lấy lại. Đấy là ưu điểm lớn nhất của ông ta. Thiếu hiệp cứ để ông ta gọi là chủ nhân, nhưng đối xử như tình chú cháu, anh em thì đã có sao? Đời người quý ở sự đối xử với nhau.
Tích Nhân vòng tay:
- Đa tạ sử chỉ giáo của tiền bối.
Họ chỉ chuyện vãn giây lát thì Thừa Lân ra cho biết cơm nước đã sẵn sàng. Nùng Bản Thanh bảo trời đang trong và sáng trăng, kê bàn lớn ngoài sân mọi người cùng ăn chuyện vãn cho vui.
Ông ta nói với Tích Nhân và Trần Ngãi:
- Để hai cháu chung bàn với hai vị có điều thất lễ, lão phu hy vọng hai vị tha thứ cho!
Trần Ngãi:
- Tiểu thư và công tử cũng là long phượng trong đời, chủ nhân và tôi được làm quen cũng là vạn hạnh.
Nùng Bản Thanh uống hớp trà:
- Lão phu nhờ có chút võ công, không lo, không nghĩ việc thị phi nên cũng còn cứng cáp, nhưng tuổi năm nay đã bát tuần. Được gặp Lê công tử và được giúp đỡ mới qua tai kiếp lòng cảm kích khôn cùng. Nghĩ lại chắc có lẽ đất trời xui khiến cho những kẻ có duyên gặp nhau. Lão phu hy vọng Lê công tử từ nay chiếu cố và dẫn dắt cho Tiên Nhi và Thừa Lân.
Tích Nhân khiêm nhượng:
- Thật không dám gọi là chiếu cố như lời tiền bối dạy. Tuy nhiên, hậu bối có việc gì tiểu thư và công tử nhờ đến, vãn bối xin hết lòng.
- Đa tạ lời nói của thiếu hiệp. Có lời này lão phu rất yên lòng.
Tiên Nhi xuất hiện ở ngưỡng cửa, cô gái có vẻ e ấp:
- Thưa nội tổ cơm sắp xong, có mới quý khách tắm rửa không? Điệt nhi đã chuẩn bị nước nóng.
Nùng Bản Thanh cười xòa:
- Ừ nhỉ! Qua một ngày và một trận quyết đấu, có dội ít nước lên người ăn cơm sẽ ngon hơn. Lê thiếu hiệp và Trần đại hiệp nếu cũng cảm thấy như lão phu xin mời.
Tích Nhân biết mình rách rưới dơ bẩn, khi vào căn nhà sạch sẽ của Bản Thanh đã cảm thấy áy náy, nên đứng lên cười:
- Vãn bối thật cần tắm.
Nùng Bản Thanh:
- Tiên Nhi, cháu hướng dẫn Lê thiếu hiệp.
Tiên Nhi cúi đầu, tiếng nói thật nhỏ:
- Xin mời Lê đại hiệp.
- Cảm ơn cô nương.
Trần Ngãi vội nói:
- Tắm mà không thay quần áo sạch, người sẽ ngứa ngáy khó chịu vô cùng. Xin chủ nhân dùng tạm bộ đồ trong bao của thuộc hạ.
Ông ta vội cúi xuống mở túi của mình.
Nùng Bản Thanh vội nói:
- Tôi có bộ đồ có lẽ rất vừa vặn, muốn tặng cho Lê thiếu hiệp. Xin đừng từ chối.
Ông ta không đợi Tích Nhân đồng ý hay không, bảo cháu:
- Tiên Nhi, con vào phòng nội mở rương lấy bộ võ phục xếp cất, cả giày mang ra cho nội.
Tiên Nhi đi ngay, giây lát mang ra cho Nùng Bản Thanh một chiếc hộp vuông, ông ta trịnh trọng:
- Năm xưa sang Tô Châu du ngoạn, lão phu đã đặt mua bộ võ phục này để làm quà cho Thúc Vũ. Khi về đến nơi, nó không còn nữa nên cất mãi đến nay. Vóc dáng của thiếu hiệp có lẽ rất vừa, mong thiếu hiệp nhận cho.
Tích Nhân hai tay tiếp lấy bộ quần áo:
- Cảm ơn tiền bối.
Nùng Bản Thanh:
- Thiếu hiệp chịu nhận lão phu vui vô cùng. Tiên Nhi, ngươi đưa thiếu hiệp đi tắm được rồi.
- Xin mời thiếu hiệp.
Xuống cầu thang, cô gái rụt rè im lặng đi trước, Tích Nhân gợi chuyện:
- Nơi đây xinh đẹp tuyệt vời.
- Đại hiệp quá khen. Nơi ở của đại hiệp và đại tỷ Phượng Hoàng Tiên Tử đâu đạm bạc như chỗ nầy?
Tích Nhân cười:
- Cô nương lầm rồi! Chỗ chúng tôi ở là một đáy vực sâu, không nhà cửa, vì thế tôi mới thưa với nội tổ cô nương là tôi đang thèm cơm.
- Tiên Nhi có nghe đại hiệp đã nói như vậy, nhưng tên tuổi của Phượng Hoàng Tiên Tử làm cho Tiên Nhi không tin ở tai mình.
- Cô nương nghe gì về đại tỷ?
- Sư phụ và các vị sư tỷ nói Phượng Hoàng Tiên Tử xinh đẹp ít người sánh bằng. Võ lâm Trung Nguyên có câu: "Bắc Bạch Liên, Nam Tiên Tử". Có ý nói trong võ lâm có hai vị xinh đẹp và võ công siêu quần là Bạch liên giáo chủ và Phượng Hoàng Tiên Tử.
- Cảm ơn cô nương cho biết. Tại hạ được đại tỷ cứu mạng truyền dạy võ nghệ, nhưng chỉ thấy được chân dung thật sự trước khi đại tỷ mất. Vâng, đại tỷ xinh đẹp trên đời khó có người sánh bằng. Hỡi ơi! Nhưng cuộc đời của Người thật làm người ta đau xót.
- Ồ! Tiên Nhi không biết đại tỷ đã mất nên làm cho đại hiệp chạnh lòng. Xin lỗi đại hiệp.
- Cô nương thật khách sáo. Tại hạ tên là Tích Nhân, nếu cô nương bỏ hai tiếng đại hiệp gọi tôi là Nhân huynh, hay Nhân đai ca tôi sẽ thấy thích thú hơn.
- Tiên Nhi đâu dám vô lễ như thế.
Tiên Nhi chỉ căn nhà tắm bằng gỗ gần bờ suối:
- Mời Lê đại hiệp tự nhiên.
- Cám ơn cô nương.
Tích Nhân tắm rửa, dùng trủy thủ cạo râu, búi lại tóc, mặc áo thiên ty bên trong, mặc bộ đồ gấm bên ngoài, mang giày vào trở nên hoàn toàn khác hẳn. Sau khi giặt bộ đồ cũ, phơi trên dây, Tích Nhân vào nhà, Trần Ngãi nhìn sững:
- Chủ nhân đầy nét hào khí nam nhi, nhưng da trắng môi hồng, có nhiều nét giống Đằng Tiên nữ hiệp, thật là một Tống ngọc trong võ lâm.
Tích Nhân:
- Thúc thúc đã quá lời!
Ông cụ Nùng Bản Thanh, gật đầu:
- Võ công ấy, nhân dáng ấy, thật là rồng phượng trong đời. Hậu vận không sợ gì, chỉ e nữ nhân làm phiền lụy.
- Đa tạ Nùng tiền bối ban cho bộ đồ quí và trang nhã. Mặc vào cảm thấy mát mẻ êm nhẹ vô cùng. Vãn bối sẽ ghi nhớ những lời tiền bối dạy.
Trần Ngãi:
- Khéo sao, màu ngà rất hợp với chủ nhân.
Nùng Bản Thanh sau đó rủ Trần Ngãi đi tắm rửa. Trong khi chờ đợi Tích Nhân xuống nhà đi dạo gặp Thừa Lân từ xa chạy về. Thừa Lân trố mắt, buột miệng:
- Lê đại hiệp thật là anh tuấn hơn người.
Tích Nhân thân thiện làm quen:
- Lân đệ quá khen! Lân đệ phong tứ cũng khó có ai hơn. Chẳng hay chúng ta kết bạn với nhau có được không?
- Ồ! Được kết bạn với Lê đại hiệp thì thật là vinh dự lớn cho Thừa Lân này.
- Tiểu huynh cũng mới bước chân ra khỏi núi, có chút võ công, nhưng cũng chưa có công nghiệp gì. Hà tất Lân đệ lại coi trọng ta như vậy. Lân đệ không chê thì chúng ta kết nghĩa anh em, coi như ruột thịt.
Thừa Lân hớn hở:
- Thừa Lân này được có một người nghĩa huynh như Lê đại hiệp thì trong đời không có gì vinh dự và vui mừng hơn.
Tích Nhân cười:
- Lân đệ vẫn gọi là đại hiệp!
- Ồ! Lê đai ca.
Thừa Lân cảm động cầm tay hắn. Tích Nhân siết chặt tay Thừa Lân:
- Một lời đã hứa bốn ngựa khó theo.
- Bốn ngựa khó theo!
Thừa Lân:
- Chúng ta cần kết bái mới được.
- Đã một lời với nhau thì khác gì thiết thạch. Nhưng kết bái càng tăng thêm sự trịnh trọng. Giữa trời đất anh em chúng ta quỳ xuống nói lời tâm nguyện chẳng hay Lân đệ thấy thế nào.
- Tiểu đệ tuân lệnh đại ca.
Cả hai kéo nhau quỳ xuống cùng lại trời đất kết nghĩa kim bằng, thề không đồng sanh cũng đồng tử, hoạn nạn có nhau, ai không giữ lời trời tru đất diệt.
Sau khi lạy trời đất đứng lên, Thừa Lân cảm khái:
- Đây là giây phút bất ngờ và vui mừng nhất của tiểu đệ. Nội tổ nghe được chúng ta kết nghĩa như thế này cũng sẽ vui mừng khôn xiết.
Tích Nhân:
- Tiểu huynh hiện còn ngoại tổ, nhưng ông ta sang Trung Nguyên không biết hành tung. Ngoài ngoại tổ không có ai là người thân. Hôm nay, ta cũng rất vui mừng có người em như hiền đệ.
- Tiểu đệ từ nhỏ đến lớn chưa bước chân ra khỏi Vân Trung Cốc, hôm nay có người nghĩa huynh như đại ca, thế nào cũng phải xin nội tổ theo đại ca du lãm giang hồ.
- Thế thì hay lắm! Tiểu huynh sẽ có người bầu bạn.
Tiên Nhi bấy giờ xuất hiện, nhìn thấy Tích Nhân mở to đôi mắt ngạc nhiên, rồi đỏ bừng mặt cúi đầu. Thừa Lân thấy chị mừng reo:
- Tỷ tỷ! Lại đây tiểu đệ giới thiệu nghĩa huynh của tiểu đệ cho tỷ tỷ.
Tiên Nhi rầy em:
- Lân đệ nói nhăng gì vậy? Nội cho mời Lê đại hiệp vào dùng cơm. Nãy giờ em đi đâu mà mất biến như vậy?
- Em đến chuồng ngựa xem con ngựa Hồng Lô đã thuần thục chưa để đem tặng cho Lê đại hiệp. Hà! Bây giờ Lê đại hiệp là nghĩa huynh của em. Không ngờ em có lúc vui như thế này!
Tiên Nhi mở to ánh mắt:
- Lân đệ nói thật?
- Em có bao giờ gạt tỷ tỷ kia chứa.
Tích Nhân vui vẻ:
- Thừa Lân và tôi đã kết nghĩa sinh tử chi giao. Từ nay tôi cũng coi cô nương như người em của mình.
Tiên Nhi cúi đầu, vân vê tà áo:
- Đa tạ đại hiệp.
Thừa Lân:
- Đại ca không thích gọi đại hiệp đâu. Tỷ tỷ hãy gọi là đại ca như tiểu đệ.
Thừa Lân lại nắm tay nàng:
- Sao tỷ tỷ cứ e lệ mãi như vậy? Hãi gọi một tiếng đại ca đi nào!
Tiên Nhi đẩy tay Thừa Lân ra, gọi nhỏ:
- Đại ca!
Thừa Lân:
- Chúng ta vào ăn cơm và tiểu đệ tuyên bố tin mừng này.
Về tới sân, Tích Nhân nghe mùi thức ăn thơm cả mũi, cảm thấy đói cồn cào. Nùng Bản Thanh đang chờ, đứng lên:
- Mời thiếu hiệp.
Tích Nhân vòng tay:
- Phiền tiền bối phải chờ đợi.
- Chúng tôi cũng mới tắm xong. Chỉ sợ thiếu hiệp đói.
Thừa Lân, nắm tay ông:
- Từ nay nội tổ gọi Lê đại hiệp là Nhân nhi, như cháu. Lân nhi và đại ca đã kết bái làm bạn sanh tử chi giao. Đại ca cũng xem Nhi tỷ như em ruột.
Nùng Bản Thanh cười lớn, vui mừng:
- Thế thì ông nội từ nay bớt lo cho hai cháu. Hay lắm! Hay lắm! Có phải nãy giờ trong lòng ngươi nghĩ đến chuyện ra khỏi Vân Trung Cốc để biết nhân tình?
Thừa Lân đỏ mặt:
- Nội thật hiểu cháu.
Nùng Bản Thanh nắm tay cháu:
- Từ nay lão phu giao nó cho thiếu hiệp. Ừ! Nhân nhi! Ta giao nó cho Nhân nhi quản giáo. Chúng ta ngồi xuống uống mấy chung để mừng duyên hạnh ngộ này.
Tiên Nhi rót rượu cho mọi người rồi mới về chỗ ngồi cạnh Thừa Lân. Nùng Bản Thanh nâng chung:
- Chúng ta cùng cạn mừng cho Vân Trung Cốc được giải cứu và Thừa Lân, Tiên Nhi có người nghĩa huynh.
Họ cùng cạn chung rượu khai vị, và khi Bản Thanh mời cầm đũa, mọi người ăn được vài miếng, Tích Nhân không khách sáo, ăn thật tình, ăn ngon lành. Nhìn Tích Nhân ăn, vừa ăn vừa khen, Tiên Nhi nhẹ nở nụ cười e ấp, ánh mắt long lanh. Trên bàn mọi người cùng ăn, chưa ai bỏ đũa, nhưng ăn cái ăn cầm khách, còn Tích Nhân cắm cúi, chưa bao giờ được ăn ngon như lần này.
Khi đã no, Tích Nhân bỏ đũa:
- Bụng đã no nhưng miệng vẫn còn muốn ăn nữa. Tích Nhân ăn uống như thế này thật vô lễ, nhưng nếu che giấu sự thèm khát thật sự của mình thì hóa ra giả dối.
Nùng Bản Thanh khen:
- Hiền điệt rất hợp ý ta. Ăn ngon lành như vậy là tỏ ra thật lòng coi lão phu cũng như Tiên Nhi và Thừa Lân không khác người nhà, làm ta rất vui.
- Gia phụ trước khi học võ công đã từng đậu tiến sĩ cập đệ khoa Giáp Dần, nên rất nghiêm khắc trong lễ giáo. Nếu ông ta nhìn thầy Nhân nhi ăn uống như thế này, thế nào cũng đánh cho vài gậy.
Nùng Bản Thanh hỏi:
- Hiền điệt biết rõ về cái chết của cha mẹ?
Tích Nhân xót xa:
- Năm ấy điệt nhi đã lên mười ba. Sau khi gia gia bị thảm sát, cùng mẫu thân xuôi ngược trốn tránh hai năm nên cũng được mẫu thân kể rõ cho nghe.
- Thuộc hạ cũng rất muốn biết. Trần Ngãi nói.
Nùng Bản Thanh bảo Tiên Nhi đang dọn dẹp bàn ăn:
- Cháu mang trà và bánh tráng miệng ra đây cùng ngồi nghe chuyện đại ca các con.
Tích Nhân nhắm mắt ôn lại chuyện năm xưa, rồi chậm rãi trong lời xót xa, uất hận:
- Lúc ấy gia đình cháu định cư tại Linh Sơn, cũng một căn nhà gỗ nằm trên sườn núi, soi bóng xuống Giang hồ. Gia gia và mẫu thân cháu muốn định cư ở đấy vì khu vực Quan Sơn núi hồ nối liền, trời mây bát ngát, phong thủy hữu tình, lại đến nơi phố phường cũng không xa lắm. Bấy giờ mọi người biết cháu bị bệnh thất âm tuyệt mạch, không thể sống quá mười tám tuổi nên gia gia và mẫu thân chỉ muốn tìm cuộc sống bình an lo chạy chữa cho cháu. Ngoại tổ cũng vì bệnh của cháu nên sang Trung Nguyên, có thể lên tận Trường bạch sơn để tìm thuốc. Một trong những người bạn thân của gia gia cháu là Bùi bá bá, Bùi Mộng Hoa, người đã từng viết sớ tâu lên Nghệ Tông đàn hạch Lê Quý Ly, nhưng ông vua hôn ám này lại đem việc ấy nói cho Quý Ly biết vì thế Bùi bá bá phải trốn tránh và đến tá túc với gia đình cháu. Quý Ly rất nhiều tham vọng, ngoài việc âm mưu cướp ngôi nhà Trần còn tìm kiếm sưu tập các bí kíp trong thiên hạ. Vì thế khi biết Bùi bá bá ẩn trốn ở đâu và điều tra ra lý lịch biết cha mẹ cháu là ai, thì cho người giả dạng kẻ cướp tấn công. Bọn chúng đều bịt mặt, nhưng căn cứ trên võ công, mẫu thân cháu cũng biết bọn họ chính là nha trảo của Quý Ly.
Nùng Bản Thanh hỏi:
- Căn cứ vào đâu?
- Mẫu thân bị một chưởng hỗn nguyên khí công bị thương trầm trọng. Đây là nội công độc môn của đạo sĩ phái Huyền Linh ở Chí Linh. Bọn dùng kiếm thì sử dụng Thiên long kiếm pháp, môn kiếm pháp mà võ sĩ đại nội đều được luyện tập. Ngoài bị thương vì hỗn nguyên khí công, mẫu thân còn trúng Hổ tu độc trâm, đây là độc trâm của yêu đạo núi Pha Lung chế biến. Yêu đạo Xa Tư Vinh là người thường lui tới nhà Phạm Cư Luận, mưu sĩ của Quý Ly. Chính vì bị hai thứ thương thế, ngoại tổ lại đang ở Trung Nguyên chưa về, Thái Ất thần công của mẫu thân không thể chữa trị cho mình nên đưa cháu đi trốn hết nơi nầy đến nơi khác và hai năm sau thì không còn chống cự được.
Trần Ngãi:
- Vì đội ơn cứu tử của phụ mẫu chủ nhân, nên Ngãi tôi cũng có để ý tìm tòi về việc này. Thuộc hạ muốn nêu ra đây để chủ nhân có thêm chi tiết mà phán đoán. Theo tin tức mà thuộc hạ ghi nhận, thì ở Vân Nam sau khi Lương Vương của nhà Nguyên bị Minh triều tiêu diệt, thì một nhánh họ Đoàn muốn quật khởi để lập lại nước Đại Lý. Người lãnh đạo của họ là ai chưa biết rõ, nhưng họ lại chuyên đi tìm kiếm các bí cấp võ công ở Đại Việt ta và cũng chiêu dụ nhiều người Đại Việt ở các vùng gần biên giới làm thuộc hạ cho họ. Có lẽ họ đã chuẩn bị từ lâu, nên nhiều môn võ công của Đại Việt ta họ còn sử dụng thành thạo hơn nhiều. Hỗn Nguyên khí công hiện không còn là độc môn nội công của đạo sĩ Huyền Linh động núi Yên Tử nữa mà nhiều cao thủ thuộc tổ chức họ Đoàn cũng đã sử dụng, kiếm pháp Thiên long của nhà Trần nghe nói xuất phát từ Đại Lý, nên bọn người này cũng biết sử dụng Thiên long kiếm pháp. Thuộc hạ điều tra, biết rõ nhiều vụ án xảy ra vì chùa đó, hay gia đình đó có thể có cất giấu bí kíp võ công. Cho nên, vụ tấn công gia đình chủ nhân ở Linh sơn năm xưa, chúng ta cũng không nên bỏ giả thuyết bọn họ Đoàn muốn cướp lấy Đằng Tiên bí cấp.
Tích Nhân kêu lên:
- Ồ! Thúc thúc nói làm cho Tích Nhân nhớ lại, việc mình bị giành giật năm xưa. Trong số người tìm bắt Tích Nhân hôm đó ngoài anh em Hoàng gia trang còn có Thiên Thủ tam kiếm, và những người xưng tên là Bế Thiệu và Đèo Căn họ làm việc dưới quyền một cô gái được gọi là đàn chủ.
Trần Ngãi:
- Bế Thiệu và Đèo Căn đều là người của Đoàn thị.
Tích Nhân:
- Nếu vậy thì bọn họ Đoàn cũng rất có thể là thủ phạm. Chúng ta sẽ từ từ tìm hiểu họ là ai. Thù giết cha mẹ Tích Nhân nhất định không bỏ qua.
Trần Ngãi:
- Có lẽ chủ nhân nhiều năm ở trong thâm sơn luyện tập võ công nên ở đây thuộc hạ cũng muốn mạo muội trình bày tình hình đất nước giang hồ hiện nay cho chủ nhân rõ. Nùng tiền bối là bực cao minh chắc sẽ có nhiều nhận xét tinh tế hơn.
Nùng Bản Thanh:
- Lão phu tuy ở một chỗ, nhưng bạn bè thường viếng thăm nên cũng nghe được nhiều. Trần đại hiệp cứ nói có gì lão phu sẽ góp ý.
Trần Ngãi:
- Đại Việt chúng ta hiện nay bị lấy quốc hiệu là Đại Ngu. Quý Ly cho rằng mình có gốc tích họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn nên đổi họ Lê sang họ Hồ và đặt lại tên nước của chúng ta như vậy.
Tích Nhân tức giận:
- Lão gian tặc này thật là ngông cuồng thái quá! Ngu Thuấn là ông vua lấy nhân nghĩa mà trị quốc còn lão là tên gian tặc. Không hiểu cho rằng tổ tông nhà mình là Ngu Thuấn lão có tự thẹn hay không? Cho dù họ Hồ của lão tự nhận có liên hệ với Hồ Công, cháu vua Thuấn đi nữa, dân tộc ta có liên hệ gì với một ông vua bên Tàu mà lấy chữ Ngu làm quốc hiệu?
Trần Ngãi thở dài:
- Quý Ly dời đô, đổi tên nước, giết hại nhiều người, nhất là vụ Đốn Sơn, thượng tướng quân Trần Khát Chân, Thái bảo Trần Nguyên Hàng, thần kiếm Phạm Tổ Thu, Thần quyền Phạm Ngưu Tất... Cả trăm người bị giết ai nấy đến nay còn bàng hoàng. Thế nhưng, sau khi cướp ngôi nhà Trần, cha con họ Hồ vẫn có những người có tài năng ủng hộ.
- Như những ai?
- Phía văn thì có những người như Đồng Thức, được Hán Thương coi như Ngụy Thức, Nguyên Ứng Long, con rể Tư Đồ Trần Nguyên Đán được đưa coi Hàn lâm viện, những thanh niên có khả năng như Lưu Thúc Kiệm, Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn... đều lều chõng đi thi để làm quan. Phía quan võ, bọn Hoàng Hối Khanh, Trần Tùng, Trần Vấn, Nguyễn Bằng Cử, Trần Mộng Dữ... cũng đều hết lòng với lão Hồ tặc!
Tích Nhân:
- Những người mà thúc thúc kể ra, Tích Nhân chẳng biết họ là ai, nhưng Tư Đồ Trần Nguyên Đán là tôn thất, được nghe gia gia ca ngợi là một người học rộng tài cao, thế nhưng sao con cháu của ông ta lại xu phụ Quý Ly?
Trần Ngãi lắc đầu:
- Thuộc hạ thật không hiểu được.
Nùng Bản Thanh hớp ngụm trà, đặt chén xuống bàn:
- Người người đều ca tụng Trần Nguyên Đán, nhưng lão phu không phục chút nào. Đúng! Ông ta là người có tài, đoán biết thời thế, biết thế nào Quý Ly cũng cướp ngôi nhà Trần. Nhưng cái biết của ông ta chứng tỏ ông ta là người bất trung và lão phu nghĩ với tiên tổ nhà Trần không thể nói là không có tội. Đáng lẽ khi biết như vậy, mà dù biết mạng trời của nhà Trần đã hết đi nữa, là người tôn thất, ông ta phải tranh đấu đến cùng để giữ cơ nghiệp của tổ tông, có chết cũng chết vì vua, trái lại ông ta lui về trí sĩ để tránh đụng chạm, làm sui với Quý Ly, gởi con cháu cho hắn để sau này được an toàn. Cái lo đó, thật là cái lo vị kỷ cho riêng gia đình mình mà không phải cho nhà Trần vậy.
Trần Ngãi:
- Lời nghị luận của tiền bối rất đúng. Chính vì cái uy danh của Trần Nguyên Đán, mà bọn người cho rằng việc cướp ngôi của Hồ quý Ly là hợp mạng trời đã có thêm chứng cớ để bênh vực.
Trần Ngãi tiếp lời:
- Phía Văn thần cầm đầu công cuộc chống họ Hồ là anh em nhà họ Mạc, hậu duệ của Mạc Đỉnh Chi. Võ phái hầu hết những người sống ngoài vòng pháp luật và những kẻ trung với nhà Trần. Phe chống dĩ nhiên hoạt động ngấm ngầm, nhưng như đã nói vì có hai thành phần nên ô tạp, có kẻ trung quân ái quốc nhưng cũng có người cơ hội.
Trần Ngãi chua chát:
- Như Ngãi tôi là một trong những người cơ hội, mong rằng góp chút công đón vua Trần về nước sẽ không còn phải sống cảnh trốn tránh, nương thân trong hắc đạo nữa.
Tích Nhân hỏi?
- Đón vua Trần nào về nước?
- Có người tên Trần Khang đã sang Yên Kinh trình bày với vua Minh Thành Tổ việc Quý Ly cướp ngôi, xin nhà Minh đem quân sang giúp lập lại nhà Trần. Trần Khang lấy tên là Trần Thiên Bình, nói là con vua Nghệ Tông. Nhiều người hiện cũng nghi ngờ không biết Thiên Bình có phải con vua Nghệ Tông hay không? Nhưng cho rằng nếu nhà Minh muốn lập lại nhà Trần, thì khi biết Trần Khang dối gạt họ sẽ lập con cháu thực sự của nhà Trần lên ngôi chính thống, nên việc đúng hay không không phải là việc quan trọng, mà việc nhà Minh có đem quân sang giúp hay không mới là quan trọng.
- Thúc thúc thấy nhà Minh đối với việc này thế nào?
