Những ngày khó quên...
Tạp ghi Văn Nghệ - Phạm Quang Ngọc
Nghe im lặng mà sống
Nhìn trời đất mà vui
Hãy như người từng trải mỏi mê về
Lúc tàn khuya
Nhà hương hỏa tối mốc
Còn ai không, có gọi chỉ thêm buồn
Thôi, chẳng tiếc túi vàng đã phong phú
Mà mừng mẩu nếu chợt tìm ra....
(Thơ Tô Thùy Yên)
Thói thường, mang chiếc ghế đẩu ngồi ở vườn sau, ngắm trời trăng mây nước mà thấy lòng nhẹ tênh.
Tôi chưa quẳng gánh nhọc đi được, nhưng thấy tuổi đời kề gần với nén nhang năm tháng nên chẳng dại gì chuốc nỗi khổ trong lòng.
Cứ thế, thuốc lá tôi phì phèo thả dòn. Cà phê ngày đều chi ba cữ vẫn lăn quay ra ngủ một cách ngon lành; Tôi uống trà thay nước lạnh.
Ngược lại, tôi nhìn chất rượu sóng sánh trong ly nước đá, gương các danh tài như Phạm Đình Chương, Mai Thảo, Trịnh Công Sơn... đã vì rượu mà đi về với bụi, nên tự nhột nhạt châu thân, tởn da gà, không dám chơi trò ma men ám quả.
Bởi tỉnh táo vì nhờ chất cà phê hầm-bà-lằng với tòa, tôi hay ngồi chiêu niệm cuộc đời, truy nã thân phận. Vui có, buồn có, xếp re có... thôi thì đủ màu hỉ, nộ, ái, ố toòng teng với cuộc đời. Đôi lúc khoái quá, tôi rống lên như sư tử. Đôi lúc buồn tình muốn chảy nước mắt, tôi cà khịa với chính mình. Cà khịa chán, tự thương hại mình, bắt chước nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, tôi gọi tên mình cho đỡ nhớ:
- Phạm Quang Ngọc hồi I
- Phạm Quang Ngọc hồi II
- Phạm Quang Ngọc hồi III
- Tiên Sưu bố nhà anh!
Tôi sinh ra giữa hai ngôi sao xẹt, nên khôn lớn đôi chân đã lảo đảo bước vào đời. Với tôi, tất cả đều khởi đi từ nỗi khó khăn, vất vả từ đầu.
Mẹ tôi nuôi tôi bằng miếng cơm mớm vội, tắm nước hồ ao còn hôi mùi bùn. Tôi lêu lổng ngoài đồng vắng, vểnh tai nghe tiếng nghé lạc mẹ. Tiếng gió đuổi nhau thê lương trong khu nghĩa địa chen chúc những nấm mồ vô chủ. Từ đó đã âm vang trong lòng tôi những cung điệu buồn nẫu ruột. Tôi đã tự gò cao, lũng sâu với những hồn ma tứ chiếng ẩn hiện dưới chân mộ bia lúc đêm về.
Từ tấm bé đến tuổi dối già, tôi đã trải qua những năm tháng khó quên bằng nỗi hẩm hiu của chính mình. Tôi không tả oán mà hãnh diện là đằng khác. Nước mắt đã tôi thế đấy! Tấm áo rách vai để lộ hình hài của đấng sinh thành đã tạo ra mình. Cơn đói làm tôi vỗ về bao tử: hãy chịu đựng đi, ta sẽ ăn no bụng, căng rốn về cho! Đừng làm phiền lũ ruột già vô vị...
Bằng nỗi trớ trêu của cuộc đời đã tạo cho tôi những chất liệu để tải lòng mình bằng chữ nghĩa lên từng trang giấy như thấm mồ hôi nhọc nhằn.
Tôi chẳng tiếc chi đời, oán trách chi người. Gia phả giòng họ tôi thuộc giai cấp cày sâu, cuốc bẫm, chẳng có chi với đời.
Người Cộng sản dùng nhiều sáo ngữ nghe rất bùi tai, béo bổ đến phì người. Họ xổ ngôn từ đánh lận con đen, đôi lúc dao to búa lớn, nặng hơn cục đá đè lên thân phận bần hàn (giả bộ lòng giai cấp) của người dân. Ấy vậy, nhiều bậc thức giả, nhiều nhà khoa học đoán cả được tấm thân ngọc của Hằng Nga, của cà rốt của chú Cuội, tiếng nói âm thầm của giống người ngoài hành tinh... Thế đó, người Cộng sản vẫn cho họ vào xiếc, đu giây trong tranh tối, tranh sáng, lòng vòng đến hết đời.
