3. Bông hoa đá
Người dịch : Đoàn Ngọc Trinh
Trong các loại đá không phải chỉ có đá hoa cương là loại tốt. Ở vùng chúng tôi nhiều hơn cả là loại đá khổng tước. Đó là loại đá quý nhất. Những sản phẩm làm từ đá khổng tước thật tuyệt diệu.
Ông già Prô-cô-pích là người thợ chạm khắc đá lành nghề nhất ở vùng chúng tôi. Đến chủ mỏ cũng phải căn dặn đốc công cho người đến nhờ ông Prô-cô-pích truyền nghề cho.
- Hãy nhờ ông ấy dạy cho tất cả những bí quyết của nghề chạm khắc đá quý.
Nhưng không biết vì giấu nghề hay vì một lý do nào đó mà công việc dạy nghề của ông rất tồi. Những chàng trai học nghề thường bị bươu đầu sứt trán. Prô-cô-pích bảo người đốc công :
- Cậu này không tinh mắt khéo tay nên không học được nghề làm đá.
Người đốc công xử nhũn với ông nói :
- Thôi, để tôi tìm đứa học trò khác nhờ ông kèm cặp vậy
Bọn trẻ đều sợ hãi mỗi khi nghe thấy phải đến học nghề ở nhà ông Prô-cô-pích. Cha mẹ của chúng cũng không muốn cho con bị đày ải, khổ sở ở chỗ người thợ già khó tính. Họ nghe nói bụi đá khổng tước rất độc, vì vậy cố tìm cách từ chối không cho con đi học nghề chạm đá
Tuy vậy, người đốc công vẫn nhớ tới lệnh của ngài chủ mỏ - vẫn tiếp tục gửi học trò cho ông Prô-cô-pích. Nhưng ông lão lần lượt hành hạ những đứa trẻ rồi trả lại cho người đốc công :
- Những cậu này cũng không đủ khả năng học nghề.
Người đốc công bực mình :
- Vậy đến bao giờ mới đủ khả năng ? Người này không được, người kia không được. Hãy cứ dạy cho nó đi !
Ông Prô-cô-pích trả lời :
- Tôi sẵn sàng bỏ mười năm để dạy nghề cho anh ta, nhưng ông chẳng hy vọng anh ta trở thành một tay thợ lành nghề đâu.
- Vậy thì ông cần một người như thế nào ?
- Tôi chẳng cần gì cả, mà ông cũng chẳng nên buồn vì chuyện đó
Cứ như vậy, người đốc công và Prô-cô-pích đã thử dạy cho nhiều chàng trai, nhưng chỉ dẫn đến kết quả là các chàng trai bươu đầu sứt trán mà thôi. Những người đó đã cố tình làm hỏng để ông Prô-cô-pích đuổi họ đi. Cho tới khi cậu bé mồ côi Đa-ni-lô tới thì việc tìm học trò của ông Prô-cô-pích mới kết thúc.
Đa-ni-lô là một cậu bé mồ côi mười hai tuổi, chân tay khẳng khiu, tóc xoăn, mắt màu xanh lơ, khuôn mặt trông sáng sủa thông minh. Một người đàn bà Ca-dắc đã dẫn cậu bé tới quán rượu xin làm chân hầu bàn. Người ta sai cậu bưng hộp thuốc lá ra cho khách, đưa khăn cho khách. Công việc chỉ có vậy nhưng cậu bé này không có khả năng trong công việc chạy bàn. Các cậu thanh niên khác còn nhanh nhẹn lượn từ chỗ này sang chỗ khác. Còn Đa-ni-lô thì lánh vào một góc, mơ màng ngắm một bức tranh nào đó, khi thì ngắm nhìn một đồ trang sức, khi thì đứng ngẩn ngơ, người ta gọi Đa-ni-lô nhưng cậu còn mải nghĩ đẩu đâu nên chẳng nghe thấy gì, rồi người ta kéo cậu vào, mắng cho một trận.