- Vua Minh đã đưa phái đoàn Dương Bột sang phong cho Hồ Hán Thương làm An Nam Quốc vương, nhưng hiện tại nhiều phái bộ nhà Minh, chính thức có, giả dạng có qua lại nước ta hàng ngày. Cao thủ của họ liên lạc chặt chẽ với những nhóm chống họ Hồ thúc đẩy tạo lực lượng, như chủ nhân đã biết Hoàng Mật đã từ lâu ráo riết chuẩn bị.
Tích Nhân hỏi Nùng Bản Thanh:
- Tiền bối đối với tình hình này nghĩ như thế nào?
Nùng Bản Thanh lắc đầu, thở dài:
- Đất nước chúng ta chắc chắn sẽ bị nạn binh đao. Quân Minh có sang cũng không hẳn họ sẽ lập lại nhà Trần rồi rút về mà chỉ sợ sẽ chiếm luôn cả nước. Kể từ thời Ngô Vương Quyền đặt nền tự trị đến nay. Nhà Lý đã đẩy lui quân Tống, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã ba lần đẩy lui quân Nguyên, nhưng đó là những lúc mà quân dân rất đoàn kết, vua tôi trên dưới một lòng. Hiện nay lại hoàn toàn khác. Theo tình thế, lão phu cho rằng giúp cha con họ Hồ cũng không đáng, mà trông đợi hay tiếp tay quân Minh vô hình chung cũng sẽ có tội với non sông.
Trần Ngãi hỏi:
- Như lời tiền bối, chúng ta phải làm gì bây giờ?
Nùng Bản Thanh:
- Quân Minh sang lần này sẽ không phải như quân Tống, quân Nguyên trước đây bị chúng ta đánh bại mà chắc chắn họ sẽ chiến thắng. Lý do, theo lão phu, chúng ta thắng quân Tống, quân Nguyên vì quân dân đoàn kết một phần, một phần bấy giờ đất nước chúng ta có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đều là những người có tài đại tướng. Còn hiện tại, nhà Hồ mới cướp ngôi chưa được mọi người công nhận lại thực hiện nhiều chính sách mất lòng dân, quân đội hiện có tổ chức lại qui củ hơn xưa, nhưng tướng lãnh đa số đều là những người xu phụ còn kẻ có tài đại tướng thì hầu như không có ai. Tình trạng như vậy thì làm sao có thể ngăn trở được quân Minh, một quân đội thiện chiến mới đánh đuổi được quân Nguyên ra khỏi nước, lập triều đại mới.
Nùng Bản Thanh uống một hớp trà, thở dài:
- Đất nước chúng ta sẽ bị đô hộ. Đại Việt đã có mấy trăm năm lập quốc lẽ nào cam chịu sống dưới sự đô hộ của quân Minh? Tuy nhiên, sự đô hộ này trải dài trong bao lâu còn phải xem chính sách cai trị của nhà Minh như thế nào. Nếu họ lấy đức vỗ về, chuộng trọng hiền sĩ, giảm nhẹ sưu thuế, thì sự đô hộ có thể kéo dài. Ngược lại, họ lấy uy vũ đàn áp, quan tướng vơ vét cho đầy túi tham, thì họ sẽ khó ở Đại Việt ta lâu. Tóm lại, lâu hay mau, tuỳ theo chính sách cai trị của nhà Minh, nhưng sự đứng dậy của dân chúng Đại Việt giành lại quyền tự trị sớm hay muộn cũng sẽ phải có. Theo lão phu, con đường lập tâm cứu nước của những người hữu tâm có thể nhìn thấy dã tâm của quân Minh và sự bất chính của nhà Hồ, là chuẩn bị cho sự đứng dậy sau này. Liên kết hào kiệt khắp nơi, thành lập thế lực âm thầm chờ đợi thời cơ dựng cờ khởi nghĩa.
Tích Nhân liên tiếp gật đầu tán thưởng:
- Tiền bối thật là người ở trong lều tranh mà nhìn thấu suốt được thiên hạ.
Nùng Bản Thanh khiêm nhường:
- Thật ra, những nhận xét này không phải là của riêng lão phu, mà cũng còn nhiều bạn thân, những anh hùng phải lẩn lánh nhà Hồ, hay những người có cái nhìn cao xa. Lão phu nghe họ nghị luận và cũng thấy đó là con đường phải theo.
Trần Ngãi:
- Trần mỗ nghe được lời này như vén được mây mù mà nhìn thấy trời cao.
Nùng Bản Thanh hỏi Tích Nhân:
- Hiền điệt có chuẩn bị gì trong những ngày tới?
- Trước hết tiểu điệt đi lấy hài cốt mẫu thân đem lên Công Mẫu sơn cải táng. Sau đó sang Trung Nguyên chấn chỉnh lại Phượng Hoàng bang để cho đại tỷ được vui lòng.
Nùng Thừa Lân:
- Tiểu đệ rất muốn được theo đại ca.
Tích Nhân :
- Có Lân đệ đi cùng sẽ vui vẻ lắm, nhưng nhiều người sẽ gây sự chú ý nên ta hẹn với Lân đệ nửa năm sau sẽ trở lại đây hay hẹn gặp một nơi nào đó. Trong thời gian này Lân đệ tập luyện thêm võ công. Côn pháp của Lân đệ đã được nội tổ truyền dạy... nhưng Lân đệ chưa phát huy đúng mức.
Nùng Bản Thanh:
- Bụt nhà không thiêng! Hay là hiền điệt nán ở lại một thời gian chỉ điểm thêm cho Thừa Lân và Tiên Nhi? Không giấu gì hiền điệt, bộ côn pháp nhà lão phu đã thất truyền khá nhiều, lão phu lại ham mê vẽ tranh, du ngoạn hơn là võ thuật nên đường côn có quá nhiều sơ hở...
Tích Nhân vòng tay:
- Cung kính không bằng tuân mạng. Tiểu điệt xin ở lại một thời gian để cùng Lân đệ và Tiên nhi hiền muội nghiên cứu thêm côn pháp và kiếm pháp. Trước đây đại tỷ của tiểu điệt cũng có truyền dạy một ít bộ pháp có thể tránh né sự tấn công của kẻ khác một cách thần diệu gọi là Mê tung bộ và Tích Nhân muốn tặng lại cho nghĩa đệ và nghĩa muội.
Trần Ngãi buột miệng:
- Mê tung bộ! Nghe nói đã thất truyền từ lâu, không ngờ chủ nhân lại học được.
- Trong những ngày ở lại đây, nếu thúc thúc không ngại chúng ta cũng có thể cùng nghiên cứu kiếm thuật và bộ pháp với nhau.
Trần Ngãi đứng lên cung kính:
- Nếu được chủ nhân chỉ điểm, trở lại giang hồ Thanh Hồng kiếm khách chẳng những hoàn toàn thay đổi tư cách mà cũng võ công cũng khác xưa.
Tích Nhân chợt nghiêm nghị:
- Thúc thúc đã coi trọng Tích Nhân tôi, thì tôi cũng coi thúc thúc là cánh tay mặt của mình. Tích Nhân tôi không có lòng muốn trung hưng nền võ thuật nước ta rất cao thâm. Danh thủ nước ta làm cho võ lâm Trung Nguyên nể sợ. Thế nhưng, từ lúc chiến thắng quân Nguyên đến nay càng ngày càng suy đồi. Ngoại tổ giải thích: chiến công quân sự và thời bình đã làm cho những thanh niên thông minh, tư chất có khuynh hướng học võ học chỉ tập luyện bắn cung, cầm thương lên ngựa mong làm một vị tướng quân nên nhiều bậc tôn sư võ học đã không thể tìm được truyền nhân, võ công vì thế mà thất truyền dần. Sự sùng bái Phật pháp của cung đình quá lớn như cúng hiến đất đai hàng ngàn mẫu, dâng hàng ngàn lao nô làm công phục vụ cho chùa chiền... đã làm cho giai cấp tăng lữ trở thành thành phần tưởng giả ăn chay. Họ thi học cho nhiều sách, thuyết pháp cho thật hay, sửa giọng tụng niệm cho du dương để tiến thân... mà hiếm người chịu khó theo con đường Đạt ma sư tổ, Huệ Năng sư tổ. Võ học thiền môn vì thế cũng thất truyền nhanh chóng. Nếu thúc thúc thấy rằng mình vẫn muốn một ngày nào đó áo mão vinh quy, thì Tích Nhân không thể giúp thúc thúc được nhiều, nhưng nếu thúc thúc có lòng nghiên cứu, bồi bổ kiếm pháp của mình, sau này thu dạy đồ đệ, hiển dương võ học chân chính thì Tích Nhân rất vui lòng cộng tác cùng thúc thúc.
Trần Ngãi đứng lên:
- Trần Ngãi này quyết theo chủ nhân thì suốt đời vì chủ nhân mà ra sức. Chủ nhân muốn hưng binh lập nên triều đại thì Trần Ngãi vì chủ nhân làm kẻ tiên phong, chủ nhân muốn làm một bậc kỳ hiệp, thì Ngãi tôi cũng cặp kiếm theo hầu bên cạnh.
Tích Nhân cũng đứng lên:
- Như lời Nùng tiền bối đã nói, Tích Nhân dù không có lòng tranh bá đồ vương, tụ chúng mai sau khởi nghĩa, nhưng đã làm người học võ thì tương lai của đất nước chúng ta cũng không thể không quan tâm tới. Diệt trừ những phường tham ô, bán nước cầu vinh, cứu giúp những kẻ có lòng và đào tạo nhân tài là những gì mà chúng ta phải làm. Và để chúng ta có thể thực hiện những điều này, hiện tại Tích Nhân được đại tỷ Phượng Hoàng bang tiên tử di chúc đảm nhiệm chức bang chủ Phượng Hoàng bang ở Trung nguyên, thì ở Đại Việt chúng ta cũng có thể thành lập Phượng Hoàng bang hội này, và mong chi nhánh Phượng Hoàng bang ở Đại Việt, Trần thúc thúc, và Lân đệ đảm trách cho.
Trần Ngãi:
- Chủ nhân đã dạy, thuộc hạ cung kính bất như phụng mạng.
Nùng Thừa Lân:
- Chỉ sợ tiểu đệ còn kém tài... khó giúp được gì cho đại ca.
- Để có thể phát triển Phượng Hoàng bang, ta sẽ truyền tất cả công phu trấn bang của Phượng Hoàng bang cho Trần thúc thúc và hiền đệ. Nếu hai người chăm chỉ luyện tập, trong vòng năm bảy năm sẽ trở thành cao thủ giang hồ không mấy người theo kịp.
Thừa Lân vui vẻ:
- Được đại ca truyền võ công cho thì bảo Thừa Lân làm gì cũng không từ nan.
Tiên nhi đứng lên, vẻ mặt không vui:
- Xin nội tổ cho con vào nhà trong.
Thừa Lân nắm tay chị:
- Đại ca không nhắc gì đến tỷ tỷ, nàng đã buồn giận rồi!
Tích Nhân nhìn nàng:
- Đại ca chưa dám hứa hẹn nghiên cứu võ công cùng Tiên Nhi hiền muội, vì hiền muội là đồ đệ của Nga Mi, chỉ sợ những góp ý của ta đối với kiếm pháp của hiền muội sẽ làm cho Nga Mi cho chúng ta không kính trọng họ.
Thừa Lân đính chính:
- Tỷ tỷ đã theo Liễu Trần sư thái đi Nga Mi học võ nhưng lại không được thu nhận làm Nga Mi đệ tử.
Tích Nhân ngạc nhiên:
- Tại sao vậy?
Nùng Bản Thanh thở dài:
- Liễu Trần sư thái vân du đến đây ở lại Vân Trung Cốc mấy ngày rồi thương mến Tiên Nhi đưa nó về Nga Mi, nhưng Vô Trần sư thái, chưởng môn phái này khi biết Tiên Nhi là người Đại Việt lại sợ võ công của họ truyện ra nước ngoài vì thế mà cự tuyệt. Tiên Nhi vẫn được Liễu Trần truyền cho kiếm pháp và nội công căn bản nhưng bị buộc phải thề chỉ sử được sử dụng để bào toàn mạng sống khi bị kẻ thù đến Vân Trung Cốc tấn công mà không được sử dụng võ công hành hiệp, bôn tẩu giang hồ, truyền lại võ công cho bất cứ người nào, dù là con cháu...
Tích Nhân:
- Nếu vậy thì Tiên Nhi hiền muội không cần phải sử dụng võ công của Nga Mi làm gì. Nội công của tiểu huynh là Thái Ất thần công, nhưng môn nội công âm nhu kiêm bị này tốn rất nhiều thời gian để hoàn thành, Lục Dương thần công của Phượng Hoàng bang lại chỉ thích hợp cho nam giới nên tiểu huynh sẽ truyền Huyền Âm thần công, Huyền Âm chưởng chỉ và Phượng Hoàng kiếm pháp cho hiền muội.
Tiên Nhi trở nên vui vẻ:
- Cảm ơn Nhân đại ca.
Sau đêm hôm đó Tích Nhân đã ở lại Vân Trung Cốc trau dồi võ nghệ cho Trần Ngãi, Thừa Lân và Tiên Nhi. Ngày nắng họ tập luyện chiêu thức trên đồng cỏ, khi mưa vào trong một căn nhà chứa cỏ. Chỉ hơn một tháng nhưng võ công của Tiên Nhi và Thừa Lân tiến bộ thấy rõ và tình cảm của họ cũng trở nên khăng khít hơn. Tiên Nhi tự tay may thêm quần áo và giặt giũ cho Tích Nhân. Tích Nhân cũng nhận thấy tình cảm của Tiên nhi dành cho mình nhưng trong lòng không thể nào quyên hình ảnh Trần Kỳ Anh, cả con tim vẫn đầy ắp hình ảnh của nàng, nên cố tình không để ý đến ánh mắt tha thiết của Tiên Nhi. Cử chỉ đối xử hàng ngày không khác gì với em gái.
Thấm thoát hơn tháng trôi qua, Tích Nhân ngỏ lời ra đi. Đêm đó Nùng Bản Thanh làm tiệc đưa tiễn. Tiên Nhi vẫn cố làm vẻ tự nhiên, nhưng ai cũng biết nàng rất bịn rịn. Theo sự sắp xếp của Tích Nhân, Trần Ngãi ra giang hồ thăm dò động tĩnh của tổ chức họ Đoàn ở Đại Lý và Hoàng Mật, Thừa Lân và Tiên Nhi ở lại Vân Trung Cốc tiếp tục tập luyện côn pháp, kiếm pháp. Tích Nhân về Đông Đô lấy hài cốt của mẹ. Tháng sau sẽ cùng gặp nhau ở Công Mẫu Sơn.
Buổi sáng trước khi chia tay, trong khi cùng Nùng Bản Thanh và Trần Ngãi ăn bánh uống trà, Thừa Lân mang về một con ngựa hồng:
- Con hồng mã này là con ngựa đầu tàu của một bầy ngựa hoang cả trăm con. Tiểu đệ và Tiên Nhi tỷ tỷ mất cả tháng rình mò mới bắt được. Tiểu đệ huấn luyện cũng vừa thuần thục, nó chẳng những phi với tốc độ rất nhanh, mà còn dai sức hơn ngựa thường, chúng em tặng đại ca.
Tích Nhân không khách sáo:
- Có con ngựa như thế này tiểu huynh cũng sẽ đỡ phải mất công lực nhiên trên con đường ngàn dặm.
Trần Ngãi nhìn con ngựa thân thể không mấy cao lớn nhưng lông đỏ như lửa, ngực to bụng thon, lưng thẳng, bốn ống chân thon dai, bốn đùi bắp thịt nổi cuồn cuộn, khen:
- Thật là con ngựa thiên lý.
Nùng Bản Thanh:
- Vùng này khác biệt nhiều với các nơi khác. Núi cao hiểm trở, sườn núi đôi lúc thẳng đứng, khe sâu muôn trượng nên ngựa hoang sinh sản ở đây có khả năng phóng qua chướng ngại, vượt qua hố sâu, lên đèo xuống núi không có ngựa nào bằng. Con Hồng Lô này nếu so với ngựa thiên lý của Đại Uyển tì nhỏ thó hơn nhiều, nhưng nếu thi đường trường, ngựa Đại Uyển cũng không qua nổi. Tuấn mã đợi anh hùng, lão phu ở đây cả đời chưa bao giờ tìm được con ngựa như thế này.
Trần Ngãi lại xem hàm răng:
- Nó chỉ vừa mới mọc đủ răng mà đã là con ngựa đầu tàu của một bầy ngựa hoang rất lớn, đủ nói lên bản lãnh phi thường.
Tiên Nhi e ấp mang ra một gói hành lý:
- Đây là quần áo của đại ca. Tiểu muội biết đại ca có nhiều vàng ngọc, nhưng cũng cần phải mang theo một số tiền nhà Hồ để chi dùng dọc đường. Khi vào địa phận Chiêm Hoá mới có quán xá nên đại ca dùng tạm xôi và thịt tiểu muội giở theo...
Tích Nhân cầm túi hành lý và mấy ống xôi thịt, cảm động:
- Trên một tháng ở đây được sự săn sóc của hiền muội tiểu huynh cảm thấy như đang ở trong một gia đình ấm cúng có một cô em gái rất ngoan hiền...
Đôi mắt Tiên nhi chợt đỏ, cúi đầu:
- Cảm ơn đại ca...
Nàng vụt chạy vào nhà trong để khỏi phải bật lên tiếng khóc.
hutructiensinh
HỒI THỨ 8

Gặp Gỡ Anh Hùng

Nùng Bản Thanh nhìn theo cháu, thở dài:
- Là con nhà võ, nhưng con bé lúc nào cũng dễ mủi lòng.
Thừa Lân cột gói hành lý lên lưng ngựa. Tích Nhân cung tay cáo từ Nùng Bản Thanh, giắt ngựa ra cổng. Sau khi cung tay giã từ mọi người lần nữa, Tích Nhân nhảy lên lưng, con Hồng Lô hí lên một tiếng dài, phóng xuống núi.
Dù học cưỡi ngựa không bao lâu, nhưng lúc này đã là một cao thủ thượng thặng, Tích Nhân không lo ngại bị ngã, bị trượt khỏi lưng ngựa gãy tay vỡ đầu như trước nên ra khỏi Vân Trung Cốc liền muốn xem khả năng của Hồng Lô như thế nào. Chủ muốn xem sức ngựa, ngựa lâu ngày chưa được dịp trổ tài, trên con đường núi nhỏ từ Vân Trung Cốc ra bờ sông Ngô, có nơi chỉ người ngựa qua lọt, Hồng Lô vẫn phi như bay và Tích Nhân ngồi trên lưng phải nhanh mắt để lách mình tránh tàng cây nhánh cây có thể đập lên người.
Đến sông Ngô đã vừa trưa, lúc này trời đang giữa đông, nước chảy xiết nhưng trong xanh, Tích Nhân cho Hồng Lô uống nước, gặm cỏ, còn mình lấy xôi Tiên Nhi dỡ theo ra ăn. Nghĩ đến cô gái vừa xinh đẹp vừa hiền thục như Tiên Nhi, Tích Nhân thở dài, cho mình không có phước để có một người vợ như vậy. Không có phước vì gặp nàng quá trễ, con tim hắn đã đầy ắp một hình ảnh khác! Không thể yêu Tiên Nhi, nhưng Tích Nhân tự hứa phải chăm sóc nàng, phải thương yêu nàng như một cô em gái, và cũng sẽ làm cho Tiên Nhi xem mình như một người anh thật sự.
Trở lại với Hồng Lô, Tích Nhân vuốt ve:
- Ngươi là một con ngựa tốt, từ nay ta và ngươi sẽ cung nhau bôn ba khắp nơi. Ta hiện cũng không có gì gấp gáp, bây giờ xuôi Nam, ngươi cứ thong thả mà đi.
Sông Ngô chảy len chân núi, có nơi nước chảy như thác, nhưng cũng có khúc thuyền bè có thể đi được. Con đường dọc theo sông có nơi có đường sá, có nơi chỉ là một lối mòn xuyên núi. Địa thế và đường sá khó khăn cho thấy con ngựa Hồng Lô sinh và lớn lên giữa vừng rừng núi đã thích ứng như thế nào. Tích Nhân có cảm tưởng nó băng đèo lội suối như trên đất bằng. Tuy nhiên, nửa ngày đường cũng chỉ đi qua ranh giới núi Thượng Lãm. Sợ trời tối, ngựa đói, Tích Nhân để ngựa gặm cỏ ở bờ sông và tìm một gốc cây chuẩn bị nghỉ đêm. Mới ăn hết ống xôi Tiên Nhi dỡ theo, Tích Nhân nghe ngựa chạy rầm rập hướng hạ lưu đưa tới. Giây lát sau, một người quần rách rưới, nằm rạp trên lưng ngựa chạy thục mạng, phía sau bị người hò hét đuổi theo. Người đuổi phía sau thỉnh thoảng dùng tên bắn với theo người chạy phía trước. Con ngựa của người bị đuổi có lẽ đã đuối sức hay trời đã tối không thấy đường nên qua chỗ Tích Nhân ngồi, bị vấp đá vướng hay giây leo ngã nhào. Người bị đuổi có thân pháp mau lẹ, gọn gàng, nhảy khỏi mình ngựa hạ chân xuống đất, nắm chặt cây kiếm trong tay sẵn sàng ứng chiến. Tích Nhân thấy người này đã bị thương, trên lưng đang dính một mũi tên, máu chảy đỏ lưng. Bọn người đuổi theo tất cả năm tên, cùng vận võ phục xanh. Thân pháp chúng nhảy xuống ngựa bao vây người thanh niên rách rưới chứng tỏ đều là cao thủ. Bây giờ Tích Nhân mới để ý dù áo quần xanh, nhưng viền cổ của mỗi tên áo xanh có màu sắc khác nhau. Tên cổ áo màu hồng, khoảng bốn mươi, nhìn người bị bao vây:
- Đến nước này ngươi không chịu ngoan ngoãn đầu hàng còn đợi đến bao giờ?
Người ăn mặc rách rưới, mặc mày lem luốc nhưng tiếng nói chứng tỏ còn trẻ, đáp trong giọng cười gằn ngạo nghễ:
- Phạm mỗ đã có thể sống mấy năm nay, thì hôm nay các ngươi cũng đừng hòng động được đến ta.
Người cổ áo màu hồng khoát tay, hay tên áo xanh tuốt kiếm bao vây người ăn mặc rách rưới vào giữa. Hai tên áo xanh không nhân nhượng, kiếm tuốt khỏi vỏ, liền tấn công ngay. Kiếm pháp của chúng làm Tích Nhân cau mày, đây là kiếm pháp được truyền dạy cho hầu hết cao thủ vệ sĩ Hồ Quý Ly, Thiên Long Kiếm pháp đã được sư phụ Quý Ly là Sư Đề bồi bổ, biến chế thêm. Khẳng định bọn áo xanh phải là người của Hồ Quý Ly và thấy người bị nạn dù cương cường, nhưng sức đã yếu, đường đao không còn linh hoạt, Tích Nhân quát lên một tiếng phóng mình ra. Đang yên trí sắp hạ người bị thương, hai tên áo xanh bống thấy một áp lực rất mạnh đè lên kiếm của mình, và cây kiếm trong tay như bị xoay tít, không thể nào giữ nổi phải thả ra. Mất kiếm chúng vội thoái bộ, thấy trước mắt xuất hiện một thanh niên chỉ độ hai mươi, tay cầm một khúc cây khô mà thôi lấy làm kỳ dị. Tên cầm đầu cau mày:
- Ngươi là ai lại dám can thiệp vào chuyện triều đình?
Đã nghe biết tình trạng thay ngôi đổi chúa trong nước, Tích Nhân cả cười:
- Ngươi nói triều đình nào? Tên của vua các ngươi là ai?
Bấy giờ mọi người nước ta, ngoài các sắc dân thiểu số đều nhuộm răng đen, riêng Tích Nhân lúc nhỏ bị tuyệt chứng, rồi sau đó gia đình tan nát lê thân đây đó nên vẫn còn răng trắng. Bộ võ phục mặc trên người cũng do Nùng Bản Thanh mua ở Tô Châu, lại hỏi vua các ngươi là ai làm năm tên võ sĩ nhà Hồ tưởng hắn là người Minh. Lúc bấy giờ sứ nhà Minh là Dương Bột mới sang nước ta dụ dân trong nước cho biết con cháu nhà Trần còn hay không, nhà Hồ có cướp ngôi hay không? Tuy rằng Minh Thành Tổ phong cho Hán Thương làm An nam quốc vương, nhưng vẫn cử người qua lại, hạch sách điều tra, Hán Thương không dám làm phật lòng nên phải nhẫn nhịn, mua chuộc. Vì thế năm tên đưa mắt nhìn nhau, có chút e dè, tên cầm đầu:
- Có lẽ ngài là người của thiên triều phái sang?
Tích Nhân lại cả cười:
- Cái gì là thiên triều? Đây là sự ngạo nghễ của vua Tàu! Ta chẳng phải người Tàu.
Một tên áo xanh:
- Thì ra ngươi chỉ là một tên điên khùng! Hãy đi tránh chỗ khác nếu không muốn tìm cái chết.
Bằng một thân pháp quái dị, thân pháp trong Đằng Tiên bí kíp, Thái Ất mê tung, Tích Nhân bước tới tên vừa mắng và khi Tích Nhân bước lui về sau, thì tên này đã bị một cái tát tưởng chừng như trời giáng, thân thể chao qua một bên, hàm răng gãy đi mấy cái.
Tích Nhân nghiêm nghị, gằn từng tiếng:
- Các ngươi là đều là tay sai trong đội thám tử của gian tặc Quý Ly. Tất cả đều đáng tội chết, nhưng ta vì lòng hiếu sinh của thượng đế mà tha cho. Nếu không mau chóng chạy đi, thì đây là chỗ chôn thây các ngươi.
Tên đầu đàn thấy Tích Nhân võ công cao diệu, nhưng nghĩ có thể vì chúng không đề phòng mà Tích Nhân mới đắc thủ dễ dàng, nên quát lớn:
- Đừng để tên ngông cuồng này sống sót!
Sau tiếng quát của thủ lĩnh, năm cây kiếm nhất tề phát động. Đối phó với năm cao thủ, trong làn kiếm quang dày dặc, thanh niên rách rưới bên ngoài nhìn xem chỉ thấy Tích Nhân ung dung bước tới, bước lui, ngã người ra sau, chồm người tới trước, khúc cây trong tay như có phép mầu đẩy kiếm của người này đỡ lấy nhác kiếm của người kia và mỗi khi Tích Nhân cười nhẹ, khúc cây điểm lên người, mất ngay khả năng chiến đấu. Chỉ trong giây lát năm tên cao thủ đều mất kiếm, kẻ đứng người ngồi sắc mặt đều kinh hoàng.