Tầng lớp vô sản tưởng đâu thoát kiếp ngựa trâu vì nhai cỏ-cộng-sản, mừng rơn! Nhưng than ôi, thấy vậy mà không phải vậy đâu! Chính nhà thơ nổi tiếng từ lò chê-độ-đỏ cũng đã phì ra hơi thở lặc là như sau:
Tụi nó cưỡi lên anh làm ngựa
Khiến lưng anh trổ lông và gáy mọc bờm
Anh vừa lái vừa vặn mình nôn mửa
Một đống lạ lùng nửa áo, nửa cơm...
(Bài thơ Ngựa - Thơ Bùi Chí Vịnh)
Nếu như bố tôi không bị lũ cháu chắt mặc áo trấn thủ, vì tâng công trò kháng chiến, nửa đêm dẫn ra khỏi nhà để nếm mùi cơm hẩm sáu năm tại trại tù Ba Vì (thuộc tỉnh nhà) mà bị kết tội làm Việt gian, thông ngôn cho dân làng gặt lúa vùng Tề. Nếu nhưu ông bác họ, nhờ lấy vợ con địa chủ nên thuộc thành phần có máu mặt ở Sơn Tây, giữa khi phong trào đấu tố địa chủ đang đột khởi mạnh mẽ theo “ba dòng thác cách mạng”, đã bị lôi ngay giữa đình làng nghe thơ hai-năm-mươi để mặc sơ-mi-gỗ của Xuân Diệu:
Thắp đèn cho sáng ba gian
Lôi mi ra giữa đình làng đêm nay
Trăm tay sỉa xuống mặt mày
Trăm tay sỉa xuống mặt đầy gian than
Sau đó, chính ông bị lũ người mình đã từng cưu mang qua cơn đói năm Ất Dậu, đem ra tùng sẻo bằng trò chơi chôn sống rợn người.
Nếu như ông chú ruột cả một đời rong chơi lêu bêu; Sau màn “Cách mạng Mùa Thu” bị chém bêu đầu trong vùng lau sậy ven bờ sông Hồng vì tội “làm Lý trưởng”, thích ở ngôi tiên chỉ dưới mái đình làng. Từng đó cái “nếu như” đã làm bố tôi hỏi lại lòng mình. Thân tôi hèn mọn cũng co vòi, rụt cổ muốn th1o chạy thoát thân cho rồi!
Hóa cho nên trước khi nhắm mắt, bố tôi chỉ chép miệng thở dài: “Hỡi ơi, giá như người Cộng sản biết thương yêu đâu đến nỗi xẩy ra thảm trạng nồi da, xáo thịt trong cuộc chiến tương tàn... Bố đâu để bà nội thui thủi ở quê nhà!”
Trước cảnh chia đôi đất nước qua hiệp định Genève, bố tôi đã nhanh chân đăng lính Vệ Binh Đoàn miền Trung (dưới thời thủ hiến Phan văn Giáo) thoát cảnh đi tàu há miệng, chen chúc vào Nam lánh nạn Cộng sản.
Tôi bỏ nơi chôn rau, cắt rốn mà đi không một luyến tiếc nhỏ lệ. Tôi sợ thứ cỏ-cộng-sản lan dần vào miền Nam hiền hòa mưa nắng hai mùa. Nhưng nỗi sợ hãi khủng khiếp ám ảnh cả một thời thơ ấu, nay đã thành sự thật. Nói theo giọng điệu kẻ cả của ông Tổng thống xứ Cờ Hoa qua ba thập niên: Lịch sử đã sang trang!
Phải, lịch sử đã sang trang qua sự lãh đạo nhớt nhợt, ỷ lại vào ngoại bang của các lãnh tụ gốc lính tẩy. Tôi không đủ thẩm quyền để phê phán ai.
Nhưng lịch sử sẽ phán xét hành động đào ngũ, trốn chạy của những người này. Tôi từng mài đũng quần vì cảnh khốn đốn của gia đình với “đồng hương lính tính liền” ở bậc trung học. Tôi chạy theo mảnh bằng đến bở hơi tai. Nhưng mảnh bằng không độ lượng, từ tâm với giai cấp “nhìn lầu nguy nga ước mơ thầm...”.