- Cái đồ ngớ ngẩn. Làm gì mà mong nó trở thành người hầu bàn giỏi cho được
Người ta cho cậu bé vào làm việc trong nhà máy, chưa được một tuần thì lại đuổi ra. Người đốc công lại sắp xếp cho Đa-ni-lô đi chăn gia súc. Ở đây cậu cũng chẳng khá hơn. Mặc dù cậu thiếu niên tỏ ra rất cố gắng, nhưng công việc cũng chẳng trót lọt. Lúc nào cậu cũng mải nghĩ vẩn vơ, mắt nhìn đồng cỏ mà bò chạy đâu chẳng biết. Người mục đồng già ôn tồn khuyên bảo vì thương cậu bé mồ côi, nhưng sau đó nói mãi mà cậu không thay đổi tính nết, cụ bực mình, mắng :
- Cháu là thứ người gì vậy hả Đa-ni-lô. Cháu tự làm mình hư đi thôi. Cháu lại dồn gánh nặng lên vai người già cả hay sao.Cháu cứ nghĩ đi đâu chẳng thèm để tâm đến công việc của mình cả.
- Cháu cũng chẳng biết sao nữa. Cháu nhìn con sâu bò trên chiếc lá. Đúng là con chuồn chuồn mà ở dưới cái cánh lại ló ra cái gì vàng vàng chiếc lá thì như rộng ra. Đường răng cưa xung quanh chiếc lá cũng như rộng ra, cong lên. Trời tối hơn, chiếc lá lúc nãy còn xanh bây giờ lại biến thành đỏ, con sâu lại bò đi đâu mất.
- Nào thật là đồ ngốc, Đa-ni-lô ạ. Việc của cháu có phải đi ngắm nghía con sâu đâu. Việc của cháu là đi chăn bò. Hãy vất bỏ những cái trò ngớ ngẩn ấy đi, không ông sẽ mách ngài đốc công.
Một lần, khi ông lão đi đâu đó, Đa-ni-lô lấy sáo ra thổi. Tiếng sáo nghe thật du dương. Buổi chiều, tới lúc dồn bò vào chuồng, các cô gái bảo Đa-ni-lô :
- Hãy thổi một bài nào đi, Đa-ni-lô.
Chú bé bắt đầu thổi những bài hát lạ, nghe như tiếng suối reo, chim hót. Các cô gái say sưa lắng nghe Đa-ni-lô thổi sáo. Mọi người quây quần xung quanh Đa-ni-lô, người khâu quần, người chữa lại chiếc áo cũ. Ông lão chăn bò cũng bị lôi cuốn bởi tiếng sáo của Đa-ni-lô. Vì tiếng sáo, mọi người quên luôn cả đàn bò. Cũng vì vậy mà bất hạnh đã ập xuống đầu Đa-ni-lô.
Cậu bé mải mê thổi sáo, còn ông lão chăn bò thiu thiu ngủ. Bò của họ chạy tứ tán khắp ngả. Khi họ dồn bò về chuồng thì phát hiện mất khá nhiều. Họ đổ đi tìm chúng, lặn lội tới tận E-nhi-nôi xa tít tắp. Họ lần theo vết sói, chỉ còn sót lại một con bò. Mọi người trong nhà máy nghe tin mất bò cũng tỏa đi khắp rừng tìm nhưng chẳng thấy con nào.
Đám mục đồng biết rõ sự trừng phạt như thế nào đang chờ đợi họ. Để quên nỗi lo sợ, họ đem rượu ra uống. Trong chuồng bò của viên đốc công chỉ còn có một con. Họ chẳng mong gì được hắn tha tội.
Quả nhiên viên đốc công nổi giận. Đầu tiên hắn lôi ông lão chăn bò ra đánh một trận, sau đó tới lượt Đa-ni-lô. Chú bé gầy khẳng khiu trông thật đáng thương, ấy thế mà tên đao phủ còn đơm đặt them cho chú :
- Lần này phải đánh cho bật những ý nghĩ vớ vẩn ra khỏi đầu mày!