Tích Nhân vứt khúc cây khô trong tay xuống sông, cười khẩy:
- Các ngươi muốn tên ngông cuồng ta nhất định phải chết nữa hay thôi?
Một tên ấp úng:
- Chúng tôi không biết Thái Sơn trước mắt, lỡ chạm oai hùng xin thiếu hiệp tha thứ.
Tên này nói xong biết mình sẽ bị thủ lãnh quở phạt, có thể rơi đầu, lấm lét nhìn các tên khác.
Tích Nhân nhìn tên thủ lãnh:
- Ngươi tên họ là gì?
Tên này cứng cỏi:
- Tên một bại tướng cần gì phải hỏi! Muốn giết, muốn mổ cứ tùy ý.
Tích Nhân chắc lưỡi:
- Thật là khí khái! Nếu đem lòng khí khái này vực nước phò vua thì hay biết mấy. Đáng tiếc lại cam tâm làm chó săn cho cha con họ Hồ!
Tên thủ lãnh cười lạt:
- Ngươi còn con nít biết gì việc nước nhà? Đương kim hoàng thượng và Thượng hoàng là những bậc anh minh tài trí có thể làm cho dân cường nước thịnh, có đâu như các ông vua hôm ám nhà Trần gây lầm than khổ sở cho dân chúng. Trần có thể theo mệnh trời thay nhà Lý, thì tại sao bọn phù Trần các ngươi lại nhất định phải gây nội loạn. Chẳng những thế còn cam tâm lạy lục nhà Minh cõng rắn cắn gà nhà?
Người thanh niên rách rưới bị thương cất tiếng thoá mạ:
- Ngươi câm mõm chó của ngươi lại! Dân chúng lầm than khổ sở kể từ lúc nào? Phải chăng từ lúc Quý Ly đắc thế, nắm giữ triều chính, ức chế hiếp vua, nay giết người này, mai diệt người khác, cất nhắc tay chân của hắn nắm giữ uy quyền trong nước là lúc cả nước mới sống trong khổ ải, lo sợ phập phồng. Ngươi lấy sự nhiễu nhương của dân mà trách nhà Trần, sao không thấy đó là tội của tên gian thần âm mưu thoán nghịch đã khuynh đảo kỷ cương? Ngươi làm nha trảo, bán thân cho Quý Ly vì lương bổng hay yêu nước thương nòi? Bọn ngươi theo dõi sục tìm con cháu trung thần để tận diệt cho kỳ hết, tay vấy máu tanh là yêu nước hay thật sự vì mong lập công để được thang quan tiến chức? Tổ bà mi! nói thế mà nói được.
Tên thủ lãnh kiêu ngạo:
- Ngươi không đáng nói chuyện với ta!
Thanh niên gầm lên:
- Ngươi đã là thứ gì kia chứ?
Tích Nhân cả cười:
- Theo kiếm pháp và võ công mà ngươi sử dụng, nếu ta không lầm, trước kia các ngươi đã từng theo học võ của lão tổ sư Nguyễn Sư Đề, nếu không thì sư phụ các ngươi cũng là học trò của ông ấy. Như vậy các ngươi nghĩ gì về việc thượng tướng Nguyễn Đa Phương, con trai của sư phụ hay sư tổ các ngươi bị giết? Lúc ấy ta còn nhỏ, quá nhỏ để hiểu biết, nếu các ngươi kể lại ta nghe cho thông, nếu ta nhận đúng Quý Ly là người dũng cảm trong trận Ngu Giang, tướng Đa Phương bị buộc phải thắt cổ mà chết là Quý Ly vẫn có tình có nghĩa với sư phụ và sư đệ lão, thì ta không làm hại các ngươi một sợi lông. Thế nào? (Chính Sử: Quý Ly học võ với Nguyễn Sư Đề. Nguyên Đa Phương là con trai Sư Đề. Đa Phương được Quý Ly cất nhắc để làm vây cánh. Tháng 10 năm Kỷ Tỵ, Quý Ly đem binh chống nhau với quân Chiêm, quân giặc chận nước sông Lương rồi đặt binh mai phục. Quân thủy bộ, trên bảy chục tướng lãnh của ta bị giết, Quý Ly bỏ trốn về kinh thành, để Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương ở lại chống nhau với giặc ở Ngu Giang. Nguyễn Đa Phương đã dùng kế nghi binh, cắm cờ xí cho nhiều để quân giặc tưởng quân mình còn đông đảo không dám thừa thế tấn công, rồi đến đêm mới lén rút quân, bảo toàn được quân đội. Sau trận này Đa Phương oán trách Quý Ly. Quý Ly gièm pha với Nghệ Tông việc đánh Chiêm thất bại vì Đa Phương, xin Nghệ Tông xử tử. nghệ Tông không nỡ, chỉ muốn bắt tội nhẹ, Quý Ly nói: "Đa Phương là người mạnh khoẻ, tôi sợ hắn sẽ chạy sang phương Bắc với nhà Minh, hay là chạy vào Nam với Chiêm Thanh, thả cọp ra sẽ di họa về sau, chi bằng giết đi là xong". Sau đó hạ lệnh bắt Đa Phương tự tử).
Nghe Tích Nhân hỏi như vậy, tên áo xanh sợ chết vừa lên tiếng vừa xin tha, bật khóc:
- Các vị đại ca! Cái chết của Nguyễn sư bá thật đau thương khôn cùng. Sư phụ tiểu đệ mỗi lần nhớ tới đều không giấu nổi ngậm ngùi.
Tên thủ lãnh cứng đầu:
- Tôn đệ! Ngươi sợ chết đến như vậy sao? Ngươi có biết hai tiếng trung thần là gì không?
Tích Nhân khen:
- Hay! hay lắm! Thế thì Quý Ly là bề tôi mà giết vua, soán ngôi có phải là trung thần hay không?
Người thủ lãnh nghe hỏi, không biết trả lời như thế nào, gã có vẻ thẹn, cúi đầu không nói.
Tích Nhân bất ngờ lướt qua bọn chúng, giải khai huyệt đạo:
- Các ngươi hãy đi đi.
Năm tên áo xanh thấy máu huyết lưu thông, tay chân cử động được đều nhất tề đứng lên. Tên thủ lãnh ngẩn ngơ nhìn Tích Nhân giây lát rồi cung tay:
- Xin cho biết quý tánh đại danh.
Tích Nhân cũng vòng tay:
- Tại hạ họ Lê, tên Tích Nhân.
Tên thủ lãnh:
- Đa tạ Lê thiếu hiệp tha mạng và chỉ điểm. Trương Thanh và anh em sẽ không ai báo cáo việc hôm nay lên cấp trên để gây phiền nhiễu cho mình và làm thiếu hiệp phải mất thì giờ với quan binh sau này. Anh em chúng tôi cũng sẽ suy nghĩ để tìm cho mình một con đường thích đáng.
- Trương đại ca đã có ý như vậy thì hay lắm. Hậu hội còn dài sau này chúng ta còn có khi gặp lại. Xin Trương đại ca tự nhiên.
Họ Trương lấy trong người một chai thuốc:
- Tên chúng tôi dùng có độc, xin thiếu hiệp lấy chai thuốc này để dành sử dụng sau này.
Tích Nhân không từ chối. Gã họ Trương cung tay giã từ, anh em lão cũng vậy, chờ bọn chúng lên ngựa ra roi, Tích Nhân quay lại thanh niên:
- Các hạ bị thương nặng lắm không?
Thanh niên:
- Đa tạ ân huynh cứu mạng, mũi tên trên lưng sâu đến xương nên nhức nhối khôn cùng.
- Thấy trời đã tối tại hạ định ngủ ở đây qua đêm, các hạ lại đàng gốc cây kia, tại hạ rút mũi tên và băng bó lại cho.
- Đa tạ ân huynh cứu giúp.
Thanh niên đến gốc cây nằm xuống. Tích Nhân điểm một số huyệt cầm máu quanh mũi tên rồi rút mạnh ra. Mũi tên có ngạnh, nhất là da thịt chung quanh bị độc làm sưng tấy, khi rút ra như vậy đau đớn kịch liệt, nhưng thanh niên chỉ hơi gồng mình lên, không rên la một tiếng.
Tích Nhân thấy thanh niên gan dạ cũng phai khen:
- Các hạ là người gan dạ phi thường. Nằm yên để tại hạ lấy nước rửa máu trên lưng cho các hạ.
Thanh niên vội chống tay ngồi lên:
- Máu đã chảy xuống tận dưới chân tiểu đệ. Để tiểu đệ xuống sông tắm cho sạch là tốt nhất. Chỉ cần xin ân huynh vài viên thuốc trị độc.
Tích Nhân đưa chai thuốc cho thanh niên, nhưng nói:
- Nhân huynh giữ chai thuốc để dùng sau này, còn lần này nằm xuống trở lại để tại hạ trị độc giúp cho.
Thanh niên nằm xuống, Tích Nhân lấy viên Hùng Hoàng châu đặt lên vết thương, giải huyệt, vận công lực đẩy máu độc ra ngoài thân thể cho thanh niên. Khi thấy hết máu đen, Tích Nhân thu tay:
- Nhân huynh có thể xuống sông tẩy uế được rồi.
Thanh niên ngồi lên rối rít:
- Y thuật ân công thật kỳ diệu như phép tiên. Chỉ giây lát mà tiểu đệ đã cảm thấy thân thể thoải mái vô cùng.
Thanh niên xuống sông tắm rửa, Tích Nhân thấy thanh niên quá rách rưới, muốn lấy một bộ áo quần mang theo tặng cho, nhưng nghĩ lại đó ân tình của Tiên Nhi, nàng đã tận tụy từng đường chỉ mũi kim may cho mình, nên thấy không thể trao tặng người khác.
Thang niên tắm rửa xong, bới lại tóc, Tích Nhân thấy thanh niên cũng trạc độ tuổi mình mày rộng mắt tròn, miệng rộng trán cao, thân hình lực lưỡng đúng là một trang tráng hán, trong lòng khen thầm. Trong khi thanh niên tắm, Tích Nhân đã quơ một ít cây đốt lửa và khi gã lên bờ, đưa cho ống xôi còn lại:
- Tại hạ còn ống cơm, nhân huynh dùng tạm.
Thanh niên không khách sáo, dùng bàn tay bóp bể, ăn ngay một vốc lớn:
- Hơn ngày nay tiểu đệ chẳng có gì trong bụng.
Tích Nhân dò hỏi:
- Nhân huynh vì sao bị cao thủ đại nội truy đuổi?
- Tiểu đệ họ Phạm, tên là Hổ Hùng, bà con cùng họ với Phạm bá bá, Phạm Tổ Thu. Gia phu không dính líu quan trường mà làm rẫy sinh sống. Tuy nhiên, khi Phạm bá bá tham gia dự mưu tại Đốn Sơn thất bại, thì cả dòng họ Phạm có can dự hay không cũng bị Quý Ly tàn hại. Gia đình tiểu đệ trên mười người đều bị giết. Trong lúc đánh nhau, gia gia vừa chống địch vừa ra nghiêm lệnh buộc tiểu đệ phải bôn tẩu, trốn tránh để giữ chút máu huyết cho dòng họ sau này. Vì nóng trả thù nhà, tiểu đệ lên gia nhập lực lượng Thiết Sơn và làm một đầu mục dưới trướng Nguyễn Nhử Cái. Lực lượng Thiết Sơn ô hợp nên đã chẳng thể chống lại quan binh do Nguyễn Bằng Cử chỉ huy, từ đó tiểu đệ trốn tránh hết nơi này đến nơi khác và khi bị nhận diện tức thời bị truy sát.
Tích Nhân thở dài:
- Hoàn cảnh của Phạm huynh cũng giống phần nào với tại hạ. Gia gia tại hạ là Ngân bút Lê Trung Lương, chỉ vì để cho Bùi Mộng Hoa bá bá ở trong gia trang mà bị họa toàn gia.
Thanh niên kêu lên:
- Ồ! Gia gia tại hạ ẩn cư làm rẫy, nhưng cũng thường nghị luận việc giang hồ với bạn hữu, người thường đề cập đến Lê bá bá và bá mẫu... Thường nói rằng trong thiên hạ ngày nay không ai võ công tuyệt thế như Đằng Tiên lão nhân gia. Không ngờ tiểu đệ hôm nay được cứu mạng và được chứng kiến võ công phi thường của lão nhân gia truyền lại.
Hùng Hổ ăn hết miếng xôi cuối cùng, thở dài:
- Trời đất bao la, tiểu đệ hiện nay chẳng biết ngày mai của mình như thế nào, muốn theo bên mình làm người giắt ngựa cho ân công, nhưng chỉ sợ với cao và cũng gây phiền phức cho ân công.
Tích Nhân vỗ vai Hổ Hùng:
- Chúng ta đều là con cháu nạn nhân Hồ tặc. Tình cờ gặp nhau hôm nay cũng kể là hữu duyên. Anh em chúng ta cùng trang lứa kết tình huynh đệ với nhau chẳng phải là hay hơn?
- Ồ! Đấy là vinh dự rất lớn cho tiểu đệ.
- Cái gì vinh dự với không vinh dự? Việt nữ kiếm pháp của dòng họ Phạm nổi tiếng trong giang hồ cả trăm năm nay. Kết bạn với Phạm huynh cũng là vinh dự của tại hạ vậy.
Hổ Hùng vội quỳ gối:
- Xin đại ca nhận Hổ Hùng ba lạy.
Tích Nhân cản lại:
- Đã kết bạn thì anh em ta phải công bằng, ai lớn làm huynh trưởng.
Hổ Hùng:
- Tiểu đệ sinh tháng Dần năm Ất Sửu, năm nay mười chín tuổi.
Tích Nhân vui vẻ:
- Ta sinh tháng Tý năm giáp tý, lớn hơn hiền đệ đúng một tuổi. Từ nay anh em chúng ta có phước cùng hưởng, có họa cùng chia.
Hổ Hùng dập đầu:
- Xin ra mắt đại ca.
Để Hổ Hùng lạy ba lạy, Tích Nhân nâng dậy:
- Đại ca rất mừng có thêm một người thân như Phạm hiền đệ.
Bên ánh lửa hồng Tích Nhân và Hổ Hùng tâm sự, kể chuyện cuộc đời minh cho nhau nghe, giây lát, cả hai cảm thấy thân mật hợp ý khôn cùng. Nhất là Hổ Hùng cũng tỏ ra không muốn con đường làm quan, cúi đầu cấp trên, hô hét cấp dưới. Nhận thấy Hổ Hùng bị thương, dù rất muốn tiếp tục nói chuyện, nhưng Tích Nhân cũng nhận ra sự mệt mỏi của Hổ Hùng, nên khuyên đi ngủ và Hổ Hùng nằm xuống đất thì ngáy ngay. Tiếng ngáy to như sấm. Nghe tiếng ngáy của Hổ Hùng, Tích Nhân biết người hiền đệ mới của mình có sức mạnh trời sinh, nhưng đã không luyện nội công căn bản của người võ học thượng thừa. Nhìn gân cốt của Hổ Hùng, Tích Nhân biết Lục Dương thần công rất thích hợp với Hổ Hùng, nhưng chưa hiểu Hổ Hùng là người có kiên nhẫn hay không?
Mờ sáng hôm sau, Tích Nhân đánh thức Hổ Hùng dậy. Khi ngồi dậy vết thương làm Hổ Hùng nhăn mặt, nhưng vui vẻ:
- Tiểu đệ chưa bao giờ ngủ ngon được như hôm nay. Đại ca! Chúng ta đi dâu đây?
- Đến thị trấn gần nhất, mua thuốc băng bó để vết thương hiền đệ mau lành. Sau đó rồi tính xem hiền đệ nên theo ta về kinh thành hay lên Vân Trung Cốc sống với tam muội và tứ đệ một thời gian.
Đã nghe kể về Tiên Nhi và Thừa Lân, sự sắp xếp của Tích Nhân như thế nào, Phạm Hổ Hùng nói:
- Tiểu đệ rất muốn theo đại ca dong ruổi, nhưng chắc chắn sự hiện diện của tiểu đệ sẽ làm cho hai anh em ta khó ngày nào được yên. Tiểu đệ mấy năm nay hết trốn chỗ này, mai chạy chỗ kia, tinh thần lúc nào cũng bất định, không có thì giờ tập luyện nội công, thành ra đại ca an trí tiểu đệ thế nào cũng tốt.
- Con ngựa của hiền đệ hôm qua ngã té, chúng ta không để ý đến nó, sáng nay không biết nó đã đi đâu mất rồi!
- Tiểu đệ làm gì có ngựa! Đó là con ngựa cướp của một người đi đường. Hy vọng nó biết đường tìm về nhà chủ.
Tích Nhân gọi Hồng Lô, con ngựa chạy đến, Tích Nhân bảo Hổ Hùng:
- Hiền đệ hãy dùng nó đỡ chân, ta đợi hiền đệ ở chợ Vân Quang. Ta sẽ ở khách điếm nào lớn nhất ở đấy cho hiền đệ dễ tìm.
Khu vực núi non chỗ này, buổi sáng sương mù dày đặc, cách mấy thước không thể nhìn ra cảnh vật. Hổ Hùng nghe Tích Nhân dặn thì hình dáng của Tích Nhân đã mất trong màn sương. Hổ Hùng phóng lên lưng Hồng Lô, vuốt cổ vỗ về:
- Sương mù khó thấy đường đi lắm, ngươi cẩn thận giùm ta, nhưng nếu đi nhanh để kịp gặp đại ca, thì ngươi cũng cố hết sức giùm cho.
Hổ Hùng vừa thúc chân, Hông Lô đã phóng ngay bốn vó. Trong màn sương dày đặc, Hổ Hùng không nhìn xa tới phía trước hơn ba thước, thế nhưng Hồng Lô như xé sương mà chạy làm Hổ Hùng lo sợ vô cùng, hắn nằm rạp ôm lấy cổ ngựa:
- Cẩn thận! Đừng làm ngươi bị nạn và ta bị đại ca quở trách!
Hổ Hùng ôm cổ năn nỉ, nhưng không thúc chân kiềm hãm, nên Hồng Lô cứ tung vó như bay. Khu vực này cũng đi xuyên núi, nhưng đường sá đã rộng nhiều, nên Hồng Lô không bị cản trở. Buổi trưa sương mù tan dần, Hổ Hùng có thể nhìn thấy cảnh vật chung quanh, mới thấy con Hồng Lô có sức dẻo dai và phi nhanh trên đường đèo không có ngựa nào bằng. Đã kính phục võ công nghi biểu của Tích Nhân, cưỡi con Hồng Lô, Hổ Hùng càng kính phục, lòng thầm nhủ trên đời không ai có thể có võ công như đại ca Tích Nhân của mình, thì cũng không có con ngựa nào hay như ngựa của đại ca Tích Nhân của mình cưỡi.
Ngựa chạy nhanh nhưng cũng không gặp Tích Nhân dọc đường, Hổ Hùng càng cảm thấy kính phục. Là người học võ, xuất thân từ con nhà võ, Hổ Hùng biết người có khinh công cao có thể phóng qua mái nhà, đọt cây, chạy nhanh hơn ngựa, nhưng cũng chỉ trong giây lát, một khắc, một giờ, không ai có thể có nội lực liên miên, dùng khinh công để thi sức với con ngựa trong đường trường. Thế nhưng con Hồng Lô phi như tên bắn, đã cả nửa ngày mà không bắt kịp Tích Nhân.
Xế chiều, Hồng Lô đã đi vào địa phận phố Vân Quang. Đây là khu vực buôn bán của các sắc dân thiểu số và người Kinh. Ở đây cũng rất nhiều người Tàu sang khai thác tửu điếm, khách điếm, tiệm thuốc. Đã từng ở đây, Hổ Hùng cho ngựa đến khách điếm Vân Quang, khách điếm lớn nhất của phố Vân Quang. Chủ điếm người Tàu và tiểu nhị nửa Tàu, nửa Việt. Người Tàu khai thác khách điếm, hay buôn bán ở miền cao, nói được nhiều thứ tiếng, tiếp được mọi hạng người, sắc dân, và sự tiếp đón rất nồng hậu, giữ chữ tín cho nên dù có ai ghét người Tàu, nước Tàu, cũng đều muốn dùng tiện nghi và buôn bán với họ.
Hổ Hùng dắt ngựa đến Vân Quang, thấy mình rách rưới te tua, trong túi không một đồng bạc, lòng hơi ngại ngùng chưa biết làm sao, thì hai tiểu nhị đã từ trong cửa chạy ra, một tên vồn vã:
- Phạm công tử! Ngài nhất định là Phạm công tử mà Lê công tử đang chờ đợi. Lê công tử đang chờ ngài ở khu biệt xa sau vườn hoa.
Tên tiểu nhị này vừa nắm cương ngựa, thì tên thứ hai lấy gói hành lý của Tích Nhân trên lưng ngựa xuống, vái Hổ Hùng:
- Mời công tử theo tiểu nhân.
Tên tiểu nhị mang giày cỏ, mặc áo bông, tươm tất, còn nhìn mình rách te tua, thấy hắn quá lễ phép, sinh ngượng, gắt:
- Thì cứ đi ta theo! Ta chẳng là công tử gì cả! Đừng rờm lời.
Tên tiểu nhị dạ dạ, đi trước dẫn đường, không dám nói gì thêm với Hổ Hùng nữa.
Vừa đi, Hổ Hùng vừa để ý quan sát, thấy Vân Giang khách điếm phía trước có khoảng mười lăm căn phòng, phía sau vườn rộng và xây bốn căn nhà sàn bằng gỗ riêng biệt nhau, tiểu nhị đưa mình đến một trong những căn nhà sàn này.
Tiểu nhị lên cầu thang, kính cẩn:
- Thưa Lê công tử, Phạm công tử đã đến nơi.
Tích Nhân mở cửa mỉm cười với Hổ Hùng:
- Nhị đệ!
Đã từng ở nhiều khách điếm với Thu Hà trước đây, Tích Nhân đã cho tiền tiểu nhị rất hậu hỷ nên chúng rất lễ độ và cung phụng như vậy. Đón lấy gói hành lý từ tay tiểu nhị, Tích Nhân cho một đồng bạc thủy ba, dặn:
- Chuẩn bị cơm nước, rượu thịt sớm hơn cho ta một chút.
Tiểu nhị:
- Sẽ mang đến ngay cho công tử.
Hổ Hùng vào trong thấy nhà có phòng giữa rộng rãi có thể nằm ngồi những mười người, hai bên là hai căn phòng. Tích Nhân chỉ căn phòng bên trái:
- Hiền đệ ở phòng bên đó. Ta tạm mua cho hiền đệ thuốc cao trị thương, hai bộ võ phục và đôi giày vải, đế da. Hiền để tắm rửa, dịt thuốc cao, thay áo quần..
Tích Nhân cười khà, vỗ vai Hổ Hùng:
- Đã là hiền đệ của ta, từ nay cấm không được ăn mặc rách rưới nữa.
Hổ Hùng cảm động, giọng nghèn nghẹn:
- Tiểu đệ cũng nhất định không để người hà hiếp nữa.
Tích Nhân khen ngợi:
- Có chí khí!
Hổ Hùng vào phòng lấy quần áo, xuống nhà tắm rửa, khi lên tưởng chừng một người hoàn toàn khác, và Tích Nhân cũng đang ngồi đợi trước một bàn cơm nóng năm bảy món ăn:
- Hiền đệ nhất định đã đói.
Hổ Hùng ngồi xuống ghế:
- Mấy năm rồi hôm nay tiểu đệ mới nhìn thấy được bữa cơm như thế này.
Tích Nhân rót rượu:
- Chúng ta cung cạn chung mừng ngày kết nghĩa.
Hổ Hùng nâng ly:
- Kính đại ca!
Sau khi cạn chung rượu họ cầm đũa, Tích Nhân bảo:
- Ta không gọi nhiều rượu, vì hiền đệ đang bị thương.
Hổ Hùng vừa ăn vừa cười:
- Cuộc đời nhiều việc buồn phiền cũng đã làm cho tiểu đệ thành một thứ Lưu Ly, nhưng cái bụng tiểu đệ hiện giờ đang cần cơm thịt hơn là rượu.
Trong khi ăn uống chuyện vãn, Tích Nhân nói cho Hổ Hùng biết ý định của mình, họ sẽ ở lại Vân Giang mười ngày. Trong mười ngày này Hổ Hùng sẽ phải tập trung ghi nhớ khẩu quyết Lục Dương thần công, còn ban ngày sẽ tìm chỗ để trau dồi lại Việt nữ kiếm pháp. Sau mười ngày họ chia tay, Tích Nhân xuôi Nam còn Hổ Hùng lên Vân Trung Cốc tiếp tục luyện võ với Tiên Nhi, Thừa Lân.

o0o

Thời gian thấm thoát trôi qua, hàng ngày được Tích Nhân phân tích những chỗ hay, chỗ yếu của Việt Nữ kiếm pháp, rồi cùng thực tập, bổ cứu đã làm cho cây kiếm trong tay Hổ Hùng khác trước rất nhiều. Hổ Hùng rất chuyên chú trong việc luyện tập, hết sức khắc chế bản thân, có nhiều khi cử động quá sức làm vết thương rách ra chảy máu, cũng không để ý đến đau đớn. Nhưng nhờ hàng ngày Tích Nhân bắt uống thuốc và thay thuốc đều đặn, vết thương của Hổ Hùng khi họ chia tay nhau cũng đã kín miệng, kéo da non.
Biết Vân Trung Cốc có nhiều ngựa quý, nên khi Tích Nhân đề nghị mua cho, Hổ Hùng không bằng lòng, cho rằng mình cũng không có gì gấp, đi bộ vài ba ngày tốt hơn. Sáng hôm ấy, Hổ Hùng đưa Tích Nhân đến bờ sông bịn rịn chia tay nhau. Khi Tích Nhân dắt ngựa lên thuyền dùng đường thủy để đi về Nam, thì Hổ Hùng đứng trông theo cho đến khi chiếc thuyền khuất hẳn tầm mắt, mới quay bước lên đường lên Vân Trung Cốc.
hutructiensinh
HỒI THỨ 9

Gieo Rắc Giây Tình

Hành khách đi trên thuyền với Tích Nhân chỉ có mấy người buôn bán, nhưng hàng hóa rất nhiều, họ sẽ xuống hàng ở bến Cường Nỗ, Tích Nhân và con ngựa được chủ thuyền để riêng khoang sau. Sở dĩ Tích Nhân đi đường thủy, vì theo Hổ Hùng đi thuyền xuôi dòng cũng nhanh chóng, tránh được nhiều vùng núi non hiểm trở, phải vượt nhiều con suối, phải chờ đợi đi đò qua nhiều sông lạch để đến Thăng Long.
Đến Cường Nỗ thuyền cập bến, Tích Nhân phải ở đêm hôm sau mới chuyển sang một thuyền buôn khác về Đông Đô.