Tôi tình nguyện nhập ngũ, tự lấy đó là cái mốc để dấn thân trên con đường đời với nỗi chết không rời bỏ. Tôi đâm nghiện mùi áo lính như thứ rượunếp than, càng để lâu càng bốc mùi chua, nhưng uống vào ngọt lừ, sau đó nằm quay-cu-lơ. Tôi khoái cơm lính (không phải khẩu phần lương khô đâu nhé!) ăn vũ bão, húp xùm xụp, lúc nào cũng thấy ngon miệng thật đúng với câu: nam thực như hổ...
Tôi là thứ lính tay súng, tay đàn, thọc léc cho đồng đội cười quên đời còn nhớ một lần dẫn một toán văn nghệ đi trình diễn giúp vui tại một tiền đồn hẻo lánh ở vùng Dakto sương mù. Đơn vị trưởng là một Đại úy trông rất ngầu, miệng ông dán loại băng adhesive strips (chắc bị lở miệng). Khi danh hề Trọng Hương độc diễn màn chim bay, cò bay, người bay... vị chỉ huy ngồi cười quên cả vị thế con chim đầu đàn, làm rớt tấm băng ra khỏi miệng vì lở môi dưới...
Tôi được trận cười no nê, chảy nước mắt. Giờ đây, mỗi lần nhớ lại hình ảnh đầy chất khôi hài của con-nhà-lính, tôi lại cười mỉm chi một mình...
Người ta thường ví không có gì nhạt nhẽo, chóng phai bằng tình lính. Nhưng với tôi, tình đồng đội ngay trên chiến trường hay lúc dưỡgn quân ở hậu cứ, đều bàng bạc bằng một thứ tình “tuy bị Lưu Linh ám quẻ”, nhưng khi đụng trận sẽ biết tay. Bởi nỗi chết kề bên không rời, họ thương nhau, chia xẻ ngọt bùi còn hơn ruột thịt.
Tôi có thằng bạn cùng khóa thuộc loại cọp ba đầu rằn thứ thiệt, khi nghe tin bố tôi quy tiên, nó lần mò từ đơn vị về thành phố đến gia đình tôi chia buồn.
Trước linh cữu, nó thắp ba nén nhang rồi quỳ xuống khóc than, kể lể thảm thiết như nỗi đau chính người thân mình qua đời. Nó làm cả gia đình tôi, họ hàng đứng chung quanh đều rơi lệ. Tôi khóc theo nó, thương thân phận nó theo cảnh gió đưa về trời không biết lúc nào. Quả nhiên, ba tháng sau tôi được tin nó tử trận trong một trận đánh ác liệt ở Củ Chi.
Suốt cả quãng đời binh nghiệp, tôi không dám dỡn mặt với cái chết. Nhưng tôi xông vào cõi chết để viết những trang phóng sự nháng lửa. Để cùng đồng đội tay súng, tay đàn trình diễn những buổi văn nghệ lộ thiên bên tiếng pháo dập 130 ly kinh hồn của Bắc quân.
Ngồi nhớ lại hình ảnh hào hùng trên, ở bàn viết lữ thứ xứ người tôi đã ghi lại qua những câu thơ:
Rượu suông nhắm với ổi già
Dăm thằng cấu kết xem pha chuyện đời
Dzô đi mày, lẹ cái coi
Để tao chờ nhạt cả môi quá trời!
Phải chi dưới ánh mặt trời
Máu thây đòi máu, đều phơi đòi đầu
Dăm ly thấm tháp gì đâu
Ờ, sao trăng thoắt úa màu quan san?
(Đêm tiền đồn uống rượu)
Bây giờ ở tuổi “lục thập bất nhập đình chung”. ngồi nhớ lại những ngày khó quên, tôi chỉ biết thở dài nhìn làn mây trắng bay về cuối trời.
Ước mơ ư? Thôi đã hết rồi! Tôi mượn những câu thơ dẫn nhập của Tô Thùy Yên như để tự an ủi:
Thôi, chẳng tiếc túi vàng đã phung phá
Mà mừng mẩu nếu chợt tìm ra...
Còn em nữa, em đừng trách chi anh tội nghiệp! Anh đã viết nhạc, làm thơ... từ trong máu huyết mất rồi. Em không thấy anh là thứ lính tay súng, tay đàn đó sao?
Có hắt hủi nhưng đừng bỏ anh một mình nhé. Lại đây, nghe anh cầm đàn, hát nhạc Từ Công Phụng qua Mãi Mãi Bên Em:
Nếu có điều gì vĩnh cửu được
Thì em ơi, đó là tình yêu chúng ta!
Rồi mai đây anh sẽ đón em về
Mở cửa hồn em vào đó rong chơi
Em có thấy tình anh ngát hương hoa?
Ngây nất mãi một đời vì em thôi....
****************