Hắn thẳng tay quất Đa-ni-lô một trận thừa sống thiếu chết. Nhưng Đa-ni-lô vẫn im lặng. Hắn đánh trận đòn thứ hai, chú vẫn im lặng. Đánh trận thứ ba cũng vậy. Chú bé gan góc chịu đòn. Tên đốc công vừa thẳng tay hành hạ chú bé vừa thét lên :
- Im lặng này ! Tao đánh cho mày bật ra lời van xin thì mới thôi!
Đa-ni-lô đau đớn quằn quại dưới trận đòn độc ác. Nhiều lúc ngất đi, nhưng chú vẫn không thốt ra một tiếng kêu nào.
Viên chủ mỏ có mặt ở đấy phải ngạc nhiên nói :
- Thật là sự chịu đựng phi thường. Nếu nó sống sót thì sau đợt này nên tìm cho nó một công việc gì đó thích hợp hơn.
Đa-ni-lô nằm bất tỉnh. Bà Vi-khơ-ri-kha đưa chú về nhà. Bà là thầy lang giỏi nhất của vùng chúng tôi. Bà biết rất rõ các cây thuốc trong rừng : loại nào chữa đau răng, loại nào chữa đau bụng, loại nào chữa nhức xương… Bà biết rõ thời vụ của từng loại cỏ chữa bệnh và trữ chúng ở trong nhà.
Thật may mắn cho Đa-ni-lô đã được bà Vi-khơ-ri-kha chữa bệnh.
Đa-ni-lô sống rất dễ chịu ở nhà bà. Bà lão dịu dàng chăm sóc chú bé đáng thương. Khắp nhà bà đầy những cỏ, rễ cây và hoa phơi khô treo khắp mọi nơi. Đa-ni-lô tò mò nhìn những loại hoa cỏ đó :
- Cỏ này là cỏ gì hả bà ? Nó mọc ở đâu ? Còn hoa này là hoa gì ?
Bà lão kể cho chú nghe về đời sống và công dụng của các loại cây thuốc đó.
Một lần Đa-ni-lô hỏi bà :
- Bà ơi, bà có biết hết tất cả các loại hoa ở trong rừng không ?
- Bà biết đủ hết cháu ạ.
Bà lão trả lời :
- Dường như bà đã biết hết các loại hoa rồi, chẳng còn tìm thêm được hoa gì mới nữa.
- Chẳng lẽ không thể tìm ra loại hoa gì mới nữa à ?
- Có lẽ vẫn còn một số loại hoa mà bà chưa có. Cháu có nghe nói về một loại cây dương xỉ không ? Hoa của nó nở vào ngày lễ thánh Ivan. Còn loại hoa tầm ma nữa. Chúng mọc ở nghĩa địa. Loại hoa đó để dành cho những người xấu. Cỏ nổ nở ra những bong hoa lửa cháy. Đó là những bông hoa ăn trộm. Nếu cháu nhìn thấy chúng – vậy là cháu đã phát hiện được tất cả các loại hoa. Còn loại hoa cá nữa. Những bông hoa này mọc ở trên núi đá khổng tước. Vào ngày lễ Rắn, chúng nở rộ. Thật là bất hạnh cho người nào nhìn thấy chúng.
- Tại sao lại bất hạnh hả bà ?
- Tại sao thì bà không biết, cháu ạ. Bà chỉ nghe kể lại như thế.
Lẽ ra Đa-ni-lô còn có thể ở nhà bà Vi-khơ-ri-kha thêm ít lâu nữa nếu như tên hầu cận của viên đốc công không nhìn thấy chú bé đã nhúc nhích đi lại được. Hắn đến mách cho tên đốc công biết điều đó. Viên đốc công cho gọi Đa-ni-lô tới và bảo chú :
- Bây giờ mày hãy tới chỗ lão Prô-cô-pích mà học lấy nghề làm đá, đó chính là việc của mày.
Đa-ni-lô lảo đảo đi tới nhà ông thợ đá
Ông Prô-cô-pích nhìn thấy cậu bé liền nói :
- Chưa đủ sức đâu. Sau trận đòn thập tử nhất sinh đó, chú không đủ sức khỏe để học nghề thợ đá đâu.