Dắt ngựa đến quán trọ, sau khi lấy phòng, Tích Nhân qua một tửu quán bên cạnh để ăn tối.
Đang ngồi chiếc bàn sát cửa sổ nhâm nhi với đĩa thịt gà nướng, Tích Nhân nhìn ra ngoài bắt gặp ánh mắt một gã hành khất đang đứng nép cây cột ngoài hiên nhìn vào với đôi mắt thèm thuồng. Đã từng phải ăn mày từng bữa, Tích Nhân hiểu nỗi khổ, sự hành hạ của cái đói. Nhớ lại mấy năm trước cũng buổi tối trời đông lạnh lẽo, phải đi ngủ đói và suýt chết đói như thế nào, nên nhìn gã ăn mày, ngoắc tay gọi:
- Bằng hữu, vào đây ăn tối với ta.
Gã ăn mày nghe gọi, nhưng hình như không tin là mình, vẫn đứng yên một chỗ. Tích Nhân phải gọi lần thứ hai và lần này gã mới tin tưởng mình được gọi liền bước vào. Mới qua cửa hắn liền bị một tiểu bảo quát mắng:
- Ra ngoài ngay! Ăn mày không được vào trong này!
Tích Nhân lên tiếng can thiệp:
- Không được cản trở! Ta mời đấy! Cho ta thêm một con gà, một đĩa thịt nai và một bát mì lớn.
Được lời Tích Nhân, tiểu bảo không dám cản trở nữa, nhưng gã ăn mày hình như ngại ngùng, chẳng dám bước thêm nửa bước. Tích Nhân đứng lên bước lại:
- Bằng hữu cứ vào đây với ta.
Trong một cử chỉ để tỏ ra thân mật, Tích Nhân đưa tay ra định nắm tay đưa đi, nhưng bàn tay Tích Nhân đưa ra thì cánh tay của gã ăn mày cũng đã nhanh nhẹn giấu ra phía sau. Chỉ qua cử chỉ nhỏ này, Tích Nhân nhận ngay gã có võ công chẳng phải tầm thường. Khám phá này làm Tích Nhân từ chỗ thương hại, đến cảm thấy thích thú, cười:
- Mời bạn.
Tích Nhân đưa tay trong cử chỉ mời mọc. Gã ăn mày ngần ngừ rồi ấp úng trong miệng hai tiếng cám ơn, rón rén lại bàn.
Đợi gã ngồi xuống ghế đối diện, Tích Nhân đẩy đĩa gà nướng của mình chỉ mới ăn một đùi qua phía gã:
- Mời!
Gã ăn mày như người câm, không nói lời nào, nãy giờ chậm chạp, nhưng bây giờ thì rất nhanh nhẹn đưa hai bàn tay dơ bẩn lên xé con gà và đưa ngay lên miệng. Gã ăn mày mặc áo vá trăm miếng, rộng thùng thình, mặt mày, dơ bẩn, lọ đất dính trên mặt cả lớp, tóc ngắn xõa bù xù che mặt mũi cũng dính đầy bùn đất, nhưng khi gã xé gà và đưa miếng thịt lên miệng, đôi mắt sắc sảo của Tích Nhân thấy cổ tay ló ra khỏi cánh áo rộng lại rất trắng trẻo tròn trịa, và hàm răng hạt huyền của những cô gái có hàm răng đẹp. Vóc dáng, hàm răng, một chút da thịt lộ khỏi cánh tay áo... những khám phá này cho Tích Nhân nghĩ ngay đó là một cô gái, và vì lý do gì đó phải che mắt thiên hạ.
Tích Nhân gợi chuyện:
- Tại hạ họ Lê, tên là Tích Nhân. Còn bạn là...?
Gã ăn mày vừa ăn, vừa lầu bầu:
- Tiểu nhân tên là Tiểu Quá...
Bấy giờ tiểu bảo đang mang đồ ăn ra, Tích Nhân bảo tiểu bảo cho thêm rượu và một chén uống rượu. Trong giây phút ngắn ngủi này Tích Nhân cũng cảm nhận đôi mắt sau mái tóc lòa xòa của cô gái giả trang ăn mày đã liếc rất nhanh để quan sát mình.
Tích Nhân rót rượu đẩy qua:
- Mời dùng chút rượu cho ấm.
Cô gái trong lớp ăn mày xua tay:
- Tiểu nhân không biết uống rượu.
- Vậy để tại hạ kêu thêm bình trà...
- Ồ! Không cần thiết. Tiểu nhân đã quên uống nước sông, nước hồ. Đại nhân cho ăn miếng thịt là phước đức lớn lắm rồi.
Tích Nhân chỉ bát mì:
- Bát mì này kêu cho bạn.
Gã ăn mày không khách sáo, cầm đũa ăn ngay.
Cô gái giả trang cố ăn ngấu nghiến, nhưng cô ta dù đói cũng không ăn hết bát mì lớn nổi. Tích Nhân vừa ăn vừa gợi chuyện:
- Tại hạ về Đông Đô tạm ghé lại đây đêm nay, chẳng ai quen biết, bằng hữu nếu không có gì bận nhâm nhi nói chuyện với tại hạ cho vui.
- Tiểu nhân chưa bao giờ gặp người hảo tâm để được ăn một bữa no nê như tối nay. Bụng đã no mắt còn đói. Tuy nhiên, tiểu nhân lại có việc khó thể ở lâu.
- Nếu bằng hữu phải đi thì tại hạ đành độc ẩm.
Cô gái giả ăn mày đứng lên:
- Cảm ơn đại nhân. Tiểu nhân xin cáo từ.
Biết rõ người đối thoại là gái giả trai, có võ công khá cao, nhưng Tích Nhân cũng thấy cô ta đang đói thật sự chứ không phải giả bộ bèn lấy ra một xấp tiền giấy, không cần xem nhiều ít:
- Bằng hữu lấy khoản này, ngày mai, ngày kia có thể chi dùng.
Cô gái ngần ngừ rồi cầm lấy, lắp bắp thêm mấy tiếng cám ơn, đa tạ. Tích Nhân thấy cô gái ta ra cửa đi về hướng bến sông.
Vừa uống rượu, Tích Nhân vừa phân vân không hiểu cô gái là ai. Đã có võ công sao lại giả dạng ăn mày để mình đói khát. Tuy nhiên, nghĩ rằng mỗi người, ai cũng có một hoàn cảnh riêng, những bí mật riêng. Tò mò đến việc người khác thì không bao giờ lo cho hết.
Uống hết hai bình rượu, Tích Nhân định trả tiền để về phòng, thì có một nhóm người bước vào. Tiểu bảo đón đả chào mời đưa họ đến chiếc bàn lớn giữa nhà. Tất cả tám người. Sáu người trung niên và hai người thanh niên. Sáu người trung niên vạm vỡ to lớn, mặt mày râu ria. Cả sáu đều mặc áo ngắn, đội khăn để lộ những cánh tay gân guốc, bắp thịt nổi cuồn cuộn. Hai thanh niên cùng đi chung lại hoàn toàn tương phản với đám trung niên. Cả hai đều mày thanh mắt sáng, da trắng, môi hồng, cả hai đều để râu mép, thân thể thanh nhã. Nếu nói Tích Nhân là một thanh niên đẹp trai, thì hai thanh niên này còn đẹp hơn nhiều. Một khoảng hai mươi, một khoảng hai ba hai bốn. Sáu gã trung niên, hai tên mang đao, bốn tên mang kiếm. Còn hai thanh niên, đều mang trường kiến.
Nhìn cách nhường nhau ngồi xuống ghế, Tích Nhân hiểu người thanh niên có vẻ lớn tuổi là lãnh tụ của nhóm. Chờ gã và người thanh niên thứ hai ngồi xong, đám trung niên mới lần lượt ngồi vào chỗ. Thấy đây là nhóm người giang hồ, bọn trung niên đều là người thiểu số vùng biên giới, Tích Nhân lại kêu thêm bình rượu.
Tên đàn ông ngồi bên tả gã thanh niên lớn tuổi gọi rượu, đồ ăn. Đi đông người đáng lẽ ồn ào, nhưng chúng lại im thin thít. Bấy giờ trong quán chỉ còn vài người, hầu hết là dân thương buôn, thấy đám giang hồ vào quán tướng mạo dữ dằn, họ ăn nhanh rồi hối hả trả tiền đi ngay. Khi tửu bảo mang rượu thịt ra cho nhóm này, trong quán chỉ còn mỗi Tích Nhân còn ngồi và cảm thấy mình bị bắt đầu chú ý. Những cặp mắt sắc như dao liên tiếp liếc nhìn.
Hai thanh niên và những cao thủ người thiểu số xuất hiện đã gây cho Tích Nhân mối nghi ngờ, nhưng khi trong quán chẳng còn ai, sợ nếu ngồi dai, chúng sẽ chú ý hơn nên kêu tiểu bảo tính tiền.
Đi một đoạn, Tích Nhân liền dùng khinh công trở lại, núp sau vách tường dùng thuật thiên thính lắng nghe, nhưng ngoài việc khen chê món ăn, mời nhau uống rượu, chúng không đề cập điều gì việc đang làm.
Tích Nhân không nản chí, trực cảm cô gái giả ăn mày và toán người mới đến có thể có liên quan với nhau, kẻ trốn người tìm. Và bọn người này rất có thể liên quan đến tổ chức bí mật muốn khôi phục Đại Lý nhưng đã sục tìm bí cấp võ công Đại Việt và chiêu mộ võ sĩ người Thái, Thổ, Mèo, Nùng... vùng biên giới làm bộ hạ cho chúng như Nùng Bản Thanh và Trần Ngãi cho biết.
Tích Nhân chờ khá lâu, nhưng bọn người ăn uống trong quán cũng chẳng ai nói lời nào khả dĩ đoán ra chúng là ai và làm gì. Sự cẩn thận của chúng làm Tích Nhân càng tò mò hơn. Khi bọn chúng trả tiền ra khỏi quán, Tích Nhân âm thầm theo dõi. Khi đi đến một ngã tư, sáu người đàn ông, chia ra hai người một cặp đi ba hướng khác nhau, còn hai thanh niên thì lại thong thả về khách điếm. Cùng một khách điếm với mình, khách điếm sang nhất bến đò Cường Nỗ.
Đây là một bến đò ghe thuyền xuôi ngược, nhưng cũng không phải là thị trấn, phố chợ lớn nên hai ba khách điếm mở cửa ở đây chỉ là những dãy nhà sàn dài, chia thành năm bảy căn phòng cho thuê. Ngựa của khách được cột ngay trước cửa.
Trời lạnh, sương mù dầy đặc, nên chưa khuya lắm mọi người có lẽ đã đi ngủ cả. Khách điếm chỉ còn hai phòng ngủ có ánh đèn le lói, lại sát bên nhau. Tích Nhân đang ở căn cuối dãy, và hai thanh niên trở về đã mở cánh cửa căn phòng kế bên.
Đợi một lúc lâu, Tích Nhân mới trở về phòng, và khi đi cố ý làm bước chân mình nặng nề một chút.
Hai phòng ngăn chia bằng một tấm vách là những tấm ván gỗ ghép lại với nhau. Vào phòng, Tích Nhân không cần phải dùng thuật thiên thính, cũng nghe những tiếng động phòng kế bên. Hai thanh niên chẳng chuyện vãn gì nhiều, chỉ một vài câu mời nhau, nhường nhau thay đồ đi ngủ, nhưng chỉ vài câu nói của họ Tích Nhân nghi ngờ cả hai đều là gái giả trai. Tích Nhân cởi giày ngã người xuống giường nhắm mắt, trong lòng tính toán tìm cách dò ra nguồn gốc.
Mỗi căn phòng có hai chiếc giường, không biết thanh niên lớn tuổi hay nhỏ nằm ở chiếc giường đặt phía sát vách với mình. Nằm một lúc Tích Nhân nổi ý ngộ nghĩnh giả ngủ và ngáy thật lớn.
Sự nghịch ngợm của Tích Nhân đã làm cho một trong hai người lên tiếng:
- Coi bộ Trinh Vân tỷ tỷ đang nằm bên một con bò mộng.
Thế này thì cả hiền muội cũng không thể nhắm mắt được. Để ta làm cho hắn câm miệng lại.
- Ồ! Chúng ta giấu giếm hành tung, gây sự chẳng may lại bị chú ý!
- Hắn ngủ ngáy như bò mộng, chẳng biết nội công, ta có thể điểm huyệt hắn.
- Nhưng hắn đang ngủ làm máu huyết ngưng trệ nguy cho tính mệnh của hắn. Thôi cố chịu vậy.
- Ta bắt hắn thức dậy và đau đớn không ngủ được.
- Ừ! Có lẽ như vậy tốt hơn.
Cô gái tên Trinh Vân búng tay, chỉ kình xuyên qua vách bắn tới huyệt Kiên Ngung và Tý Nhu nơi bả vai Tích Nhân. Tích Nhân biết cô ta có ý làm mình thức giấc và đau đớn không thể ngủ nữa mà thôi, nên vận công hứng lấy chỉ lực, rồi la to lên như bị đau đớn lắm. Tích Nhân nghe hai cô gái cười khúc khích, hắn lại giả bộ vuốt ve bờ vai đau đớn, miệng giả giọng ồn ồn lầm bầm chưởi rủa, đứng lên mở cửa. Một cử chỉ như chứng tỏ muốn tìm hiểu chuyện gì xảy ra.
Tích Nhân đóng cửa vào phòng, lên giường ngồi dựa vách lầm bầm, rên rỉ: "Hừ! Phòng này chắc có ma quỷ, đồ quỷ cái nào dám chọc ông? Ông đang ngủ tự nhiên làm vai ông đau nhức thế này!"
Không bị tiếng ngáy làm khó chịu, thì liên tiếp bị Tích Nhân rên la, cô gái tên Trịnh Vân bấy giờ lại giả giọng ồm ồm lên tiếng:
- Tên kia! Ngươi không đi chỗ khác và im miệng, bản thiếu giã sẽ qua cắt lưỡi ngươi!
Tích Nhân xẵng giọng:
- Phòng của ta, ta muốn làm gì ta làm, sao ngươi lại lên tiếng? Ngươi là ai mà nói chuyện vô thiên vô pháp như vậy? Đây là nước Đại Ngu, nhà vua là con cháu trăm đời, chín chục kiếp của Đế Thuấn, năm cái gì... Khai Thái chứ có phải chỗ hồ đồ không có phép nước hay sao?
Phòng bên có tiếng cười khúc khích, nhưng cũng có tiếng bực mình:
- Đúng là gặp nhằm một tên điên. Này! Phòng ngươi có một mình, ngươi làm ơn qua giường bên kia, cách xa ra để cho chúng ta ngủ được không?
- Cái khách điếm này tồi tệ, vách che chẳng kín, đây là phòng cuối dãy, gió lùa vào từng cơn, nằm cái giường bên đó có mà lạnh cho chết hay sao chứ?
- Nhưng ngươi rên rỉ, lầm bầm mãi, ai mà ngủ được?
- Ta đã ngủ, nhưng bị ma quỷ làm cho bả vai đau như rắn độc cắn, không rên sao chịu được? Có lẽ phòng ta có ma, có quỷ. Có lẽ con ma dạ xoa, con ma quỷ cái thấy ta đẹp trai nằm ngủ rồi động tình mới đánh ta đau thế này!
Cô gái tên Trịnh Vân nghe rủa mình như vậy, không dằn được nữa, cô ta tống mạnh một chưởng. Ngọn chưởng cách vách đập mạnh lên lưng Tích Nhân, đẩy hắn bay ra khỏi giường rớt xuống đất. Cô gái sử dụng chưởng kình rất khéo, sức chưởng đẩy Tích Nhân bay xa, nhưng dù Tích Nhân là người không có nội công hộ thể đi nữa cũng không đến nỗi bị nội thương. Tích Nhân lòm còm bò lên la toáng:
- Đúng là ma quỷ! Đúng là ma quỷ!
Trịnh Vân đe dọa:
- Ngươi không im mồm, ma quỷ sẽ làm ngươi không sống được quá đêm nay.
Tích Nhân làm bộ sợ sệt, trèo lên giường, bắt đầu niệm Phật:
- Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát... Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát...
Cô gái thứ hai lên tiếng:
- Đại ca qua nằm với đệ, để gã muốn làm gì thì làm cho êm chuyện!
- Hiền đệ ngủ đi, giường không rộng, nằm hai người càng khó chịu hơn.
Tích Nhân:
- Nam Mô A Di Đà Phật... phải chi ngươi là con gái, thì ta chẳng thèm lo sợ ma quỷ gì nữa. Dù cách một tấm vách mỏng... đầu óc ta củng tưởng tượng được...
Lời chọc ghẹo quá đáng của Tích Nhân làm cô gái tên Trịnh Vân không còn chịu đựng nổi nữa, cô ta tung chưởng. Lần này không chút nương tay, Vách ván bị bàn tay cô ta đánh ra vỡ vụn. Trịnh Vân yên trí với chưởng lực của mình Tích Nhân bị thương nặng. Thế nhưng, cô liền cảm thấy chưởng kình như xuôi tuộc theo người Tích Nhân và cổ tay mình bị một bàn tay nắm lấy. Cảm thấy bị nguy, bàn tay còn lại và ngọn cước cứu mạng tức thì phóng ra. Một khoảng vách đổ ập xuống, khi bụi đất lắng xuống, người giả dạng thanh niên trẻ, bây giờ là cô gái trẻ nhìn qua thấy Tích Nhân đang nằm ngửa trên giường. Còn Trịnh Vân, trong bộ đồ ngủ mỏng manh thì nằm một bên, một tay và một chân gác lên người Tích Nhân như đôi trai gái đang nằm âu yếm.
Cô gái trẻ rất bình tĩnh, cô ta khoát áo, thắp thêm ngọn đèn, ngồi xuống giường Trịnh Vân nhìn qua Tích Nhân cười nhẹ:
- Thì ra chúng tôi đã gặp cao nhân mà không biết. Thật thất kính.
Cô gái không động võ, Tích Nhân không thể ù lỳ trong thế chọc ghẹo được, vội ngồi lên cười:
- Ồ! Thì ra hai vị đều là nữ nhân, và là những nữ nhân đẹp nhất trong đời. Tật ngủ ngáy của tại hạ làm mỹ nhân khó chịu thật đáng trách.
Cô gái trẻ bằng một động tác nhẹ nhàng, phất hai bàn tay. Trịnh Vân bị nhấc lên đưa sang giường nàng trở lại và huyệt đạo liền được giải khai. Tích Nhân thầm khen cô gái còn trẻ mà võ công đáng phục.
Trịnh Vân được giải khai huyệt đạo liền rút kiếm trên đầu giường, mắt hạnh tròn xoè, gằn từng tiếng:
- Ta không giết được ngươi, thì không sống nữa!
Cô gái trẻ la:
- Tỷ tỷ! Bình tĩnh lại!
Mặc cô gái trẻ ngăn cản, khoảng ván vỡ trước đó lại bị lưỡi kiếm của Trịnh Vân lướt qua một đường, ván bị tiện đứt đổ rầm xuống lần nữa, nàng phóng qua phòng Tích Nhân và liên tiếp tung ra những đòn trí mạng, vừa la như phát khóc:
- Hôm nay có trời cản ta cũng phanh thấy hắn làm muôn đoạn.
Thấy Trịnh Vân phẫn hận như vậy, Tích Nhân mới là thầm trong trong lòng việc đùa cợt của mình đã quá đáng, đã quên mất làm như vậy xúc phạm đến tự ái nữ nhân, họ coi như trinh tiết bị xúc phạm. Tích Nhân một mặt tránh né những đường kiếm hung hiểm, khốc liệt của Trịnh Vân, một mặt van nài:
- Xin Vân cô nương bớt giận, tại hạ chỉ nhất thời hồ đồ, chẳng biết cô là gái, hoàn toàn chẳng có ý xúc phạm đến cô.
Tích Nhân kêu, Trịnh Vân vẫn nhào tới với những đường kiếm chỉ công không thủ.
Kiếm pháp của Trịnh Vân so với một danh thủ như Trần Ngãi có hơn không kém, nội lực nàng cũng không vừa, căn phòng lại chật khó xoay trở, Tích Nhân thấy mình có lỗi không nỡ làm cô ta phẫn hận thêm, nên khi chạy tránh đến gần cửa, thì tung mình ra ngoài.
Tích Nhân chạy, tẩu vi thượng sách, Trịnh Vân quyết đuổi theo. Đến bờ sông, Tích Nhân dừng chân, lớn tiếng:
- Tại hạ có đùa cợt, nhưng cô giả giọng nói tiếng đàn ông, đâu biết cô là gái kia chứ!
Trịnh Vân hét:
- Với võ công của ngươi, ngủ ngáy, rên rỉ... đều là trò lừa gạt. Ta không giết tên dâm tặc như ngươi, thể chẳng làm người...
Kiếm ảnh lại chập chùng đổ tới. Tích Nhân lăng không tránh né. Giằng co một lát, sực nhớ trong người có mặc áo thiên ty của Ngũ Độc Giáo, Tích Nhân mạo hiểm vận công, đưa lưng đón lấy một đường kiếm của Trịnh Vân. Lưỡi kiếm nàng chém xuống, thì cổ tay nàng bị Tích Nhân nắm lấy. Nàng tung tả chưởng đánh ra, cổ tay cũng liền bị giữ chặt. Từ ngày xuống núi đến nay, Trịnh Vân là cao thủ đầu tiên mà Tích Nhân gặp phải. Hai cổ tay bị Tích Nhân nắm giữ nàng vận công lên chống cự, phóng bế huyệt đạo và bất ngờ vận khí lên miệng phóng ra một luồng tụ lực vào mặt Tích Nhân. Đòn bất ngờ của nàng làm Tích Nhân vội ngã người ra sau để tránh. Tránh được luồng khí kình từ miệng Trịnh Vân phóng ra, Tích Nhân la lên:
- Cô nương bớt giận giùm tại hạ đi nào! Chúng ta có ân oán gì để phải sống chết với nhau kia chứ?
Hai cổ tay Trịnh Vân bị Tích Nhân nắm chặt, nàng dùng hết sức cũng không thoát được, nghe Tích Nhân la, nàng lại hét:
- Ngươi thả tay ta ra!
Tích Nhân:
- Nếu cô không làm dữ, thì tại hạ khống chế cô làm gì?
Và xuống giọng năn nỉ:
- Xin cô nương bớt giận!
Hai người đứng sát nhau, dù dưới ánh trăng mờ nhạt, vân vụ mờ mờ, cặp mắt của Tích Nhân cũng bất chợt nhận ra Trịnh Vân chỉ mặc một chiếc áo choàng mỏng, đường nét phô bày lồ lộ vội hoảng hốt thả hai tay nàng phóng ra xa. Và một tích tắc ấy, Trịnh Vân cũng trực giác vì sao địch thủ vội vàng như vậy, nàng rùng mình, hai cánh tay tự động ôm lấy vai và cũng phóng ra xa như bị ma đuổi.
Cả hai đều không biết phải nói gì, làm gì trong một lúc, Tích Nhân xoay lưng về phía Trịnh Vân thở dài:
- Tại hạ tự biết có chút xúc phạm xin cô nương tha lỗi.
Trịnh Vân hướng xuống dòng sông, cảm thấy một cảm giác kỳ lạ, nửa còn giận, nửa như luyến tiếc điều gì nên đứng im. Tích Nhân bước lại gần:
- Cô nương..
Trịnh Vân cúi đầu chưa biết nên nói gì, nàng bỗng rùng mình hoảng hốt:
- Ôi! chết rồi! Gớm quá...
Tích Nhân nghe nàng tỏ ra sợ hãi, phóng tới:
- Cô nương!
Trịnh Vân cũng vụt ra sau chụp lấy Tích Nhân như người quen biết:
- Ôi! Chân ta... hai bàn chân ta...
Trịnh Vân đang đi ngủm, bị chọc ghẹo rồi đi đến sống chết với Tích Nhân nên không mang giày dép gì cả. Chỗ nàng đang đứng, lại trên một ổ kiếm và bấy giờ nó đã bu đen. Tích Nhân nghe kêu, nhìn xuống xem, vội cắp nàng bay ra một hòn đá lớn trên sông, đặt nàng ngồi xuống vốc nước rửa. Kiến và bùn đất rửa sạch, hai bàn chân và cổ chân Trịnh Vân có vài vết sưng đỏ vì kiến cắn, còn thì mịn màng, trắng ngà như ngọc. Đôi chân không khác gì đôi chân Kỳ Anh, làm cho Tích Nhân chợt bâng khuâng.
Trong lúc Tích Nhân cúi xuống vốc nước rửa chân cho nàng, Trịnh Vân ôm vai Tích Nhân trong một cảm giác kỳ diệu, muốn bàn tay hắn mãi mãi mân mê trên da thịt mình. Còn Tích Nhân trong khi nhìn đôi chân nhớ đến Kỳ Anh, thì ngẩn ngơ xuất thần. Trịnh Vân như hết sức lực:
- Ngươi...ngươi...
Trong thời gian đưa Kỳ Anh đi thưởng lãm rừng suối chung quanh thạch động, có lúc Tích Nhân cũng rửa chân cho nàng, và khi Kỳ Anh cảm nhận cảm giác đê mê, cũng kêu lên những tiếng ngươi... ngươi...như đôi môi Trịnh Vân. Tích Nhân ngồi thẳng lưng lên, một cánh tay choàng qua, Trịnh Vân từ lồng ngực chàng ngã xuống. Tích Nhân nhìn xuống đôi mắt lim dim, đôi môi hé mở... mái tóc mây xổ dài càng thấy nàng giống Kỳ Anh khôn tả. Tích Nhân như cái máy cúi xuống nàng.
Tích Nhân đê mê trong cảm giác gặp lại Kỳ Anh, âu yếm với người trong mộng và được nàng hưởng ứng. Tích Nhân mê sảng trong những tiếng tỷ tỷ, đại tỷ đầy ắp yêu thương, thì Trịnh Vân cũng quằn quại trong tiếng rên rỉ "ngươi... ngươi...".
Là một thanh niên đã từng gần gũi đàn bà, những nụ hôn say đắm đã thúc đẩy bàn tay của Tích Nhân đi xa hơn, nhưng bỗng có tiếng gọi:
- Tỷ tỷ! Tỷ tỷ đang ở đâu?
Tiếng gọi làm Trịnh Vân rùng mình, bàn tay giữ chặt bàn tay Tích Nhân lại, ngồi lên hoảng hốt:
- Chúng ta đang làm gì?
Tích Nhân chẳng biết phải trả lời như thế nào, nhìn sững nàng. Trịnh Vân cũng quắc mắc nhìn Tích Nhân. Nàng đứng lên dậm chân mấy cái ra chiều bực tức phân vân, rồi phóng đi.
Biết tấm vách giữa hai căn phòng đã không còn là tấm vách nguyên lành nữa. Tích Nhân thấy mình về phòng sẽ phải đối diện với hai cô gái nên ngập ngừng. Phượng Hoàng lệnh bài, Hùng Hoàng châu, tiền bạc luôn luôn mang theo trong người, gói hành lý trong phòng chỉ mấy bộ đồ chẳng cần phải quan tâm, nên Tích Nhân ngồi trên đá hành công.
Lúc bến đò đèn đuốc thắp sáng, đánh thức màn đêm với những tiếng réo gọi nhau, Tích Nhân xả công về phòng để chuẩn bị ra đi. Mở cửa bước vào, trong ánh sáng ngọn đèn mỡ heo hắt, Tích Nhân thấy khoảng vách vỡ được lấy chiếu che lại, gói hành lý của mình vẫn còn nguyên chõ cũ, nhưng phòng bên cạnh hình như không còn ai ở nữa, không một hơi thở nhẹ nhàng được nghe thấy. Tự tin ở thính lực của mình, nhưng Tích Nhân cũng vạch tấm chiếu nhìn qua quan sát, và đúng là hai cô gái đã ra đi từ lúc nào.
Tích Nhân xuống phòng dắt ngựa tới chỗ chưởng quỹ. Mới thấy mặt, ông ta đã lắp bắp:
- Đêm hôm quan nhân và hai vị khách kia đã làm cho mọi người sợ hãi... Ồ! tấm vách của tôi...
Tích Nhân lấy một đỉnh bạc nhỏ:
- Ông cho người sửa lại! Đủ không?
Chưởng quỹ vui vẻ:
- Cảm ơn quan nhân nhiều lắm! Hai vị khách kia âm thầm bỏ đi làm lão phu tưởng mình đang bị xui xẻo chẳng biết hỏi ai đòi bồi thường. Đa tạ quan nhân! Đa tạ...
Dắt ngựa đến bến đò, Tích Nhân vừa đi vừa bâng khuâng. Cô gái tên Trịnh Vân là ai? Cô ta giống Kỳ Anh hay không? Tại sao mình có cảm tưởng như rất giống? Những gì bất ngờ xảy ra giữa mình và cô ta có phải là một cái duyên kỳ lạ? Tại sao mình định làm quen, tìm hiểu, theo dõi nhóm người của nàng, nhưng tốn công đóng tuồng cả đêm rồi bỏ dở, chẳng dám tiếp tục gặp mặt và bây giờ có muốn tìm cũng chẳng biết phải làm sao?
Con thuyền về Đông Đô rất to lớn, con Hồng Lô và Tích Nhân được sắp xếp ở phía sau. Ngựa đứng dưới khoang còn chủ thì ngồi trên sập phía trước người cầm lái. Mờ sáng, thuyền nhổ neo, khách trên thuyền rất đông, ngồi chen chúc với rổ, rá, thùng, hộp... Hầu hết đều là người đi buôn bán, và nói chuyện rất ồn ào. Thuyền xuôi nước, thuận buồm đi rất nhanh. Đến trưa, Tích Nhân thấy lòng sông trở nên rộng hẳn ra, người trong thuyền lại bày cơm nước ra ăn uống, và hết người này đến người khác tìm chỗ dựa lưng cho một giấc ngủ trưa.
Tích Nhân đang bâng khuâng suy nghĩ đến việc đã xảy ra trong đêm, bâng khuâng nhớ đến hình bóng Kỳ Anh, thì một cụ già lọm khọm, râu quai nón bạc trắng để dài che kín miệng mồm, mang một túi vải từ khoang thuyền phía trước trèo qua chỗ Hồng Lô, bước lại làm quen:
- Công tử có thể cho lão ngồi ở đây cho rộng rãi, thoải mái một chút?
- Xin lão trượng cứ tự nhiên. Ông lão ngồi xuống:
- Chắc công tử là người Đông Đô?
- Không, vãn bối chỉ ở Đông Đô một thời gian.
Ông lão thở dài:
- Tôi cũng từng ở Đông Đô nay mới có dịp trở về. Nghe nói Đông Đô lúc này thay đổi rất nhiều!
- Vãn bối cũng nghe như thế.
Ông lão thở dài:
- Không hiểu công tử có phải là con nhà quan hay không? Nói ra cũng sợ công tử trách phạt, nhưng Đông Đô đất bằng rộng rãi, núi chầu, sông phục, dân cư trù phú. Từ khi Lý thái tổ mở nền dựng nước là kinh đô Đại Việt đã mấy trăm năm. Nhà Lý, nhà Trần đều ở ngôi lâu dài, công nghiệp hiển hách chứng tỏ là đất đến vương. Đáng tiếc, hôm nay không còn là kinh đô nữa!
Tích Nhân không ngờ ông lão lọm khọm, có vẻ nghèo khó lại nghị luận cao xa, tỏ lời kính trọng:
- Lão trượng chắc là người cửa Khổng sân Trình, vì thời thế mà nhuộm phong trần?
Ông lão cười:
- Lão làm gì có phước như thế? Lão biết này nọ chút đỉnh cũng giống như gần mực thì đen, gần đèn thì sáng đó mà! Lão chỉ là một người nô bộc, từng nghe chủ nhân nghị luận nên nhắc đến Đông Đô thì buột miệng nói ra những gì mà mình từng nghe được.
- Chủ nhân lão lão trượng hẳn là một bậc danh học?
- Vâng, ông là một người văn võ song toàn. Đáng tiếc vì thời thế mà chẳng thế làm nên công nghiệp, lưu danh với đời. Chỉ chấp nhận làm chủ nhân một quán ăn mà sống.
Tích Nhân cau mày, rồi kêu lên:
- Phải chăng chủ nhân lão trượng là Phạm tiên sinh. Chủ nhân quán Tư Bụng?
Ông lão tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Công tử biết chủ nhân?
- Ông ta từng cứu mạng cho tại hạ.
Ông lão có vẻ tự hào:
- Chủ nhân Nho, y, lý, bốc đều hơn người. Có lẽ ông ta từng trị bệnh cho công tử.
Tích Nhân nhớ lại dĩ vãng, chắc lưỡi:
- Mấy năm trước nhờ Phạm tiên sinh mà tại hạ thoát chết.
Ông lão hơi cau mày:
- Sao lão không biết gì vậy? Lạ thiệt!
- Lão trượng xa kinh đô mấy năm rồi?
- Ồ! có lẽ cũng... bốn năm năm.
Ông lão kể lể:
- Lão là nô bộc duy nhất trong nhà. Phạm Tiên sinh làm gì, hàng ngày đều kể cho Phạm tiểu thư nghe, lão dâng trà cho hai người nên cũng nghe biết hết. Một hai năm.. trước khi chủ nhân cho lão về ở với con trai, lão đâu nghe chủ nhân từng đi trị bệnh cho ai?
Tích Nhân bùi ngùi:
- Có lẽ khi cứu tại hạ, tiên sinh chỉ bốc thuốc một lần, không phải đi đâu cả nên lão trượng không biết.
Ông lão bỗng vỗ đùi:
- Nhớ ra rồi... nghe người làm ở quán Tư Bụng nói chủ nhân từng cứu một đứa bé ăn xin bị chết cóng. Nhưng công tử đâu có thể là chú bé ấy được?
Tích Nhân rất thành thật:
- Đó chính tại hạ đấy ạ!
Ông lão ngồi xích lại gần hơn, nhìn vào mặt:
- Công tử không đùa với lão đấy chứ? Làm gì một người có tướng mạo phong tư như công tử lại từng là một cậu bé ăn xin, chết cóng kia chứ!
- Trăng có lúc tròn lúc khuyết, con người trong thời thế hỗn loạn, lúc đang no đủ, bỗng tai bay họa gởi phải lang thang đầu đường xó chợ cũng là chuyện thường tình.
Ông lão hỏi gặng:
- Công tử thật sự là chú bé ấy?
- Chính là tại hạ.
Ông lão lấy tay ra dấu cho Tích Nhân nhỏ tiếng, xích gần thêm, có vẻ quan trọng:
- Hôm ấy.. bà Năm bị giết, quan lệnh truy nã công tử và cô Đoàn Nhã Lan, cháu bà Năm. Nếu chủ nhân không có chút tên tuổi thì cũng gặp nhiều khó khăn. Công tử trốn thoát được lưới tầm nã... kể cũng quá may mắn. Chủ nhân từng nói công tử sức khỏe bạc nhược, không thể là thủ phạm giết người được. Nhưng vụ đó là thế nào, công tử có biết gì nhiều không?
Ông lão ngồi gần sát Tích Nhân, xuống giọng rất nhỏ, và khi Tích Nhân vừa có chút nghi ngờ từ hơi thở của ông lão, thì bàn tay của ông ta cũng đã điểm nhanh lên các huyệt Cân Súc, Chí Dương... sau lưng mình.
Tích Nhân vì không đề phòng, tích tắc toàn thân bị tê cứng. Tích Nhân đã bị điểm huyệt, nhưng ông lão cũng nắm cứng mạch môn của chàng. Bàn tay còn lại đưa lên điểm huyệt câm rồi mò vào túi Tích Nhân, lấy nhanh những gì muốn lấy. Hai người ngồi sát nhau, người lái thuyền lại không phải là người có võ công nên hoàn toàn không biết Tích Nhân bị lão già khống chế.
Ông lão quơ ít tiền bạc trong túi Tích Nhân bỏ nhanh vào người mình, rồi lớn tiếng kêu:
- Chủ thuyền, công tử bảo tới dải đất bên tả phía đằng trước, cập thuyền lại cho công tử lên bờ. Công tử mới nhớ cần ghé thăm một người quen trước khi tới Đông đô. Công tử sẽ cho ông ít quan tiền vì việc cập bờ bất ngờ này.
Chủ thuyền khó xử:
- Công tử đã có lệnh chúng tôi đâu dám trái. Nhưng công tử có con ngựa chỉ e...
Ông lão khoa tay:
- Con ngựa này thuần thục lắm. Các ngươi chỉ kèm thuyền lại, bắc một tấm ván là nó nhảy lên bờ ngay.
Ông ta rút một xấp giấy bạc, xoè ra, giơ cao:
- Mười hai đồng con rồng... Mười đồng cho chủ thuyền và thuyền phu. Còn lại hai đồng đền bù cho khách thương bị mất chút ít thì giờ.
Mười hài tờ giấy con rồng có mãnh lực rất lớn. Chủ thuyền liền lớn tiếng hô hào cập thuyền vào bờ. Dải đất nhô ra bờ sông phía trước không còn bao xa, người hạ buồm, kẻ cầm sào chuẩn bị. Con thuyền từ từ đâm vào dải đất, và khi mấy tay sào gì thuyền lại, một thuyền phu bắc mảnh ván lên bờ đất, ông lão đập nhẹ lên mông hồng mã:
- Nhảy lên đi nào?
Cái vỗ tay rất nhẹ, nhưng Tích Nhân biết con hồng mã đã bị lão đánh rất đau, nó hí lên một tiếng lớn, chụm bốn vó phóng nhanh lên bờ. Sau khi Hồng Lô lên bờ, ông lão ngọt ngào:
- Mời công tử!
Ông ta nói mời, nhưng đúng hơn là dứt tiếng nắm tay Tích Nhân phóng lên bờ, rồi quay lại đưa tiền cho chủ thuyền:
- Công tử cảm tạ công khó của quý vị.
Chủ thuyền nắm xấp bạc cảm tạ rối rít, rồi khoát tay cho người làm đẩy thuyền ra sông trở lại.
Đợi thuyền đi xa, ông lão đá Tích Nhân ngã nhào xuống cỏ, búng tay giải khai huyệt câm:
- Tiểu quỷ! Ta mất mấy năm lặn lội để tìm cho ra nhà ngươi. Quyển bí kíp phải chăng ngươi ăn trộm?
Tích Nhân không trả lời thẳng, mà thở dài:
- Đoàn tỷ tỷ cải trang quá giỏi. Đêm rồi tại hạ không bị lừa, nhưng hôm nay thì hoàn toàn không thấy được sơ hở. Tại sao tỷ tỷ nghi tại hạ lấy quyển bí kíp?
- Hừ! Ai là tỷ tỷ của ngươi? Mục đích của bọn chúng là tìm Vân Long kiếm. Lẽ nào chúng lấy bí kíp mà để Vân Long kiếm lại?
- Thì ra tỷ tỷ... à, cô nương đã có thể trở lại để lấy Vân Long kiếm. Chúc mừng cho cô nương.
- Không cần ngươi chúc mừng. Hãy trả lời câu hỏi của ta.
- Vâng, chính tại hạ đã lấy cuốn bí kíp. Trong khi nằm trên giường cô nương, tại hạ vô tình phát hiện bí mật trên thành giường. Đêm đó khi đi một lúc trở lại thấy xảy ra án mạng, đồ đạc trong nhà bị xốc lung tung, nghĩ ngay kẻ gian tìm bí kíp và Vân Long kiếm. Tại hạ vào phòng cô nương xem thử, thấy kiếm và bí kíp vẫn còn. Lúc bấy giờ tại hạ không biết võ công, thân thể suy nhược, nghĩ có lấy cây kiếm mang theo sẽ khó giữ được, nên chỉ lấy bí kíp.
- Bí kíp hiện giấu ở đâu?
- Trong đầu tại hạ.
- Nghĩa là sao?
- Sau khi chạy qua bên kia sông. Tại hạ lại nghĩ mang theo bí kíp mà mình cũng không biết võ công, lỡ bị phát hiện thì cũng khó giữ, nên đã học thuộc lòng rồi đốt bỏ.
Đoàn Nhã Lan, trong diện mạo lão già ốm yếu kêu lên:
- Ngươi... thật sự đốt nó?
- Vâng! Tại hạ không giấu nửa lời.
Đoàn Nhã Lan trong tức giận và thất vọng:
- Ngươi đã làm một việc điên rồ ngươi biết không?
Tích Nhân:
- Tại hạ có thể đọc lại cho cô nương chép lại không sót chữ nào của quyển bí kíp.
Đoàn Nhã Lan tung chân đá Tích Nhân. Cú đá làm Tích Nhân bay xa mấy thước, nàng hét:
- Ta không cần ngươi chép lại những gì trong sách, nhưng quyển bí kíp còn chứa đựng một tâm pháp bí mật, một võ công thượng thặng của Đại Lý là Nhất Dương chỉ mà cha ta cả đời chưa thể tìm ra là viết ở đâu, giấu chỗ nào trong sách? Ngươi có hiểu không? Ngươi thật đáng phanh thây!
Tích Nhân nghe Nhã Lan tiết lộ bị mật, tỏ vẻ hối hận:
- Tại hạ thấy thím Năm có ơn với mình và cô nương là tiểu thơ của bà ta nên mới nhạnh tay, không muốn kẻ gian đắc chí, không ngờ làm cô nương thiệt hại như vậy. Tại hạ thành thật xin lỗi.
- Hừ! Ngươi thật đáng giết, nhưng giết ngươi...
Tích Nhân bỗng tung mình đứng lên:
- Cô nương có giết tại hạ cũng chẳng được gì! Tha được nên tha để lưu lại phúc đức cho đời sau chẳng tốt hơn ư?
Thấy Tích Nhân tư nhiên khai thông huyệt đạo, Đoàn Nhã Lan trố mắt:
- Ngươi?
- Bị cô nương điểm huyệt hôm nay, về sau tại hạ sẽ rút thêm kinh nghiệm trong lúc đi đứng trên giang hồ.
- Xem ra võ công của ngươi cũng không tệ.
- Xem ra cô nương đã luyện hết tầng thứ tám Càn Long công và đã trở thành một cao thủ hữu hạng. Cô nương cũng thuộc nằm lòng Càn Long công và Vân Long kiếm pháp. Tại hạ xem ra không cần phải tốn công để viết lại cho cô nương.
- Nhưng ngươi phải tìm cho ta tâm pháp luyện Nhất Dương chỉ cho ta. Nếu không ta không thể tha ngươi.
- Tại hạ khuyên cô nương không nên luyện Càn Long công nữa và cũng không nên để trong lòng việc tập luyện Nhất Dương chỉ làm chi.
- Tại sao?
- Cả hai đều là công phu chí dương, mà cô nương là nữ nhân. Cô nương tập luyện sẽ không thành công đã đành mà còn biến cô nương thành một người bán nam, bán nữ. Hiện cô nương còn trẻ, và mới luyện được tám thành công lực triệu chứng này chưa có dấu hiệu, nhưng vài năm nữa sẽ phát triển rất nhanh.
- Ngươi có thể biết như vậy?
- Ai luyện tập nội công tâm pháp đều hiểu như vậy. Tại hạ tin rằng lão bá bá cũng đã từng nói với cô nương như vậy. Biết đâu người còn căn dặn cô nương không nên tập luyện bí kíp.
Nhã Lan chợt ngồi xuống đất, ôm đầu khóc:
- Nhưng gia gia ta chết thật thảm thiết. Ta không thể không trả thù cho người.
Tích Nhân ngồi xuống cạnh nàng, thở dài:
- Tại hạ cũng mang trong người mối huyết hải thâm cừu. Tại hạ rất thông cảm nỗi khổ của Đoàn tỷ tỷ. Miễn sao tỷ tỷ trở thành cao thủ là có thể trả thù, không cần phải theo một đường lối võ công không thích hợp với mình.
Nhã Lan khổ sở:
- Ta có thể luyện tập thứ võ công gì? Càn Long công là vật duy nhất của nhà ta!
- Tại hạ là cháu ngoại của Đằng Tiên lão nhân. Thái Ất thần công âm dương kiêm bị. Tại hạ có thể truyền lại cho tỷ tỷ.
Đoàn Nhã Lan, ngẩng đầu, quẹt nước mắt:
- Sao ngươi lại quan tâm đến ta?
Nhìn mặt Nhã Lan, nước mắt làm long lớp hóa dung loang lổ trên mặt, Tích Nhân không dằn tiếng cười:
- Tỷ tỷ đang trở thành một lão già kỳ dị nhất trên đời.
Nhã Lan rút tấm gương đồng nhỏ trong túi ra xem, rồi chạy ra bờ sông. Tích Nhân đứng lên:
- Trong lúc tỷ tỷ cải dung, tại hạ đi tìm Hồng Lô, rồi trở về ngay.
Nghe hắn nói, Nhã Lan tức giận:
- Ngươi định bỏ đi?
- Nếu tại hạ bỏ đi thì chỉ là thứ con rùa.
Nhã Lan định đuổi theo, nhưng nhìn Tích Nhân lướt trên cỏ phi như chớp, thấy nếu đuổi theo cũng không cách gì bắt kịp, đành đứng trong theo. Khi Tích Nhân mất hút trong bìa rừng, nàng mới ra bờ sông, và sau đó tìm vào một lùm cây thay đổi y phục.
Nhã Lan đứng nhìn về bìa rừng, và đang tự trách tại sao lại tin lời Tích Nhân sẽ trở lại, thì thấy Hồng Lô xuất hiện. Không hiểu sao, khi thấy Tích Nhân quay lại nàng lại quay lưng, đứng nhìn xuống dòng sông.
Tích Nhân đến nơi xuống ngựa:
- Đoàn tỷ tỷ! Chúng ta ở đây làm gì. Hay là vừa đi, vừa tìm một chỗ chợ búa nào đó để trú ngụ qua đêm.
- Tùy ý ngươi. Nhưng ta đang có rất nhiều kẻ thù theo dõi, tìm kiếm. Ngươi cần hiểu như vậy.
- Nếu tại hạ lo sợ thì đã không mong tỷ tỷ đi cùng.
Tích Nhân nói thêm:
- Không hiểu Đoàn tỷ tỷ định đi đâu, còn tại hạ thì phải về Đông Đô. Nếu cùng đường... chúng ta nên đi chung, giữa rừng có thể ngủ bờ, ngủ bụi, gặp thị trấn thì mới ở khách điếm.
Nhã Lan nhìn dòng sông:
- Ta hiện cũng không biết mình nên đi đâu? Dù ngươi thay đổi rất nhiều, nhưng đêm hôm qua tự nhiên ta nhớ mang máng khuôn mặt của ngươi quen quen, muốn tìm hiểu là ai và cũng thấy cần phải trốn tránh sự truy lùng nên cải trang xuống thuyền mà thôi. Ta đến Đông Đô thật không biết phải làm gi nữa.
- Nếu chẳng có ý định nào, tỷ tỷ về Đông Đô thắp cho thím Năm một nén hương. Tại hạ cũng rất muốn được khấu đầu cảm ơn sự săn sóc của thím năm xưa. Hơn nưa, vì vô tình đốt cuốn bí kíp.. trên đường đi tại hạ mong sẽ tìm ra phương cách gì đó đền bù thiệt hại lại cho tỷ tỷ.
- Nếu vậy, thì ta.. theo ngươi.
Nhã Lan xoay lại, trong bộ y phục bạc màu, nghèo nàn, Tích Nhân phải ngẩn ngơ trước nhan sắc của nàng. Nhã Lan bây giờ không còn là cô gái nước da sạm nắng năm xưa, nhưng là cô gái môi hồng má trắng. Có lẽ thiếu ăn nên hơi ốm, và điều đó lại làm nổi bật cặp mắt to đen, sóng mũi dọc dừa và đường nét tha thướt của nàng.
Tích Nhân buột miệng:
- Nếu không qua câu chuyện, biết tỷ tỷ là Lan tỷ, thì tiểu đệ không thể nào nhận ra được.
- Ngươi thấy ta tiều tụy lắm phải không?
- Chẳng phải, mà tiểu đệ không ngờ tỷ tỷ... đẹp đến như vậy. Tỷ tỷ hoàn toàn khác hình ảnh năm xưa..
Nhã Lan xách túi bước đi:
- Ngươi gặp ta chỉ một lần, trong giây lát làm sao nhớ được?
Tích Nhân dắt ngựa theo sau:
- Tiểu đệ vẫn nhớ cô gái thắt bím năm xưa, nước da sạm nắng chứ chẳng phải như bây giờ. Nhưng tiểu đệ vẫn có thể nhớ đôi mắt của tỷ tỷ..
- Chỉ gặp một lần sao ngươi nhớ kỷ như vậy?
- Có lẽ huyết án đã ăn sâu vào lòng, và những người chung quanh trong thời gian đó cũng tự nhiên có ấn tượng sau sắc. Tỷ như tỷ tỷ, gặp tiều đệ trong giây lát, lúc bấy giờ là cậu bé ốm đói, nhưng đêm qua tỷ tỷ cũng nhớ ra những nét quen quen nào đó sau khi ăn cơm với tiểu đệ như tỷ tỷ đã nói.
- Ừ nhỉ! Ngươi phân tích thật hữu lý.
Nàng lại hỏi:
- Mấy năm nay ngươi ở đâu? Phải chăng võ công của ngươi do Đằng Tiên lão nhân gia đích thân truyền dạy?
Họ băng cỏ lau dọc theo bờ sông mà đi. Vừa đi, Tích Nhân vừa kể lại chuyện mình cho Nhã Lan nghe. Đến một bờ đá cao khó dắt ngựa qua được, và thấy trời về chiều, dòng sông vắng ngắt không còn chiếc thuyền nào qua lại Tích Nhân đề nghị:
- Hay đêm nay chúng ta tạm ở đây, Lan tỷ nghĩ sao?
- Ngươi muốn sao cũng được. Ta hiện chẳng có chủ ý gì.
Tích Nhân dừng chân, tháo yên lạc cho Hồng Lô và vỗ vai nó:
- Ngươi đi kiếm cỏ cho ngươi. Còn ta cũng phải kiếm vài con cá hay chồn thỏ gì lót bụng qua đêm.
- Lan tỷ thích dùng thịt hay cá?
Tích Nhân lên tiếng hỏi. Nhã Lan đang ngồi trên mỏm đá, nhìn dòng nước, thuận miệng đáp:
- Có lẽ chúng ta bắt vài con cá là tiện nhất.
- Nếu vậy tiểu đệ không đến nỗi phải mất nhiều công phu. Nhưng để tiểu đệ đi kiếm một ít củi khô trước đã.
Tích Nhân chạy vào bìa rừng tìm củi. Khi quay trở lại bờ sông, không thấy Nhã Lan đâu, ném đống củi xuống đất, gọi:
- Lan tỷ!
Tiếng Nhã Lan từ phía bên kia bờ đá:
- Ta đang bắt cá. Ngươi nhúm lửa rồi ta đem cá qua. Đừng qua đây làm gì.
Tích Nhân vận công đốt một nhánh cây khô châm vào đống củi, giây lát lửa cháy bùng nhưng Nhã Lan vẫn chưa đem cá về. Tích Nhân phóng qua gành đá, và vội vàng phóng ngay trở lại. Hắn vô tình đã thấy Nhã Lan đang lội dưới dòng sông với cây gậy trên tay để bắt cá, nhưng sợ ướt áo quần nên trên người chi còn chiếc yếm thắm. Không hiểu nàng đã bắt được con nào không. Quay trở lại, Tích Nhân đi dọc theo bờ sông và mỗi khi bàn tay cong lại như vuốt chim ưng phóng ra, thì hình như lăng không bốc lên ngay một con cá dãy đành đạch. Tích Nhân bắt bốn con cá, trở về xiên ngang bụng hơ lên lửa nướng, thì Nhã Lan mới trở về. Nàng cũng đem về bốn con. Bốn con cá của nàng đã được chặt đầu, làm ruột sạch sẽ, cặp trên hai nhánh cây. Thấy Tích Nhân nướng cá, nàng kêu lên:
- Ngươi tìm cá ở đâu mà nhanh vậy?
Tích Nhân chỉ ra sông:
- Chỗ nào lại không có cá?
- Nhưng nước sâu quá làm sao bắt được?
- Muốn tiểu đệ chỉ cách bắt cá hay không?
- Ồ! Thế nào cũng phải thụ giáo ngươi.
Nhã Lan vừa nói vừa ngồi xuống, lấy trong túi vải của mình một ống tre lớn bỏ ra ngoài, rồi lấy một ống nhỏ, rắc tiêu muối hành lên cá. Sau đó, bươi từ trong đống lửa một ít than hồng ra ngoài mới gác cá của mình lên nướng:
- Biết ngươi bắt cá tài tình như vậy, ta đã không cần phải tốn công. Cá ngươi nướng đã chín... nhưng nếu ngươi chưa đói lắm, thì chờ xem, cá ngươi nướng và ta nướng mùi vị khác nhau không?
- Ồ nhất định là khác.
Tích Nhân bỗng buồn buồn:
- Cá của tỷ tỷ nhất định thơm ngon, nhưng liên tiếp mấy năm tiểu đệ hoàn toàn chỉ sống với cá nướng không gia vị, nên ăn vẫn thấy ngon như thường.
- Ồ! Nếu vậy thì ta không dám mời nữa.
Nhưng chờ giây lát. Nhã Lan lấy ống tre to ném vào lửa, giọng cũng nên u hoài:
- Ta thường hay bị đói khát, nên đêm qua khi có tiền của ngươi cho, sáng nay ta đã mua một ít vật dụng, ngoài tiêu muối còn có xôi và gạo. Ta hơ nóng ống xôi. Ngươi ra tiền, ta có công, chúng ta chia nhau mỗi người một nửa.