Ông Prô-cô-pích bước tới gần tên đốc công nói :
- Tôi không thể dạy cho một người ốm yếu như thế này. Sao ông không đánh nó thêm đi. – Ông thợ đá nói câu đó bằng giọng mỉa mai rồi bỏ đi
Viên đốc công chặn ông lão lại, bảo :
- Ông đi đâu ? Nghe tôi nói đã nào. Không có bàn tán lôi thôi gì cả. Ông phải dạy nghề cho thằng bé này. Nó có sức chịu đựng phi thường. Đừng có nhìn vẻ bề ngoài ốm yếu của nó.
- Các ông tử tế như thế đấy! Thôi được, tôi sẽ dạy nghề cho nó, nhưng không phải để các ông lại lôi nó đi.
- Sẽ chẳng có ai lôi nó đi. Thằng bé này là kẻ mồ côi, không người thân thuộc, muốn làm gì nó thì làm.
Ông Prô-cô-pích đưa Đa-ni-lô về nhà. Đa-ni-lô đứng cạnh chiếc máy, chăm chú nhìn tấm đá khổng tước. Ông Prô-cô-pích đang định đẽo bỏ những rìa đá. Ông nhìn Đa-ni-lô tò mò, không biết thằng bé mới tới này nhìn thấy cái gì mà chăm chú như thế. Ông liền hỏi
- Này, cháu nhìn cái gì đấy ? Ai đã trao việc cho cháu mà cháu mon men tới đó. ?
Đa-ni-lô trả lời :
- Theo con mắt của cháu thì phải từ phía này cắt bỏ những mép đá. Ông hãy nhìn xem. Ở đây khắc những đường hoa văn sẽ đẹp hơn
Tất nhiên ông Prô-cô-pích cáu kỉnh hét lên :
- Này, nhóc, mày nghĩ mày là ai vậy ? Là thợ cả hả. Tay nghề không có mà dám bàn với luận. Mày thì biết được cái gì.
- Cháu biết người ta định làm chiếc trap.
- Ai làm ? Mày làm chắc ? Đồ hỉ mũi chưa sạch. Coi chừng tao kể lại cho viên đốc công nghe những việc vớ vẩn đó thì không hy vọng gì sống sót đâu.
Ông lão thét lác ồn ã như vậy, nhưng không hề chạm một ngón tay tới Đa-ni-lô, chỉ cần nhìn qua thì ông cũng phát hiện ra chú bé nói có lý. Chốc lát, ông lão nguôi cơn giận, nhẹ nhàng bảo chú bé :
- Thế đấy! Cháu đúng là sinh ra để làm thợ khắc đá. Nào, hãy thử nói xem, theo ý cháu thì phải làm như thế nào ?
Đa-ni-lô thành thạo nói :
- Nét chạm này nên như thế này… Mài nhẵn mép đá, đặt một dây ở trên.
Ông Prô-cô-pích khen ngợi :
- Cháu biết khá nhiều về nghề đá đấy. Sẽ chẳng phí công vô ích đâu. – Ông lão nhủ thầm : “ Thằng bé nói đúng đấy. Chắc chắn nó sẽ trở thành một thợ đá lành nghề. Chỉ có điều bây giờ biết dạy nó như thế nào đây ? Trải qua trận đòn vừa qua lẽ ra nó đã chết thẳng cẳng rồi ”
Ông lão nghĩ như vậy và hỏi Đa-ni-lô :
- Cháu là con cái nhà ai hở nhà thông thái ?
Đa-ni-lô kể cho ông lão nghe về số phận hẩm hiu của mình. Chú là một đứa trẻ mồ côi. Chú chỉ còn nhớ được lờ mờ một vài nét về mẹ, còn cha chú là ai thì chú hoàn toàn không biết. Bởi vậy người ta thường gọi chú là Đa-ni-lô mồ côi. Chú hoàn toàn không biết đến tình cha con. Chú kể tới những ngày chú lưu lạc tới nhà máy, làm việc ở nhà ăn, rồi bị người ta đuổi, rồi sau đó đi chăn bò thì lại bị đòn.