Chưa hiểu rõ Đoàn Nhã Lan, nhưng mường tượng hoàn cảnh lúc còn thơ của nàng không khác gì mình. Nàng hiện sống kiếp không nhà, tránh né khắp nơi, Tích Nhân bỗng động lòng luân tất:
- Này Lan tỷ, chúng ta có thể kết nghĩa tỷ đệ hay không?
- Sao ngươi lại có ý này?
- Tiểu đệ chưa biết nhiều về Lan tỷ, nhưng với quyển bí kíp và Vân Long kiếm mang theo trong người từ nhỏ, Lan Tỷ vốn xuất thân từ gia đình võ học danh gia rồi bị tai nạn, hoàn cảnh không khác gì tiểu đệ. Tiểu đệ không biết đích thực kẻ thù hãm hại toàn gia là ai, nhưng từ ngày đó bôn ba trốn tránh khắp nơi. Nhất là sau khi mẫu thân mất, đã nhiều ngày đói khát, nếu hôm ấy không gặp được Phạm tiên sinh đưa đến nhà thím Năm cứu cấp thì giờ này đã là nắm xương chết đói. Nhờ ơn trời đất, tiểu đệ luyện thành Thái Ất thần công, được Đại tỷ Phượng Hoàng Tiên Tử chỉ điểm thêm võ công, nhưng nếu kẻ thù của tiểu đệ là triều đại nhà Hồ, thì võ công của mình cũng chưa hẳn sẽ làm gì được họ. Biết đâu cũng sẽ bị truy lùng khắp nơi... không khác gì tỷ tỷ bây giờ.
- Đồng cảnh tương lân cũng đúng. Ta chỉ sợ ta sẽ trở thành gánh nặng cho ngươi.
- Nhưng tỷ tỷ có sợ trở thành chị em với tiểu đệ, tiểu đệ sẽ đem khó khăn nào đó cho tỷ tỷ hay không?
Nhã Lan cười:
- Dù sao có túi vàng bạc trong mình ngươi ta cũng... khỏi lo bị đói khát.
Khuôn mặt, mái tóc quấn tròn trên đầu và hàm răng hạt huyền của nàng lộ qua nụ cười làm cho Tích Nhân chợt ngẩn ngơ, vì thấy nàng giống mấu thân mình khôn cùng. Ánh mắt của Tích Nhân làm Nhã Lan cúi đầu:
- Ngươi!
Tích Nhân thở dài:
- Xin lỗi Lan tỷ! Khi nàng cười, tiểu đệ bất chợt thấy giống mẫu thân của mình khôn cùng.
- Thật vậy sao?
- Tiểu đệ xin thề không hề nói dối nửa lời.
- Ta khó tin ngươi được, nhưng ta cũng thấy vui khi nghe ngươi nói như vậy vì ta cũng từng nghe Đằng Tiên nữ hiệp chẳng những võ công xuất chúng mà cũng còn là một tuyệt thế mỹ nhân trên giang hồ.
Nàng kêu lên:
- Cá ngươi cháy cả rồi!
Tích Nhân nhìn thấy mấy con cá đen thui, cười:
- Có lẽ số tiểu đệ được ăn cá ướp của tỷ tỷ.
Nhã Lan vội vàng kéo ống tre xôi ra ngoài:
- Suýt nữa ta cũng quên mất ống xôi. Ngươi xẻ ra giùm ta được không?
Tích Nhân rút lưỡi ngũ độc thần trủy giấu trong ống giày ra, đi rửa sơ rồi cầm ống tre nóng bổ một đường làm hai nhẹ như xắt dưa từ đầu chí cuối, nhìn xuống cười:
- Ống xôi còn may mắn hơn xâu cá tiểu đệ.
Nhã Lan gắt:
- Ngươi còn cười nữa!
Nàng gắt nhưng không dám ngẩng đầu lên.
Nhã Lan không ngẩng đầu, nhưng Tích Nhân lại chợt bâng khuâng vì vẻ ngượng ngập của nàng với khuôn mặt trắng hồng qua ánh lửa. Để tránh né, Tích Nhân lại gành đá, dùng trủy thủ tiện ngang một hòn đá to làm bàn, đem hai hòn đá nhỏ hơn cũng tiện bằng làm hai ghế ngồi, rồi gọi:
- Cá nướng sống một chút thì thịt ngọt hơn. Lan tỷ có nghe vậy không?
Nhã Lan cầm gắp cá đứng lên:
- Thưa đại nhân, tiểu nữ từng nấu ăn ở quán Tư Bụng nổi tiếng ở Thăng Long.
Tích Nhân thấy Nhã Lan pha trò cũng trở nên vui vẻ:
- Vậy thì bàn ghế đã chuẩn bị, mời đầu bếp bày cá nướng thượng hạng ra cho.
Nhã Lan bẻ vài cành sậy đến đặt lên mặt đá rồi mới đặt cá xuống, mỉm cười:
- Mời đại nhân dùng thử.
- Cá, xôi đều của chủ nhân. Chủ nhân chưa đụng tay đến thì kẻ hèn này đâu dám vô lễ.
- Nếu vậy, tiện nữ xin được hầu quan nhân.
Nhã Lan lấy lưỡi dao nhỏ cắt một khúc cá. Khi nàng cắt cá, Tích Nhân cũng bốc một nắm xôi. Lúc nàng cặp khúc cá đưa cho, Tích Nhân đón lấy khúc cá, thì cũng trao cục xôi cho nàng:
- Xin mời.
Nhã Lan đón lấy cục xôi cười:
- Vui nhỉ!
Tích Nhân cũng ngã ra cười:
- Chúng ta... tiểu đệ tưởng chúng ta đang như thuở chơi trò chơi làm bánh, làm nhà... lúc năm bảy tuổi.
Sau khi cười, Nhã Lan chợt rơi nước mắt:
- Tuổi trẻ của ta!
Tích Nhân ngưng cười, tỏ vẻ ân hận:
- Tiểu đệ..
Nhã Lan vội lau nước mắt:
- Nhân đệ ăn đi... xin lỗi ta chỉ nhất thời xúc động.
- Đã nhận tiểu đệ là nghĩa đệ thì tỷ tỷ dùng trước mới phải lễ cho.
Nhã Lan tròn mắt:
- Ta nhận hồi nào?
- Tỷ tỷ đã chẳng mới nói: '' Nhân đệ ăn đi..." là gì?
Nhã Lan bĩu môi:
- Như vậy... là đã nhận hay sao?
Tích Nhân nghiêm trang:
- Chúng ta đều là hai đứa trẻ côi cút từ thuở nhỏ, sao lại không kết nghĩa với nhau, chiếu cố lẫn nhau. Mong Lan tỷ chấp nhận tiểu đệ.
Nhã Lan cúi đầu:
- Ta chỉ sợ...trở thành gánh nặng cho Nhân đệ.
Tích Nhân đứng lên:
- Tỷ tỷ chỉ sơn... thì chúng ta cùng bái lạy trời đất kết nghĩa với nhau đi.
Tích Nhân quỳ xuống đất, Nhã Lan cũng đứng dậy lại quỳ bên cạnh. Tích Nhân thấy nàng đã quỳ, cất tiếng:
- Hôm nay ngày tháng... trên có trời, dưới có đất chứng minh, Lê Tích Nhân tôi nhận Đoàn Nhã Lan tỷ tỷ làm nghĩa tỷ. Từ đây có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia, nếu có lời nào gian dối xin quỷ thần trừng phạt.
Nhã Lan sụt sùi trong cảm động:
- Nhã Lan từ giờ phút này xin nhận Lê Tích Nhân làm nghĩa đệ, người thân yêu duy nhất của mình, phúc họa cùng chia, ngọt bùi cùng xẻ nếu dối trá nửa lời, xin đất trời trừng phạt.
Sau khi thề thốt, cả hai cùng bái thiên địa và bái nhau làm chị em. Nhã Lan cầm tay Tích Nhân, nghẹn ngào:
- Nhân đệ! Hiền đệ là người thân duy nhất của ta. Từ ngày nhũ mẫu bị kẻ thù giết đến nay, mấy năm nay ta không một người quen thân nào để có thể tâm sự. Ta đã sống những ngày tháng của tận cùng nỗi cô đơn.
Như ấm ức lâu ngày bùng dậy, nàng khóc thành tiếng, ngã lên vai Tích Nhân:
- Nhiều lúc... ta nghĩ để kẻ thù giết đi, hay nhảy xuống sông kết liễu cuộc đời, nhiều lúc ta muốn cướp của giết người... nhưng nghĩ đến cha mẹ bị chết thảm thương... lời dạy dỗ nghiêm khắc của cha mẹ... Ta mới cố gắng sống như con chó đói, như con thú hoang đến ngày nay.
Tích Nhân ôm vai nàng vỗ về:
- Tiểu đệ biết nỗi khổ cực của mình, hiểu rõ tỷ tỷ. Từ này tỷ tỷ có tiểu đệ để tâm sự, không ai có thể hà hiếp chúng ta nữa. Từ nay chúng ta sống chết có nhau...
Nhã Lan thút thít:
- Ta chỉ sợ...
- Nhất ngôn kim thạch, chúng ta đã thề thốt, tỷ tỷ còn cứ mãi.. "chỉ sợ" cái gì nữa?
Nhất thời xúc động, Nhã Lan ngã lên người Tích Nhân khóc. Cánh tay Tích Nhân ôm trên vai và lời an ủi làm cho Nhã Lan cảm nhận một cảm giác che chở tuyệt vời, mong được vuốt ve an ủi nữa, nàng cả thẹn, đẩy Tích Nhân ra:
- Chúng ta ăn đi, mọi thứ nguội cả rồi.
Tích Nhân lấy chiếc khăn đưa cho nàng:
- Tỷ tỷ lau nước mắt đi đã!
Nhã Lan dung tay áo gạt nước mắt:
- Ai khóc mà có nước mắt?
Tích Nhân cả cười:
- Vân Long nữ hiệp làm gì lại rơi nước mắt kia chứ!
Nhã Lan:
- Cái gì Vân Long nữ hiệp?
- Tiểu đệ tạm thời đặt cho tỷ tỷ một biệt hiệu. Với thanh Vân Long kiếm chém sắt như chém bùn, bảy mươi hai đường Vân Long kiếm pháp, tiểu đệ nghĩ sau này giang hồ sẽ gọi tỷ tỷ là Vân Long nữ hiệp!
- Xí! Ta mà được gọi nữ hiệp, thì thế gian này ai cũng là nữ hiệp cả!
- Tỷ tỷ cần phải tự tin mình sẽ trở thành một nữ hiệp. Võ công của tỷ tỷ hiện giờ cũng đã khó có đối thủ.
Nhã Lan chợt buồn trở lại:
- Ta cũng chỉ nhờ nó mà thoát chết, trốn thoát sự truy lùng của kẻ thù mà thôi.
- Kẻ thù của tỷ tỷ là ai?
- Là người cùng dòng họ của ta.
- Tổ chức họ Đoàn ở Vân Nam?
- Đúng là bọn họ.
- Tỷ tỷ có thể cho biết rõ hơn.
- Nhân đệ đã kể về mình cho ta nghe, thì ta cũng phải kể cho Nhân đệ nghe biết về ta.
- Câu chuyện của tỷ tỷ hẳn cũng khá dài. Chúng ta ăn trước đã.
Họ ngồi xuống ghế đá, vừa ăn, Nhã Lan vừa kể:
"Cao tổ của ta vốn là tam hoàng tử nước Đại Lý. Khi triều đình đầu hàng quân Mông, ngài không đồng ý quyết định của phụ hoàng, nên bỏ trốn sang Đại Việt. Ngài là người văn học nhưng khi bỏ trốn thì Phương trượng chùa Thiên Long lại trao Vân Long kiếm và Càn Long bí kíp yêu cầu mang theo để giữ di bảo của Đại Lý. Đến Đại Việt ngài gặp vua Trần xin được phép dung thân. Dù nhà Trần muốn phong quan chức cho, ngài nhất quyết từ chối và xin được làm một người dân thường. Mười năm sau, ngài lấy vợ, con gái một vị quan ngự sử trong triều, nhỏ hơn ngài mười lăm tuổi. Họ gặp nhau vì cao tổ có y thuật cao minh nên đã được mời chữa bệnh cho cao tổ mẫu. Cả hai rất tâm đầu ý hợp, nhưng họ hiếm muộn. Đến năm ngài gần sáu mươi, cao tổ mẫu mới nhất quyết nạp hầu thiếp cho ngài và chỉ năm sau sinh một trai.
Tằng tổ lớn lên văn hay, võ giỏi nhưng cũng không có chí làm quan, mà thích đi ngao du sơn thủy. Khi Cao tổ mất và mãn tang, cao tổ mẫu buộc tằng tổ phải lấy vợ. Lúc bấy giờ vua Chiêm là Chế Chí bị nhà Trần bắt đem về nước và đau bệnh liên miên. Tằng tổ được mời đến trị liệu. Vua Chiêm được nhà Trần phong là Thuận Vương nên nước Chiêm cũng đã đưa những phi tử của người sang hầu hạ, và tằng tổ ta lại si mê nhan sắc của một trong nhưng phi tử này. Khi Thuận Vương mất được phép hỏa táng, nhưng phi tử không phải theo tục lệ thiêu sống theo nhà vua như ở nước Chiêm. Sau đó một thời gian, tằng tổ đã có thể kết hôn với người phi tử này. Tằng tổ và tằng tổ mẫu là một cặp vợ chồng hạnh phúc, nhưng kỳ lạ là họ cũng hiếm muộn, tằng tổ mẫu lại giống như cao tổ mẫu nạp hầu thiếp cho tằng tổ, và liên tiếp nạp bốn người hầu thiếp, người thứ tư mới có con. Nhưng là con gái nên phải nạp thêm một người hầu thiếp thứ năm, người này mới sinh ra nội tổ ta..."
- Nội tổ cũng hiếm muộn nửa? Tích Nhân xen lời.
- Không! Năm nội tổ lên mười hai, tằng tổ mất, và ba năm sau tằng tổ mẫu buộc ông phải lấy vợ. Người chính thất một năm chưa có con, thì tằng tổ mẫu liền cưới thêm thiếp cho nội tổ và sau đó hai bà đều sinh nở. Ngoài những người bị bệnh và mất khi còn bé, nội tổ có tới chín người con. Bốn trai năm gái. Ông không học võ và do đó, các vị bá bá của ta không ai biết Càn Long công và Vân Long kiếm là gì. Mọi người đều học làm thuốc và đều ở quây quần trong Đoàn gia trang. Không học võ đã đưa đến thảm cảnh cho Đoàn gia. Khi quân Chiêm vào kinh thành, Đoàn gia đã bị chúng cướp phá và ba bị bá bá và các cô cô của ta bị bắt đưa về Chiêm. Thuyền chúng ra cửa bể Đại An bị gió bão đánh đắm, nên họ đều chết. Gia gia ta lúc bấy giờ là một thanh niên mười tám tuổi, nhờ phải đi chữa bệnh ở xa mà thoát khỏi tai nạn. Biến cố này đã làm cho nội tổ buồn phiền, mấy tháng sau người mất và trước khi mất mới cho gia gia ta biết trong nhà có bí kíp võ công, nhưng vì nội tổ thấy tập luyện khó khăn, tốn nhiều thì giờ, chi phối việc trau dồi y học, hơn nữa người cho rằng say mê võ nghệ sẽ đưa đến tinh thần hiếu thắng, trước sau cũng sẽ nhúng tay vào máu nên không cho con cháu biết. Nay vì trải qua tai nạn như vậy, nên người lưu lại cho gia gia tuỳ nghi xử dụng.
Đúng như nội tổ đã nói, gia gia khi tập luyện bí kíp đã say mê, không còn tha thiết việc kinh doanh, lần lần đóng cửa các tiệm thuốc, không hành nghề y, cắt giảm người ăn kẻ ở trong nhà xuống con số tối thiểu. Một hôm gia gia có người bạn thân vì vợ sau khi sanh bị bệnh nặng, nhiều thầy thuốc bó tay mới đến cầu xin, vì chỗ thân thiết nên gia gia mới đi xem bệnh. Trên đường về gần đến gia trang, gia gia thấy quân lính và cao thủ hộ vệ Hồ Quý Ly đang sục loát khắp nơi, họ chận cả kiệu của gia gia khám xét, cho biết có người âm mưu ám sát quan nguyên nhung Hải tây đô thống chế Lê Quý Ly
hutructiensinh
và nghịch phạm đã chạy trốn về phía Nam thành có tường xây bao quanh, bên trong nhà cửa liên tiếp, gia gia nghĩ quan binh cũng không bỏ qua, nên mở rộng cổng mời họ vào. Đoàn gia hành y mấy đời ở kinh thành nên ai cũng biết, vì vậy họ lục soát qua loa ít nơi rồi rút lui. Tối ấy, khi gia gia ra ngoài vườn luyện kiếm, chợt nghe tiếng rên rỉ và phát hiện bên bụi trúc cạnh hồ sen, một người bị thương nặng, vội vàng đem vào nhà cứu trị. Nạn nhân là một thiếu nữ khoảng mười tám, mười chín, đang bị độc thương trầm trọng nếu không được gia gia phát hiện, sáng hôm sau sẽ trở thành một xác chết. Thiếu nữ trong lúc trốn lánh sự truy lùng đã lặn xuống hồ sen nên áo quần ướt sũng và điều này sẽ trở ngại trong việc trị liệu, gia gia cũng không tiện gọi nô tỳ trong nhà sợ tiết lộ bí mật, nên phải tùng quyền.
Nhã Lan cười nhẹ:
- Sau này gia gia ta nói đêm đó người nhắm mắt mò mẫm và tay chân run rẩy như không còn chút sức lực.
Tích Nhân cũng cười, gật đầu:
- Đúng là đáng sợ thật. Sợ không gì bằng!
Nhã Lan cong môi:
- Cái gì mà sợ?
Trong tiếng cười, Tích Nhân:
- Tỷ tỷ không biết đâu. Sau này thế nào tỷ cũng biết việc đó đáng sợ lắm!
Nhã Lan tròn mắt:
- Ngươi đã biết?
- Ồ! Không biết gì đâu.. Tỷ tỷ kể tiếp cho tiểu đệ nghe việc bá bá sau đó thế nào đi.
Nhã Lan dọn lá và thức ăn còn lại ném xuống sông:
- Ta không kể gì nữa, nếu ngươi không.. thành thật với ta.
- Ồ! Tiểu đệ chỉ đùa. Tỷ tỷ lại giận sao? Xin đừng giận mà!
Nhã Lan cười:
- Ta biết ngươi không đùa.. nhưng ta kể tiếp kẻo ngươi cho rằng ta hay giận.
Nhã Lan lại buồn buồn tiếp tục câu chuyện:
"Mẫu thân ta là một cô gái rất đẹp, nên sau khi cứu tỉnh mẫu thân ta thì bà cũng đã chiếm cả con tim mới biết rung động của ông. Ông hết lòng lo lắng, săn sóc cho bà, quanh quẩn bên giường không rời. Gia gia ta là một thanh niên tuấn tú, bặt thiệp và mẫu thân ta trong thời gian dần dần bình phục cũng đã xúc động trước mối tình của ông. Mẫu thân là con gái của đại tướng Nguyễn Kim Ngao chỉ huy đội quân Thần Vũ. Trước từng có bất hòa với Lê Quý Ly, nên trong trận Ngu Giang, khi đối đầu với sức giặc quá mạnh, ngoại tổ ta cho quân tạm rút lui tránh mũi giặc, liền bị Quý Ly bắt chém đầu đem rao trong quân ngũ. Sau khi Quý Ly thắng trận trở về, thì trong một đêm nọ, gia đình ngoại tổ ta cũng bị những người bí mật đến tấn công tru diệt. Họ không ngờ mẫu thân ta là con gái, nhưng hiếu võ, từng được một cao nhân chỉ điểm kiếm thuật, và số a hoàn của người đều biết võ công nên chúng đã không thể ngăn chận được mẫu thân ta tẩu thoát. Sau khi điều tra tình hình trận Ngu Giang, xác định Quý Ly dĩ công vi tư để tiêu diệt người không cùng vây cánh, và biết bọn bịt mặt cũng là vệ sĩ của Quý Ly nên mẫu thân tìm cách báo thù. Không may, hôm ấy khi đột nhập vào phủ Quý Ly, chưa tìm được lão, thì bọn chó trong phủ đánh hơi phát hiện hành tung của mẫu thân, người bị vây đánh và phải mở đường máu để tẩu thoát, không may trúng phải Hổ tu độc trâm, một loại phi tiêu cực độc.."
Tích Nhân thở dài:
- Mẫu thân của tiểu đệ cũng bị thương nặng và phải mất mạng cũng vì loại trâm này.
- Khi hiểu hoàn cảnh của mẫu thân, gia gia đề nghị họ cùng luyện tập võ công để có thêm khả năng rồi sau đó mới tầm thù. Một năm sau, họ kết hôn, nhưng hôn lễ chỉ làm âm thầm trong nhà và ta sinh ra một năm sau đó. Khi ta sinh ra, mẫu thân vì quá thương ta lại không muốn sớm tìm Quý Ly trả thù nữa. Tuy nhiên, luyện Càn Long công và Vân Long kiếm, gia gia và má má ta không bao giờ xao lãng. Nhiều hôm, ta được nhũ nương, tức là người mà ngươi đã gặp và gọi là thím Năm, bồng ra vườn xem hai người đấu kiếm với nhau. Sự sống bình an của gia đình chúng ta không còn nữa, khi ta lên sáu tuổi. Hôm ấy một nhóm người đã đột nhập Đoàn gia trang và buộc gia gia ta phải giao Càn Long bí kíp và Vân Long kiếm cho họ. Họ thuyết phục gia gia ta phải cùng họ khôi phục lại cơ nghiệp họ Đoàn. Nếu không đồng ý họ không nhân nhượng. Dĩ nhiên gia gia ta không bằng lòng, và cũng nói rằng không biết mình có phải là con cháu Đoàn hoàng gia hay không. Và nếu có đúng như vậy đi nữa, thì việc khôi phục một quốc gia đã mất hàng trăm năm không phải là việc dễ dàng, chỉ gây thêm thảm cảnh, nhất kiếm công thành vạn cốt khô. Như ta đã nói, mấy đời nhà họ Đoàn ở Thăng Long chỉ lo hành nghề ý, không ai phô trương võ nghệ, nên bọn người này cũng không ngờ trước, chỉ tưởng gia gia ta là tay trói gà không chặt, dọa nạt sẽ ngoan ngoãn nghe theo. Chúng không ngờ khi chúng làm dữ, gia gia và má má ta đều ra tay, chúng không không thể nào đối địch được.
Tuy nhiên, khi đánh đuổi được bọn chúng, thì gia gia và má má ta biết nếu tiếp tục ở Đoàn gia trang, thế nào họ Đoàn ở Vân Nam cũng sẽ phái cao thủ tìm đến. Họ quyết định đem theo vài người nô bộc và nô tỳ đi ẩn cư nơi khác. Gia gia ta trước có mua một trang trại ở chân núi Lãm Sơn, cảnh bờ sông Thiên Đức. Ở đấy có sẵn mấy gian nhà gỗ, có nuôi trâu bò và chúng ta dời về đấy. Đây là một nơi rất đẹp, dù còn nhỏ ta cũng rất thích, quanh năm thông trắc xanh um.
Tích Nhân:
- Tục đa biến thái vân thương cẩu, tùng bất tri niên tăng bạch đầu. Hai câu thơ này do một nhà thơ đã đến Lãm Sơn rồi tức cảnh viết ra. Tiểu đệ chưa được đến đó, nhưng chắc chắn rằng rất đẹp.
Nhã Lan lại thở dại:
- Dời đến chỗ ở mới ta rất thích, thì cũng rất thích được mẫu thân hàng ngày dạy ta võ nghệ và khinh công. Nhiều hôm mẫu thân và ta chạy lên núi nhìn xuống sông và đồng cỏ không muốn về. Khi thấy quá trưa gia gia cùng nhũ nương mang cơm nước lên cho chúng ta và cùng ăn. Sau đó, khi gia gia và má luyện kiếm với nhau, ta tập kiếm với nhũ nương.
- Thím Năm cũng biết võ?
- Nhũ nương là người nô tỳ tin cẩn nhất của mẫu thân. Bà tập võ nghệ với mẫu thân từ nhỏ.
- Ồ! Tiểu đệ thấy khi ấy...
- Nhũ nương đã hoàn toàn bị phế võ công. Nhờ Phạm tiên sinh cứu được mạng sống, nhưng võ công hoàn toàn mất.
- Thì ra vậy!
- Chúng ta sống vô cùng vui vẻ và hạnh phúc được bốn năm, thì bọn chúng tìm đến, người của chúng lần này có tới tám tên và võ công rất cao. Đây là trận chiến khốc liệt, nhờ Vân Long kiếm sắc bén, võ công của gia gia, má má ta cũng đã khác trước, nên cả tám tên đều bị giết. Tuy nhiên, má má, bốn người nô bộc lo việc chăn nuôi và bốn nô tỳ cùng bị chúng hại, còn gia gia và nhũ nương bị thương rất nặng.
Nhã Lan chợt sa lệ:
- Mẫu thân bị giết, gia gia ta một phần thấy thương thế qua nặng, một phần không muốn sống nữa. Ông ôm ta khóc, rồi giao cho nhũ nương: "Ngươi bị nội thương cũng khá nặng, nhưng có thể chữa trị được. Hãy đem ngay Lan nhi đến kinh đô tìm Phạm Thừa Du, chủ nhân quán Tư Bụng ở cửa Đông thành nhờ ông ta chữa trị cho. Ông ta không hành nghề y, nhưng y học cao minh, là bạn vong niên của ta, nói tên ta gởi người tới, nhất định ông ta sẽ chữa cho ngươi. Từ nay, hãy nghĩ tình Liên Hoa và ta mà săn sóc cho Nhã Lan."
- Lúc bấy giờ ta chưa hiểu biết nhiều, chỉ khóc. Khóc vì mẫu thân và bao nhiêu người thân bị giết. Gia gia bảo nhũ nương vào nhà mang ra một chiếc hộp nhỏ, trong đó có vàng bạc và quyển bí kíp. Ông ta trao Vân Long kiếm cho nhũ nương, dặn dò: "Tiền bạc còn lại có thể tạm sống một thời gian năm bảy năm. Tìm nơi giấu quyển bí kíp và Vân Long kiếm, đừng đem nó theo bên người mà mang họa. Sau này cho Lan nhi học ít chữ nghĩa, thêu thùa, may vá, đừng cho nó học võ, đừng nghĩ chuyện báo thù, và nhất là đừng để nó luyện công trong bí kíp. Loại võ công này không thích hợp với đàn bà. Liên Hoa vì học công phu này với ta mà sinh lý trong những ngày gần đây đã đổi khác... Thôi ngươi hãy cố mà mang Lan nhi đi cho mau giùm ta. Nếu kẻ thù trở lại sẽ không còn kịp nữa."
Gia gia ta vừa hối thúc vừa tỏ ra giận dữ trước sự nài nỉ cùng đi trốn tránh của nhũ nương. Cuối cùng bà ta mang theo kiếm và bồng ta chạy nhanh theo bờ sông Thiên Đức. Chúng ta đi xa vài dặm, nơi chúng ta ở ngọn lửa bốc cao. Gia gia đã bồng mẫu thân, đưa những người chết vào nhà rồi châm lửa hỏa thiêu.
Tích Nhân thở dài:
- Cuộc đời của tỷ tỷ cũng lắm đau thương không khác gì tiểu đệ.
- Nhũ nương đã dùng Vân Long kiếm khoét nền đá một căn miếu cổ, giấu kiếm, bí kíp, và vàng bạc rồi đưa ta đi tìm Phạm tiên sinh.
- Tiểu đệ đoán Phạm tiên sinh đã chữa trị cho thím Năm, nhưng gia gia tỷ tỷ là người quen của Phạm tiên sinh, chẳng lẽ ông ta không đề nghị đến nhà mình tạm trú và giúp đỡ cho thím Năm và tỷ tỷ?
- Khi gặp Phạm tiên sinh, nhũ nương chỉ nói tên gia gia ta, nói gia gia ta vì có việc cần kíp nên giới thiệu đến ông, nhờ ông ta chữa trị giùm cho mà thôi. Nhũ nương không nói ta là con của gia gia ta.
- Sao thím Năm.. Ồ! sao nhũ nương lại làm vậy?
- Bà ta tính chúng ta phải trả thù. Sợ tạm trú ở nhà ông, sẽ bị nhiều người dòm ngó, sinh hoạt bất tiện.
- Thì ra vậy!
- Sau khi trị lành thương thế biết mình không thể tập luyện võ nghệ được nữa, một phần nhũ nương cho rằng ở không càng làm mọi người chú ý, một phần cho rằng sống chung với đám nhân công sẽ làm cho kẻ thù khó có thể tìm ra tung tích. Nhũ nương nhanh chóng tập luyện làm một người quê mùa, và dùng thuật dịch dung để che thêm mắt thiên hạ.
- Thuật dịch dung của nhũ nương thật đã đến độ cao minh! Sao nhũ nương có thể biết thuật này?
- Đó là nhờ lúc còn trẻ, một hôm mẫu thân và nhũ nương cải trang đi du ngoạn đã tình cờ gặp một quái nhân đang bị thương nặng, đem vào một ngôi cổ miếu tìm cách chữa trị, nhưng ông ta không thể sống. Trước khi chết, ông ta cho biết mình là Bách Biến thần thâu nổi danh trên giang hồ và tặng cho mẫu thân một quyển bí kíp. Sau này gia gia nhất định cấm không cho nghiên cứu thuật thần thâu, nhưng nhũ nương đã nghiên cứu rất tường tận thuật dịch dung. Ta và nhũ nương đều có nước da trắng, nhưng khi bắt đầu làm ở quán Tư Bụng chúng ta đều hóa trang thanh ngăm đen để che mắt mọi người.
- Có số tiền của bá bá để lại sao lại phải làm công nhân quán Tư Bụng?
- Sau khi chữa được thương thế, nhũ nương mướn nhà trong thành, trở lại nơi cất giấu vàng bạc, định lấy về làm vốn buôn bán, chẳng may trở về đến cổng thành bị khám xét và bị bọn quan binh tịch thu. Có lẽ chúng muốn chia nhau số vàng bạc nên thay vì đưa nhũ nương đi giam để tra hỏi, chúng đe dọa và đuổi bà đi. Sợ lộ thân phận, nhũ nương đành chịu mất của.
- Nhũ nương và tỷ tỷ che giấu thân phận rất kỹ, chỉ là hai người công nhân quán Tư Bụng, sao kẻ thù lại có thể tìm ra?
Nhã Lan thở dài:
- Có lẽ tại sau này ta và nhũ nương hàng năm, đến ngày gia gia và mẫu thân thọ nạn đều tìm cách trở lại trang viện cũ để cúng tế. Chuyến đi cuối cùng của ta, ta đã ở lại nhiều ngày và tập Vân Long kiếm pháp.
- Có lẽ chúng không thấy tỷ tỷ mang theo Vân Long kiếm nên theo dõi đến nhà.
Nhã Lan sa nước mắt:
- Sự sơ ý của ta đã làm hại nhũ nương. Ta về nhà bị bà ta mắng còn cãi lại nữa!
Tích Nhân ngầm ngùi:
- Hôm ấy nghe hai người to tiếng, tiểu đệ cho rằng vì sự hiện diện của mình gây ra nên bỏ đi. Không ngờ sau khi trở về lại nhìn thấy thảm cảnh... Mới thấy thân xác nhũ nương còn vội cho tỷ tỷ quá tàn nhẫn.
- Hôm ấy chúng tới chỉ có ba tên, và nhũ nương đã liều chết ngăn cản một trong ba đứa, ta mới có thể thoát.
- Mấy năm nay tỷ tỷ làm gì?
Nhã Lan cúi đầu:
- Tìm ngươi và tìm kẻ thù.
- Tỷ tỷ đã gặp chúng?
- Ta đã giết nhiều tên và cũng phải liên tiếp thay hình đổi dạng để trốn tránh. Mấy tháng nay tình hình của ta rất nguy hiểm. Chúng phái hàng mấy chục tên đi truy lùng. Ta hết chạy Đông, chạy Tây, thì đang định chạy lên Bắc, chạy thẳng sang Vân Nam. Ở Cường Nỗ ta gặp ngươi, thì cũng phát hiện một toán cao thủ, trong đó có hai đứa con gái vô cùng lợi hại. Cao hơn con đàn chủ ta từng gặp qua một lần và suýt chết trong tay nó.
Tích Nhân nhẹ nắm tay nàng:
- Từ nay tỷ tỷ không phải trốn tránh bọn chúng nữa. Nhưng tỷ tỷ cũng phải bắt đầu môn công phu của tiểu đệ. Tỷ tỷ cũng đã biết Càn Long công không hợp với tỷ tỷ, thì không nên luyện nữa.
Nhã Lan gật đầu:
- Ta nghe lời Nhân đệ.
- Trời còn sớm, chúng ta bắt đầu.
Tích Nhân bảo Nhã Lan chú ý và truyền khẩu quyết cho nàng. Sau đó họ chú tâm vào việc luyện công.
hutructiensinh
HỒI THỨ MƯỜI

Tái Ngộ Người Xưa

Sáng hôm sau, dắt ngựa qua khỏi gành đá, Tích Nhân nhường ngựa cho Nhã Lan, nàng lại cho biết mình chưa bao giờ cỡi ngựa. Tích Nhân bèn dạy và nàng đã nhanh chóng điều khiển được Hồng Lô, nhưng nàng nhất quyết không chịu để Tích Nhân đi bộ. Nhường qua nhường lại mãi, Tích Nhân đề nghị họ cùng cưỡi chung để đi cho nhanh, và giúp nàng thành thục hơn. Nhã Lan tỏ ra ngại ngùng, nhưng thấy cứ dắt Hồng Lô đi mãi giữa nơi hoang dã cũng bất tiện nên cuối cùng đồng ý. Yên ngựa được tháo xuống, hai người ngồi chung trên một chiếc khăn, mới đầu có thể ngồi cách xa nhau, nhưng chỉ một lúc sau, lưng Nhã Lan phải tựa lên người Tích Nhân, và khi đến một chỗ trống trải, Hồng Lô vụt chạy nhanh, Nhã Lan tỏ ra hoảng hốt, Tích Nhân đành phải ôm lấy để nàng khỏi ngã. Cánh tay rùng mình như bị điện giật, thả dây rơi giây cương. Tích Nhân nhanh nhẹn chụp lấy và cũng nhận ra khuôn mặt hây hây kiều diễm của Nhã Lan lên vai mình, còn hai bàn tay nàng lại cùng nắm chặt cánh tay đang ôm lấy vòng eo thon thỏ của nàng, như nửa muốn đẩy ra, nửa muốn giữ lại.
Đã sớm gần gũi nữ nhân rồi mấy năm sống một mình ở nơi hoang lạnh, khi gần gũi Kỳ Anh dù yêu mê nàng ngây ngất, nhưng nàng lại là người sắp chết, và đối với nàng Tích Nhân cũng hết mực kính trọng nên những thôi thúc của bản chất trời sinh bị đè nén, khi ôm Nhã Lan bất ngờ lại bị đánh thức. Tích Nhân nghe cả người nóng lên và những gì tự hứa, tự nguyện khi Kỳ Anh mới mất đã hoàn toàn quên hết, chỉ còn biết thân hình êm ái của Nhã Lan đang ở trong lòng mình, khuôn mặt kiều diễm của nàng đang chờ đợi. Tích Nhân buông dây cương, hai cánh tay ôm chần lấy nàng. Nhã Lan kêu lên: "Nhân đệ... Nhân đệ.." tiếng kêu như chống cự, như cảnh tỉnh, nhưng cung như thúc giục. Đôi môi nóng cháy của Tích Nhân cúi xuống má, xuống cổ, Nhã Lan tưởng chừng ngộp thở, nàng xoay người lại, và Tích Nhân vươn tay bồng nàng lên, phóng xuống ngựa. Trong đám cỏ êm ái, hai bàn tay Tích Nhân như con thú hoang sục tìm, bức phá, và Nhã Lan khi vừa có ý định chống cự thì cảm giác mới lạ lại làm nàng háo hức, buông xuôi. Tuy nhiên, khi Tích Nhân dừng tay để sẵn sàng cho mình, Nhã Lan kịp cảnh tỉnh, nàng cắn mạnh lên vai hắn và đẩy ra khỏi người mình.
Nhã Lan ngồi lên quơ vội áo quần che người, hổn hển:
- Ngươi... ngươi...
Tích Nhân cảm thấy hối hận nhưng chưa biết phải nói gì, thì Nhã Lan nghèn nghẹn:
- Ta có thể còn là thuần tuý tỷ tỷ của ngươi? Chúng ta...
Tích Nhân tự tát má mình:
- Tiểu đệ có chút hồ đồ, thật có lỗi với tỷ tỷ. Không hiểu sao khi tỷ tỷ ngã vào lòng tiểu đệ, dục tính tiểu đệ bùng lên như nước vỡ bờ. Có lẽ trời định chúng ta sẽ là một cặp vợ chồng, không phải là đôi tỷ đệ.
- Chúng ta mới gặp nhau, ngươi đâu đã yêu ta?
- Có lẽ cả hai chúng ta đều mới có cảm tình, nhưng việc đã thế này, chúng ta phải yêu nhau. Tiểu đệ sẽ hết lòng thương yêu tỷ tỷ.
- Ta có thể tin ngươi?
- Từ nay chúng ta lúc nào cũng bên nhau, không xa nhau nửa bước.
Nhã Lan sụt sùi:
- Ta có thể tin ngươi? Chỉ sợ ngươi sẽ khinh rẻ ta nữa!
- Tiểu đệ biết rõ lỗi mình càng thương quí tỷ tỷ hơn. Khi đến Công Mẫu sơn gặp ngoại tổ, chúng ta sẽ làm lễ thành hôn. Khi chưa thành hôn, tiểu đệ không bao giờ dám mạo phạm nữa. Nếu không giữ lời tỷ tỷ cứ giết tiểu đệ.
- Ta lo ngoại tổ lại chê ta. Hơn nữa ta đã thề trước mộ nhũ nương không bao giờ lấy chồng nếu chưa trả được thù.
- Ai lại có thể chê một người xinh đẹp và võ công cao cường như tỷ tỷ? Chỉ với lời thề của tỷ tỷ thì không biết phải làm sao?
- Ta thật sự xinh đẹp?
- Dĩ nhiên xinh đẹp không ai bằng. Tiểu đệ mới gặp đã mê mệt.
- Biết đâu ngươi chỉ là tên dâm tặc! Gặp đàn bà con gái thì...
Tích Nhân cười:
- Có thể tiểu đệ đúng là tên dâm tặc. Cũng có thể là vì...
Nhã Lan:
- Vì việc gì?
- Có thể ai đó từng ở bên một người đẹp gỗ đá cũng phải nổi tính mây mưa là hoàn toàn đúng mà tiểu đệ lại không phải là gỗ đá.
- Hừ! Ngươi lại bắt đầu ăn nói nham nhở.
Tích Nhân năn nỉ:
- Việc đã như vậy, mong tỷ tỷ tha thứ cho tiểu đệ. Chúng ta coi như duyên trời đã tác hợp phải làm đôi chim liền cánh.
Nhã Lan bâng khuâng:
- Ta luyện Càn Long công thề quyết phải trả thù cho cha mẹ, ta lấy ngươi, có con thì biết phải làm sao? Biết đâu ta sẽ giống mẫu thân ta, có con thì quá thương con không muốn tìm kẻ thù nữa..
- Nếu có con, họ Lê sẽ có hậu, rất đáng mừng, còn thù cha mẹ là thù chung của hai chúng ta. Tuy nhiên... Tích Nhân thở dài.
- Sao lại tuy nhiên?
Tích Nhân:
- Nếu tỷ tỷ không luyện Thái Ất thần công đến nơi đến chốn, chỉ sợ rất khó có con. Tiểu đệ đoán tình trạng kinh kỳ của tỷ tỷ hiện đã bất thường, có lúc tỷ tỷ cảm thấy thân thể háo hức, nhưng chỉ một thời gian, rồi sau đó lỡ có nam nhân nào dù là người tỷ tỷ thích đi nữa tỷ tỷ cũng cảm thấy dửng dưng. Nếu hôm nay là lúc khác, tỷ tỷ đã chống cự ngay từ lúc chúng ta còn trên lưng ngựa....
- Ngươi đã nghĩ như vậy về ta. Hừ...
Tích Nhân thở dài:
- Tiểu đệ suy đoán từ sách vở, hiểu sao nói vậy, có lỡ lời xin tỷ tỷ tha thứ. Chúng ta dầu chưa bái kết vợ chồng, nhưng tiểu đệ đã lỡ xúc phạm và cũng chờ đợi cùng tỷ tỷ thành hôn. Nếu tỷ tỷ không chê bai tiểu đệ, chúng ta phải thành thật với nhau.
Nhã Lan:
- Ta không.. không trách Nhân đệ đâu. Ta nghe Nhân đệ nói, phối hợp với lời căn dặn của gia gia... và ta cũng tự hiểu chính mình. Dù sao việc xảy ra quá xa vì ta cũng... thật sự muốn kiềm hãm. chúng ta cứ coi như không có việc gì xảy ra. Chúng ta vẫn thanh bạch, vẫn là đôi tỷ đệ.
- Như vậy khuất tất cho tỷ tỷ.
- Chẳng có gi khuất tất.
- Tỷ tỷ rộng lượng khoáng đạt như vậy, tiểu đệ rất cảm kích. Từ hôm nay tiểu đệ chẳng bao giờ dám xúc phạm. Nhưng hy vọng khi đến Công mẫu sơn, tỷ tỷ sẽ không từ chối lời cầu hôn của tiểu đệ.
Sau buổi hôm đó, họ dung dăng dung dẻ, vừa đi vừa tắm sông, tắm suối, vui vẻ ngủ bờ, ngủ bụi, trao đổi kiếm thuật, nhưng tuyệt đối giữ thanh bạch và hầu như đêm nào Nhã Lan cũng dành hết thì giờ tập Thái Ất thần công. Một điều Tích Nhân và Nhã Lan cảm thấy vui mừng là căn bản Càn Long công không gây khó khăn mà còn làm nàng luyện Thái Ất nhanh chóng hơn. Những lúc Nhã Lan luyện công, Tích Nhân âm thầm tự hỏi tại sao mình lại có thể nhanh chóng mạo phạm Nhã Lan như vậy? Phải chăng mình cũng là một người bình thường, đã từng trải ân ái, rồi lâu ngày không gần gũi đàn bà, phải chế ngự khi bồng ẵm Kỳ Anh, thể xác đã bị dồn nén. Đêm trước đó lúc rửa chân cho Trịnh Vân dục tình đã bùng lên, nhưng rồi phải thất vọng nửa chừng lại càng thêm ức nén. Vì vậy hôm sau, lúc Nhã Lan ngồi sát trong lòng và có cử chỉ xúc động vì sự tiếp xúc này thì ức nén đã bùng lên như con hổ đói không còn tự chế được nữa! Tích Nhân biết mình có lỗi với Nhã Lan vì không lúc nào quên hình ảnh Kỳ Anh trong tim trong óc, nhưng xảy ra bất ngờ với nàng cũng làm cho Tích Nhân cho rằng đã có sự sắp xếp, xuôi khiến kỳ bí nào đó. Với Tích Nhân, Nhã Lan là cô gái xinh đẹp dù không thể sánh với Kỳ Anh đi nữa, cũng khó thua ai, nàng là người yêu lý tưởng của mọi chàng trai trên đời. Với Nhã Lan khí cố trả thù nhà đã luyện Càn Long công, nếu không gặp Tích Nhân, chỉ một vài năm nữa nàng sẽ trở nên một quái nhân. Có thể trời đất hay hồn thiêng gia gia và mẫu thân nàng xui khiến, khi nàng ở trong giai đoạn cận kề, giai đoạn dễ bức xúc nhất của những cảm giác con gái để rồi sau đó sẽ dần dần mất hẳn, thì họ đã gặp nhau.
Có lẽ cả hai đều muốn kéo dài khoảng thời gian và không gian vô tư vô lự bên nhau, họ len lỏi dọc bờ sông, rừng rậm, tránh né bản làng. Những khi bẻ ngô hay đào khoai để dùng, âm thầm lưu lại một chút bạc vụn, còn thịt thì chim trời, cá sông, cá suối. Thời gian quanh quẩn bên nhau, trau dồi võ công, cỡi ngựa, đấu kiếm thì nhiều, di chuyển thì ít, cả mười ngày sau, trưa hôm ấy mới đến ngã ba sông Lô sông Cháy. Trong lúc chờ đò ngang qua phủ lỵ Tam Giang, họ ăn bữa cơm đầu tiên ở một quán nhỏ bên đường.
Đến phủ lỵ, Tích Nhân mướn hai phòng ở khách điếm Vạn An, do một người Tàu làm chưởng quỹ. Tiền giấy trong túi trước đó đã bị Nhã Lan lúc giả dạng ông già lấy làm tiền thưởng cho chủ thuyền và thuyền phu nên Tích Nhân phải dùng vàng để trả tiền phòng và đổi một số tiền giấy để chi dùng. Sau khi đưa Nhã Lan vào phòng, Tích Nhân bảo:
- Tỷ tỷ nằm nghỉ, tiểu đệ đi giây lát rồi trở về nhé.
Những ngày bên nhau Tích Nhân thấy Nhã Lan là một nữ nhân rất khoáng đạt, bây giờ nàng lại chứng tỏ thêm sự khoáng đạt này. Đáng lẽ hỏi đi đâu, thì nàng chỉ gật đầu:
- Nhân đệ có việc thì cứ đi, ta có thể nghỉ hay luyện công một lúc.
Tích Nhân ra ngoài hỏi thăm chưởng quỹ, rồi đến một tiệm may bán quần áo sang trọng, ra kích thước hỏi mua ba bộ áo quấn, giày vớ cho nữ nhân đài các, ba bộ võ hài và võ phục gấm hay lụa cho nữ nhân. Chủ nhân đòi hỏi thời gian ba ngày mới có thể giao hàng và phải đặt tiền cọc trước. Tích Nhân hỏi giá và đưa đủ số tiền:
- Tại hạ sẽ trả thêm chừng này tiền, nếu lão trượng có thể cung cấp cho một hai bộ quần áo ngay bây giờ. Số còn lại ba ngày sau sẽ lấy.
Chủ nhân lắc đầu:
- Cám ơn lòng hậu hĩ của công tử, nhưng hiên giờ chúng tôi chỉ có vải mà chẳng có bộ nào đã may sẵn trong tiệm cả.
Tích Nhân thất vọng:
- Tại hạ đành tìm nơi khác vậy.
Tích Nhân lấy lại tiền, định bước ra, thì chủ nhân gọi lại:
- Xin công tử dừng bước, chờ lão trong giây lát.
Tích Nhân dừng chân, chủ nhân chạy ra nhà sau, ông ta và một người đàn bà, bưng một xấp áo quần bước ra, người đàn bà mau mắn:
- May cho chúng tôi và cho công tử, áo quần chuẩn bị cho tiện nữ cũng vừa đúng với kích thước mà công tử muốn. Đây là lụa Hà Đông thượng hạng, chúng tôi chuẩn bị cho tiện nữ mang theo về nhà chồng. Nghĩa tế hiện làm quan lớn huyện Tùng Thiện. Chúng tôi phước đức mới có con gả vào nhà quan. Này! Có cả đôi hài gấm thêu nữa. Còn bảy ngày nữa mới tới ngày cưới, chúng tôi có thể may lại. Không biết ba màu đen, trăng và thiên thanh này công tử có thích không?
- Ồ! Nếu vậy thì đúng là may mắn. Tại hạ cảm kích vô cùng, và không để phụ lòng tốt của hai vị.
Tích Nhân lấy thêm vài tờ con rồng bỏ thêm vào cọc tiền:
- Khi lấy võ phục, tại hạ sẽ có thêm quà chúc mừng cho tiểu thơ.
Nữ chủ nhân vui vẻ:
- Quý hoá quá. Công tử thật tốt bụng. Nếu khách hàng ai cũng như công tử, chúng tôi sẽ sớm phát tài.
Bà ta mau mắn nhận tiền, lấy vải gói mấy bộ đồ giao cho Tích Nhân và rối rít cảm ơn.
Tích Nhân về phòng, Nhã Lan đang nằm nhỏm dậy:
- Ủa! Đi đâu nhanh vậy?
- Tiểu đệ mua quà cho tỷ tỷ. Hy vọng nàng vừa ý.
Ngồi xuống giường, Tích Nhân mở gói:
- Tỷ tỷ mặc thử mấy bộ xiêm y này xem có vừa không?
Nhã Lan nhìn thấy mấy bộ áo quần cảm động:
- Lâu lắm rồi ta chưa biết mặc tơ lụa.
Tích Nhân lấy bộ trắng, kéo nàng đứng lên:
- Tỷ tỷ mặc thử xem sao?
- Hừ! Ngươi ở đây làm sao ta có thể?
Tích Nhân nheo mắt:
- Thì cứ coi như chẳng có mặt tiểu đệ!
Và nhỏ giọng:
- Hay là để tiểu đệ thay cho tỷ tỷ!
Nhã Lan cau mày quát:
- Ngươi mua áo quần mới về dụ ta phải không? Hừ! Đã hứa những gì?
Tích Nhân le lưỡi:
- Tiểu đệ không dám! Không dám nữa..
- Đi ra nhanh lên!

o0o

Khi mặt trời gác sau dãy núi, một cặp trai gái từ cửa khách điếm bước ra, nữ thướt tha trong xiêm y lụa trắng, trai hiên ngang trong bộ võ phục gấm ngà. Kiệu phu chờ trước tiệm chào mời, họ xua tay từ chối và cùng sánh vai nhau đi về hướng Tam Giang Tửu Lâu. Đây là tửu lâu sang trọng của thủ phủ Lộ Tam Giang. An phủ sứ Lộ Tam Giang Trần Cung Túc là tay chân thân tín của Quý Ly, nhưng lại là người thanh liêm cần mẫn, nên dân cư sung túc và thị trấn Tam Giang, trong thành ngoài chợ bán buôn tấp nập. Con đường từ khách điếm Vạn An đến Tam Giang Tửu Lâu người qua kẻ lại. Nhưng cặp bộ hành Tích Nhân - Nhã Lan đều làm cho mọi người chú ý, họ ngạc nhiên sao trên đời có cặp nam nữ xinh đẹp như vậy và họ cũng ngạc nhiên sao cặp nam nữ xinh đẹp sang trọng này sao lại dung dăng cuốc bộ trên con đường chiều cát bụi? Điều hiếm thấy đối với những người gấm lụa.
Tam Giang Tửu Lân lợp ngói, tường vôi cất lưng chừng một ngọn đồi nhỏ thông trúc xanh rì, ba phía đóng sân gỗ, kê bàn ghế để những buổi chiều mát trời, những đêm trăng sáng khách tao nhân có thể vừa uống rượu vừa ngắm cảnh. Con đường tam cấp bằng đá lên quán cũng cả chục trượng nên ngoài cổng lúc nào cũng có sẵn mấy người chờ đón khách. Tích Nhân và Nhã Lan đến cổng, dù không kiệu, không ngựa, không xe cũng liền được tiếp đón niềm nở. Tích Nhân dúi cho người đón khách một đồng con lân:
- Sắp xếp cho hai chúng ta một bàn bên ngoài!
Tên đón khách vồn vã:
- Xin mời công tử và phu nhân. Tiểu nhân chạy đi lo ngay.
Cả hai lên đến sân, người này đã chờ:
- Bàn công tử ngay dưới tàng thông, mát mẻ và riêng tư vô cùng..
Tích Nhân cho gã thêm một đồng bạc nữa, gã thanh nhẹn hướng dẫn đến bàn và kéo ghế ngồi:
- Bản tiệm có rượu Xương bồ, rượu nếp, rượu ngô thượng hạng, cũng có cả Nữ nhi hồng...
- Cho ta một cân Nữ nhi hồng, thức nhắm.
- Gỏi gà, nai khô, dê tái của bản tiệm mọi người đều khen, công tử và phu nhân thích món nào?
Nhã Lan:
- Cho chúng ta ít lạc rang và nai khô. Ta cần xem thực đơn.
- Dạ dạ... tiểu nhân đi lo ngay.
Tích Nhân nhìn quanh khen:
- Khung cảnh rất thơ mộng. Chúng ta ở đây ba ngày, và trong ba ngày này, mỗi ngày đều đến đây dùng cơm.
Nhã Lan cười:
- Có lẽ ta sẽ mập ra.
- Tỷ tỷ mập thêm một chút sẽ đẹp thêm ra và tiểu đệ càng mê mệt hơn nữa.
- Có lẽ khi gặp Tiên nhi, ta phải nhờ cô ta san sẻ bớt gánh nặng này.
Tích Nhân thở dài:
- Biết đâu sẽ có người vì vậy mà mặt ủ mày chau. Nhưng tiểu đệ chỉ xem Tiên nhi như em gái. Đừng vô tình lại gieo ấn tượng cho tiểu đệ, rồi hối tiếc.
- Hừ! Ai hối tiếc! Có ấn tượng càng tốt. Ta nghe nói về cô ta đã có lòng quý mến. Áo quần nàng may rất đẹp. Ta có... cô em gái công dung ngôn hạnh như vậy cũng sẽ thấy vui. Bảo đảm chị em sẽ sống đề huề.
Tích Nhân cười:
- Vậy thì chờ xem?
- Đã có chủ tâm rồi phải không?
Tích Nhân bối rối:
- Chúng ta không nên vô tình xúc phạm tới nàng.
- Vậy thì ta không nói nữa. Chỉ chờ xem.
Tiểu nhị mang rượu và thức nhắm ra. Trong lúc tiểu nhị rót rượu, Nhã Lan xem thực đơn rồi bảo:
- Chuẩn bị cho ta ba món mà thôi: ngọc hương chưng bát bửu, đuôi nai tiềm thuốc và chân gấu hầm rượu.
Tiểu nhị vâng dạ, rồi thưa:
- Hẳn xin phu nhân chờ lâu, một chút phải nấu cho đúng lửa.
Tiểu nhị vâng dạ vào trong, Tích Nhân cười:
- Một quý phái tiểu thư kêu những món này, hẳn làm cho tiểu nhị ngạc nhiên.
- Ta đâu phải quý phái kia chứ? Hơn nữa Nhân đệ không biết đấy thôi, các phu nhân quyền quý lại là những người thường đặt những món này để bồi bổ cho phu quân của họ.
Nàng cười:
- Ta đang bồi bổ cho Nhân đệ.
Tích Nhân cũng cười:
- Như vậy tối nay nếu tiểu đệ không được ở chung phòng với tỷ tỷ.. hẳn sẽ... khó chịu vô cùng. Hay là cứu vớt tiểu đệ đi.
Nhã Lan nghiêm mặt:
- Nam nữ thọ thọ bất thân! Hơn nữa bản cô nương không thể gián đoạn luyện công.
Tích Nhân bật cười với câu nam nữ thọ thọ bất thân của nàng, nhưng lại nghiêm chỉnh:
- Mấy ngày nay tiểu đệ nghĩ ra cách cùng luyện công với tỷ tỷ, có thể làm chân khí hai ta hoà đồng, thúc đẩy Huyền Âm kích thích khí chân âm phát sinh nhanh hơn trong người tỷ tỷ.
- Phải chăng là cách dụ dỗ mới mẻ?
Tích Nhân nheo mắt:
- Hãy thí nghiệm thử xem sao? Dụ dỗ thì tiểu đệ đã dụ dỗ rồi.
- Nói vậy ta đành phải thí nghiệm. Nhưng cũng không thể đi xa hơn... chỉ như lâu nay mà thôi.
Họ đang riêng tư trò chuyện vui vẻ thì dưới đường bốn năm tên đón khách hụt hẫng chạy lên, một người lại bàn họ:
- Xin lỗi công tử, có thể công tử vui lòng để tiểu nhân dời bàn công tử sang phía bên kia?
Tích Nhân cau mày:
- Sao phải như vậy?
- Công tử con quan An phủ phó sứ cùng với nhiều bằng hữu đến đây uống rượu và lúc nào họ cũng muốn ngồi phía sân này. Đây là khách thế lực mà bản quán phải chiều chuộng. Xin công tử tha lỗi cho chúng tôi.
Tích Nhân muốn nổi nóng, nhưng Nhã Lan cười:
- Ta thông cảm việc làm ăn của các ngươi, mích lòng bọn công tử này sẽ khó khổ vô cùng. Chúng ta qua bàn góc sân phía bên kia cũng được.
- Cảm ơn phu nhân rất nhiều. Chủ nhân nhất định sẽ đền đáp cho công tử và phu nhân.
- Chúng ta không cần điều đó.
Nhã Lan nắm tay Tích Nhân:
- Cho bọn chúng một bài học cũng được, nhưng sẽ làm cho chủ quán khốn khổ. Không cần thiết.
Tích Nhân theo tay Nhã Lan đứng lên:
- Bọn quan lớn ở đây cũng thuộc loại ức hiếp dân lành.
- Thời nào cũng thế.
- Chẳng lẽ không thể nào thay đổi?
- Nhân đệ có làm vua, theo ta, cũng chỉ có thể thay đổi phần nào.
Tích Nhân thở dài:
- Có lẽ tỷ tỷ thấu hiểu tình đời hơn tiểu đệ.
- Trong thời gian Nhân đệ chỉ chú tâm luyện võ, còn ta phải lăn lóc khắp nơi.
Họ được sắp xếp ngồi dưới tàn lá của một cội thông già góc sân ta, khi tiểu nhị mang rượu và thức nhắm quay trở lại và bốn năm tên tiểu nhị vội vã đặt bàn trải khăn ở chỗ sân trước, bọn con quan đã ồn ào lên đến nơi, một tên lên tiếng quở trách:
- Đến giờ các ngươi vẫn chưa bàn ghế xong là sao?
Tiểu nhị rối rít:
- Đã xong, đã xong, kính mời đại công tử và các công tử, tiểu thư.
Tích Nhân lại nghe, tiếng đại công tử oang oang:
- Lưu đại ca, đại tẩu và Vân Thao cô nương, xin mời...Mời quý huynh đệ.
Hai tiếng Vân Thao làm Tích Nhân vội xoay mặt sang nhìn xem, thấy tên công tử mặc áo lụa ngà trong cũng khôi ngô đang đứng đầu bàn chỉ những chiếc ghế bên cạnh, rồi Lưu Gia Từ, Thu Hà và Vân Thao tiến lại. Tên đại công tử kéo chiếc ghế bên hữu:
- Xin mời Vân Thao cô nương.
Thu Hà cười:
- Coi bộ Bùi công tử đã ưu đãi Thao muội ta hơn mọi người rồi.
Vân Thao đấm nhẹ chị:
- Chị lại...
Tên Bùi công tử kéo ghế bên hữu:
- Mời Lưu đại ca, đại tẩu.
Hai người đi qua lưng họ Bùi, Gia Từ kéo ghế bện cạnh cho Thu Hà và chỗ ngồi này Tích Nhân có thể nhìn rõ họ. Gia Từ bây giờ để râu ba chòm lơ thơ, mặc áo gấm xanh biếc, đội khăn chiết xung có lẽ đã làm quan hàm lục hay ngũ phẩm. Thu Hà mặc sắc phục Nùng, lụa xanh nhạt thêu hoa vàng đỏ làm nổi bật khuôn mặt trắng ngà, đôi mắt to đen. Nàng ốm hơn, phảng phất nét buồn, nhưng lại trông hấp dẫn, kiều mị hơn xưa.
Nhã Lan theo ánh mắt Tích Nhân cười nhẹ:
- Trời đất bao la nhưng coi ra vẫn hẹp! Không biết rồi mấy món ăn ta kêu ra có còn ngon miệng nữa không?
Tích Nhân thở dài:
- Không ngờ lại gặp nàng ta ở đây. Có lẽ bây giờ là Lưu phu nhân. Tiểu đệ thật tình mà nói trong lòng không chút ghen hận nào đối với nàng, nhưng với tên Lưu Gia Từ thì muốn trừng trị hắn một phen. Mấy cú đá của hắn tiểu đệ khó thể quên nổi.
- Đã không ghen hận thì trừng trị Lưu Gia Từ biết đâu lại xuất phát từ ghen hận như hắn hành hung Nhân đệ năm xưa?
Tích Nhân cười:
- Khó nói lại tỷ tỷ.
- Bởi vì ta nói đúng.
- Đúng! Nghĩ lại hắn đánh tiểu đệ cũng chỉ vì ghen hận. Thu Hà không phải với hắn, hắn vẫn chấp nhận để lấy nàng. Hắn cũng đáng thương. Tiểu đệ không nghĩ đến tội xưa của hắn nữa.
Nhã Lan rót rượu:
- Ta chúc mừng tinh thần khoan dung khoáng đạt của Nhân đệ.
- Cảm tạ sự khoan dung và khoáng đạt của tỷ tỷ.
Họ nâng chén và cùng cười. Tích Nhân để chén xuống bàn, bất chợt bắt gặp ánh mắt Thu Hà. Bàn bên kia mọi người đều ngồi, riêng nàng vẫn đứng, đôi mắt đăm đăm nhìn hắn, rồi Gia Từ mặt tái hẳn, tên công tử họ Bùi, và Vân Thao cũng xoay lưng lại. Trước bao ánh mắt Tích Nhân cảm thấy nhột nhạt.
Thu Hà nhìn rồi rời bàn, như bị thôi miên từng bước tiến lại, giọng run run:
- Nhân đệ.. Ngươi.. ngươi nhất định là Nhân đệ... phải không? Hãy nói đi.
Vân Thao chạy theo nắm cánh tay Thu Hà la to:
- Tỷ tỷ hãy trở lại.
Thu Hà gạt tay Vân Thao, tiến lại sát bên Tích Nhân. Nàng không để ý đến mọi người, coi như không có mặt Nhã Lan, giọng run lên:
- Nhân đệ... phải chăng.. là Nhân đệ?
Tích Nhân không thể nào ngờ Thu Hà lại tỏ ra xúc động khi gặp lại mình như vậy, cũng chẳng biết phải làm sao. Nhã Lan nhìn người yêu, nhìn Thu Hà, nói:
- Lưu phu nhân, bà làm vậy chẳng phải rất khó xử cho Tích Nhân và trượng phu của bà?
Thu Hà chống hai tay lên thành bàn, và nghẹn ngào:
- Sao Nhân đệ lại có thể bỏ ta ra đi như vậy?
Tích Nhân nổi giận, cười gằn:
- Chẳng lẽ ta phải bịt tai, nhắm mắt cho bà lợi dụng hòng chiếm đoạt Đằng Tiên bí kíp?
Thu Hà ngồi phịch xuống chiếc ghế bên cạnh:
- Ta vẫn đoán Nhân đệ nghe ta nói chuyện với Vân Thao rồi tức giận, nhưng lúc bấy giờ ta có thể làm gì thích hợp, làm cho mọi người vui lòng ngoài kiếm cách làm họ tin rằng ta yêu Nhân đệ là vì quyền lợi Hoàng gia trang? Nhân đệ có bao giờ nghĩ lại tình cảnh chúng ta khi bị Tam kiếm bao vây đêm hôm đó? Kiến thức võ lâm của ta lúc gặp Nhân đệ nào biết cây Đằng Tiên là thứ gì?
Tích Nhân nhớ lại cảnh Thu Hà kéo mình trốn chạy và liều chết giục mình chạy trước như thế nào, ánh mắt và lời nói dịu lại:
- Bây giờ nàng cũng đã là Lưu phu nhân, nhắc lại việc xưa có ích gì?
Thu Hà la lên:
- Ta chẳng là Lưu phu nhân gì cả. Ta chưa lấy ai cả. Chưa thành hôn với ai cả. Trời đất còn cho ta cơ hội gặp lại Nhân đệ.
Nàng gục xuống bàn khóc lớn. Nhã Lan đứng lên, giọng khô lại:
- Ta phải đi trước một bước.
Tích Nhân áy náy nhìn Nhã Lan chẳng biết phải ngăn cản hay không.
Nhã Lan mới khuất, thì Gia Từ bước lại mắt toé lửa:
- Ranh con, thì ra ngươi vẫn còn sống. Mỗi lần ta đang vui vẻ thì ngươi xuất hiện làm gan mật ứa lên.
Vân Thao cũng chửi mắng:
- Ngươi đúng là oan hồn vất tưởng, tỷ tỷ vừa mới nguôi ngoai, không còn như người điên điên dại dại nữa, thì ngươi lại hiện lên phá đám!
Tích Nhân ngồi nghĩ lại mọi việc, nhớ lại khi mới gặp nhau mình đã mê mệt Thu Hà ngay, còn nàng thì sau đó mới có tình ý và trước khi bọn Thiên Thủ tam kiếm tìm tới, nàng chưa bao giờ quan tâm, chú ý đến cây Đằng Tiên của mình. Lời mắng chửi của Vân Thao lại cho thấy nàng đã từng đau khổ vì mình rất lâu làm cho Tích Nhân bồi hồi. Hắn quắc mắt nhìn Gia Từ và Vân Thao:
- Nếu các ngươi có chút tôn trọng Thu Hà, hãy đi ngay để ta nói chuyện với nàng.
Ánh mắt Tích Nhân làm Vân Thao tự thụt lùi ra sau, nhưng Gia Từ điên lên hét lớn:
- Ngươi phải chết!
Cùng với tiếng hét gã tung quyền đánh tới. Thoi quyền dũng mãnh khôn cùng, đấm vào đá cũng phải bể đá. Tích Nhân không cử động, tránh né. Vân Thao và bọn Bùi công tử đang đứng lên xem yên trí Tích Nhân sẽ bể mặt, nhưng thoi quyền đến sát mặt không thấy Tích Nhân đưa tay lên hồi nào mà cổ tay Gia Từ lại bị bàn tay Tích Nhân nắm cứng, còn Gia Từ thì nhăn mặt cọ bộ rất đau khổ nhưng không vùng vẫy gì được.
Thu Hà nằm úp trên bàn có lẽ không thấy tình trạng, khóc mùi:
- Lưu ca ca cứ giết hắn đi, hắn chết tiểu muội tự vận chết theo còn tốt hơn là sống trong tình cảnh trớ trêu này.
Tích Nhân nắm cổ tay Gia Từ gằn tiếng:
- Ta thông cảm sự si tình của ngươi, tha cho tội đá ta một đá trí mạng năm xưa. Hãy cút đi.
Chỉ nắm cổ tay Gia từ, không đứng dậy, nhưng Tích Nhân vụt ném gã rớt huỵch, nằm ngã ngửa dưới chân bọn công tử thành Tam Giang đang đổ lại đứng xem. Tích Nhân lấy xấp giấy bạc bỏ lên bàn, dằn bình rượu lên, đặt tay lên vai Thu Hà dịu dàng:
- Tỷ tỷ đi theo tiểu đệ. Tiểu đệ biết mình đã hiểu lầm.
Thu Hà vẫn rưng rức khóc, Tích Nhân cúi xuống bế thốc nàng lên hai tay, rồi bọn người bu xem nghe tiếng gió mạnh phất qua đầu, không thấy Tích Nhân đâu nữa, dáo dác nhìn quanh và cùng la lên, há hốc ngạc nhiên chỉ trỏ theo bóng Tích Nhân đang từ mái tửu lầu phóng xuống một tàng thông rồi một tàng thông khác như chim, sau đó chạy nhanh về phía Đông Bắc.

o0o

Tích Nhân đến một bãi cát vắng vẻ của bờ sông, trời vừa tối, dừng chân, cúi xuống Thu Hà đang ôm chặt cổ mình nước mắt còn nhạt nhoà:
- Tỷ tỷ...
Thu Hà mắt nhắm nghiền:
- Đây là thực hay là mộng:
- Hoàn toàn thực. Tỷ tỷ đang trong tay tiểu đệ. Chúng ta gặp lại nhau và tiểu đệ đã hiểu rõ nỗi khổ của tỷ tỷ.
Thu Hà từ từ đứng lên, nhìn chăm chú mặt Tích Nhân, nhẹ bóp hai vai, hai cánh tay:
- Nhân đệ đã là một trang hảo hán, có phải ta đã già rồi không? Lúc mới yêu Nhân đệ ta đã nghĩ sau này ta già sẽ kiếm cho Nhân đệ vài người thiếp, giống như đại má má của ta đối với gia gia ta...
Tích Nhân bỗng thấy thương Thu Hà vô cùng, mối tình đầu tưởng đã nguội lạnh, chợt bùng dậy. Tích Nhân ôm chặt nàng, nghẹn ngào:
- Tỷ tỷ vẫn đẹp như xưa. Tiểu đệ thật có lỗi, mấy năm nay đã hiểu lầm tỷ tỷ.
Thu Hà cảm thấy rộn rã, hạnh phúc tột cùng trong vòng tay bao năm mong nhớ, nàng cũng ôm chặt Tích Nhân:
- Nếu lúc này ta có chết cũng mãn nguyện vô cùng.
Nhưng nàng thở dài:
- Nhân đệ đã trở thành một cao thủ vô song, biết bao người mê mệt... ta sợ rồi Nhân đệ sẽ chê ta.
- Tiểu đệ vì hiểu lầm, có hận, có cố quên tỷ tỷ, nhưng nàng là người đầu tiên làm ta biết yêu, thấy đẹp tuyệt vời, từ nay nàng sẽ mãi mãi như vậy.
- Tiểu thư xinh đẹp đi với Nhân đệ là ai?
Thu Hà nhắc đến Nhã Lan làm Tích Nhân giật mình:
- Chúng ta về khách điếm ngay. Khi gặp nhau, tỷ tỷ và nàng đều là người thông tình đạt lý sẽ hiểu nhau và cùng thông cảm cho tiểu đệ.
Thu Hà biến sắc, nhưng Tích Nhân không để ý, lại bồng nàng lên phóng nhanh. Vào thị trấn, Tích Nhân cũng không giảm tốc độ, mà phóng lên cao, phi vùn vụt trên các mái nhà. Đến khách điếm Vạn An hắn lựa chỗ tối đáp xuống và kéo Thu Hà đi nhanh vào khách điếm. Tích Nhân mở cửa phòng Nhã Lan đã vắng bóng, trên bàn để lại tờ giấy nhỏ: "Mừng ngươi gặp lại cố nhân, hãy săn sóc cho nàng. Ta tìm một nơi yên tĩnh luyện công để khỏi bị ngươi dụ dỗ, phá bỉnh và cũng khỏi làm ngươi khó xử. Chuyển tặng mấy bộ áo quấn vướng chân vướng cẳng lại cho Thu Hà. Số vàng bạc ngươi san sẻ ta mang theo để chi dùng. Nghĩa là không ghen giận gì ngươi đâu... Bảo trọng".
Tích Nhân đọc thơ, vội bảo Thu Hà:
- Tỷ tỷ ở đây chờ tiểu đệ.
Tích Nhân ra ngoài chạy khắp nơi, phi thân lên những chỗ cao dõi mắt tìm để may ra có thể thấy bóng dáng Nhã Lan đang phi hành ra khỏi thị trấn hay không, nhưng đêm tối cũng không thể nhìn xa, và cũng không thể khẳng quyết Nhã Lan bỏ đi hướng nào, đành dừng chân, ngồi trên một nóc một ngôi chùa cao thở dài. Những ngày bên Nhã Lan, Tích Nhân cảm thấy vô cùng thoải mái với cách nói chuyện thẳng thắn, thông minh, hóm hỉnh và đôi khi trào phúng của người đã phải lăn lóc trong cuộc đời nhưng cũng rất tế nhị của nàng. Mỗi ngày họ hiểu nhau hơn, tình yêu mỗi ngày mỗi thêm tràn đầy, nhưng không ngờ lại chia tay nhanh chóng, chẳng biết bao giờ gặp lại.
hutructiensinh
HỒI THỨ MƯỜI MỘT

Hộ Vệ Nhị Nùng

Tích Nhân thẫn thờ ngồi một im một lúc rồi nhớ Thu Hà đang chờ, phi thân trở lại khách điếm. Khi mở cửa, trong phòng cũng không có ai cả. Tích Nhân buồn bã ngồi xuống ghế:
- Ôi! Lại bỏ đi nữa rồi. Muốn tìm cũng biết nơi nào mà tìm bây giờ?
Tích Nhân bứt rứt thấy tình khó vẹn, lo cho Nhã Lan thì cũng rất phân vân về Thu Hà. Hắn tự hỏi sao nàng lại bỏ đi như vậy? Họ còn nhiều việc phải nói với nhau kia mà? Hay là nàng lại trở về với sư huynh và em gái của nàng?
Nhưng Tích Nhân đã trách lầm. Cửa phòng chợt mở và Thu Hà trong bộ xiêm y đài các hiện ra, một tay nàng cầm bộ quần áo người Nùng của nàng, một tay mang theo một giỏ bốc mùi thức ăn thơm tho. Theo sau nàng, một tên tiểu bảo mang theo hai thùng nước bốc khói và chiếc khăn to. Tích Nhân đứng lên mừng rỡ:
- Lại tưởng tỷ tỷ cũng bỏ tiểu đệ nữa rồi!
Thu Hà mỉm cười:
- Ta đi tắm và mua thức ăn. Nhân đệ về lâu chưa? Ta mặc bộ đồ Nhã Lan chuyển tặng để nàng thấy ta cũng chẳng tự ái hay ghen với nàng.
Tích Nhân cảm động:
- Tỷ tỷ, nàng...
Thu Hà ném bộ đồ trên tay xuống chân giường, đặt giỏ thức ăn lên bàn, móc cho tiểu bảo đồng bạc, gã lui ra, nàng cài then cửa:
- Nhân đệ cởi đồ, ta lau người cho rồi ăn tối.
Lúc ở với Thu Hà là mùa đông, Tích Nhân ốm yếu sợ tắm lạnh nên nàng phải lau mình cho mỗi ngày. Nhớ lại sự săn sóc của nàng, Tích Nhân sa lệ:
- Tỷ tỷ vẫn nghĩ tiểu đệ là gã sợ lạnh năm xưa hay sao?
Thu Hà cũng chợt khóc:
- Nhân đệ đã là cao thủ trên đời này không ai bằng, nhưng ta vẫn mong Nhân đệ đối với ta vân như xưa và ta cũng muốn được săn sóc Nhân đệ như xưa.
Tích Nhân ôm lấy nàng:
- Vâng, tỷ tỷ cứ săn sóc tiểu đệ như những ngày chúng ta chẳng giây phút rời nhau.
- Đừng để cho xa cách nữa, từ lúc những bàn tay của chúng ta ngượng ngập nắm lấy nhau, xa nhau một chút là đã nhớ nhung, nhưng ta đã phải nhớ đến điên dại trong mấy năm liền.
- Tha lỗi cho tiểu đệ.
Thu Hà:
- Trời đã khiến xui như vậy. Có lẽ phải xa ta hôm đó, Nhân đệ mới chữa được bệnh và có ngày nay. Ngày nào chúng ta phải làm lễ cảm ơn trời mới được.
- Vâng, tùy tỷ tỷ sắp xếp.
Thu Hà chợt đẩy Tích Nhân ra:
- Ồ! để nước nguội mất.
Tích Nhân cười:
- Tỷ tỷ nhất định phải lau người tiểu đệ hay tiểu đệ đi tắm?
Thu Ha chợt lộ vẻ buồn:
- Nhân đệ không muốn ta lau cho hay sao?
Tích Nhân lại kéo nàng vào người:
- Tiểu đệ không còn sợ lạnh nữa và chỉ sợ tỷ tỷ mất công mà thôi.
Tích Nhân đắm đuối hôn Thu Hà rồi cởi bỏ quần áo, nằm xuống giường như cậu bé ngoan ngoãn. Thu Hà kéo thùng nước lại vắt khăn và lau cho người tình yêu dấu. Tích Nhân nhắm mắt tận hưởng bàn tay săn sóc của Thu Hà và lòng cảm động vô biên.
Thu Hà lau xong, lấy áo đem lại:
- Nhân đệ mặc ngay kẻo lạnh.
Tích Nhân cầm áo bỏ sang bên, kéo nàng xuống:
- Tiểu đệ không lạnh đâu.
- Nhưng... cũng phải ăn cơm...
Thu Hà không thể nói thêm nữa, môi Tích Nhân đã phủ kín đôi môi nàng và trong yêu thương cảm động tột cùng của Tích Nhân, Thu Hà tưởng như lần đầu mình mới biết thế nào là hạnh phúc tuyệt vời. Trước đây, sau những giây phút trao gởi Thu Hà bao giờ cũng phải làm sạch cho người tình bé bỏng đang thở dốc, còn bây giờ nàng vừa thẹn thùng vừa sung sướng nhắm mắt đón nhận sự săn sóc của Tích Nhân. Và Tích Nhân khi chiêm ngưỡng thân thể Thu Hà lại thầm nhận ra người yêu năm xưa dù khuôn mặt không đẹp như Kỳ Anh, Nhã Lan, nhưng những đường nét vun tròn, nở nang cân đối lại không ai so sánh được.
Để cánh tay cho Thu Hà làm gối, Tích Nhân âu yếm:
- Chuyện mấy năm nay như thế nào tỷ tỷ kể cho tiểu đệ nghe đi.
- Hãy ăn chút gì đi đã kẻo Nhân đệ đói.
- Vâng, chúng ta vừa ăn vừa nói chuyện.
Thu Hà ngồi lên khoác áo, bày thức ăn ra bàn. Tích Nhân thấy đều là những món ăn mình thích nhất, lại cảm động:
- Tỷ tỷ nhớ cả những món tiểu đệ ưa thích.
- Đã nguội chắc bớt ngon, nhưng hy vọng Nhân đệ có thể ăn được.
Tích Nhân cười:
- Như vậy tỷ tỷ đã quên tiểu đệ dù ưa thích một vài món, nhưng không bao giờ chê món ăn nào.
- Làm sao ta không nhớ, nhưng ta nghĩ Nhân đệ đã thay đổi, thì cũng có ít nhiều thay đổi.
Tích Nhân nắm tay nàng, kéo vào lòng:
- Tiểu đệ từ cậu bé ốm yếu không biết chết lúc nào trở thành một người khoẻ mạnh, nhưng những gì hiểu lầm đã qua, chúng ta gặp lại, thì chúng ta năm xưa cũng là chúng ta ngày nay và sau này. Tỷ tỷ đừng nhắc câu tiểu đệ đã thay đổi nữa. Chỉ làm cho chúng ta..
Thu Hà ôm lấy Tích Nhân bật khóc:
- Ta mừng gặp lại Nhân đệ, mừng Nhân đệ đã trở nên thế này thì trong lòng tự nhiên lại cảm thấy có những lo lắng bồn chồn bất an nào đó.
Tích Nhân vuốt ve vỗ về:
- Sau sáu năm chúng ta bất ngờ gặp nhau. Sáu năm làm tiểu đệ lớn hẳn ra, trong khi trong lòng tỷ tỷ hình ảnh của tiểu đệ vẫn là cậu bé ốm yếu nên tỷ tỷ có chút vừa gần, vừa xa... nhưng chỉ vì tỷ tỷ vẫn còn quá xúc động nên không nhận ra rồi tưởng mình bồn chồn, bất an mà thôi.
- Nhân đệ đã thành người khác từ võ công, cử chỉ, đến cách ăn nói...
Tích Nhân cười nhẹ:
- Nếu tỷ tỷ muốn tiểu đệ biến trở lại thành cậu Tích Nhân sáu năm trước, ngày mai tiểu đệ nhịn ăn cho ốm và cố gắng thun người thấp xuống.
Thu Hà bật cười, rồi nép lên ngực Tích Nhân. Tích Nhân âu yếm:
- Bây giờ tiểu đệ chỉ muốn nằm ôm tỷ tỷ, không muốn ăn gì nữa.
- Ta cũng không muốn ăn, nhưng Nhân đệ kh