Ông lão Prô-cô-pích thương xót nói :
- Thôi đừng buồn nữa. May cho cháu đã gặp ta, ta sẽ truyền nghề cho cháu. Ở vùng ta, nghề thủ công làm đá được trọng dụng lắm.
Sau đó ông lão lại bực tức cằn nhằn :
- Đủ rồi, đủ rồi ! Nói bằng miệng chứ không phải bằng tay. Thế là chiều nay ta chẳng làm được gì. Học trò cũng vậy. Để sáng mai xem cháu học hành thế nào. Còn bây giờ hãy ngồi xuống ăn đi rồi đi ngủ.
Ông lão sống một mình. Vợ ông đã mất từ lâu. Hàng ngày có bà Mi-rô-pha-nốp-na sang dọn dẹp, nấu nướng giúp ông. Nhiều khi ông lại tự làm lấy những công việc nội trợ.
Ăn xong ông lão bảo Đa-ni-lô :
- Cháu nằm xuống chiếc ghế này ngủ đi
Đa-ni-lô đặt mình xuống, mặc dù trời đã sang thu, căn nhà khá lạnh, nhưng chú ngủ liền. Còn ông lão Prô-cô-pích thì vẫn không ngủ được. Ông vẫn nghĩ mãi câu chuyện về những đường hoa văn lúc chiều. Trằn trọc mãi không ngủ được, ông trở dậy cầm búa, thắp nến lên, ngồi đẽo theo sự góp ý của Đa-ni-lô. Quả thật dần dần đã xuất hiện những đường hoa văn tuyệt xảo.
- Ôi, chú mày như vậy mà không có người dạy dỗ. Kỳ lạ thật. Không ở trong nghề mà lại có thể chỉ bảo cho người thợ già. Đúng là chú có con mắt tinh tường, biết nhìn ra vẻ đẹp ẩn giấu trong đá.
Ông lão rón rén đi vào trong buồng, lôi ra chiếc áo long cừu đắp cho Đa-ni-lô :
- Hãy ngủ ngon, con nhé !
Ông lão không ngủ, ngồi trên chiếc thùng gỗ trầm ngâm. Ông không có con, Đa-ni-lô đã sưởi ấm trái tim ông. Ông lặng lẽ nhìn chú bé ngủ. Đa-ni-lô ngủ say sưa không hay biết gì. Ông lão lo lắng tìm cách chăm sóc chú bé để chú nhanh chóng bình phục. Ông lão nghĩ thầm : Với sức khỏe của nó như vậy, làm sao có thể học nghề thủ công nặng nhọc này. Hãy để nó nghỉ ngơi lấy lại sức đã. Sau đó hãy dạy nghề cho nó.
Sáng hôm sau, ông lão bảo Đa-ni-lô :
- Bây giờ cháu hãy giúp ông làm mấy việc vặt đã. Ông có trồng mấy luống hoa kim ngân, cháu hãy chăm sóc nó. Cháu hiểu không. Đừng có đi chơi xa quá. Cháu hãy mang bánh mì, bánh nướng tới chỗ bà Mi-rô-pha-nốp-na, nói với bà cho bình sữa rồi mang tất cả những thứ đó vào rừng cho ông.
Hôm khác ông lão lại bảo Đa-ni-lô :
- Hãy đi câu cá về đi ông, để ăn bữa chiều
Đến khi Đa-ni-lô mang cá về thì ông lão bảo không đủ, cần phải câu thêm nữa.
Cứ như vậy hàng ngày ông lão tòan giao cho Đa-ni-lô làm những công việc dễ dàng, vừa chưa vừa làm cũng xong như xúc tuyết, mang củi, ngồi đằng trước xe ngựa hoặc thủng thẳng đi bộ phía sau rồi về ăn no ngủ kĩ. Ông lão còn mua mũ ấm, áo khoác, quần dài… cho chú bé. Ông chăm sóc Đa-ni-lô như con trai của mình. Sống sung sướng ở nhà ông Prô-cô-pích, Đa-ni-lô bắt đầu bình phục và quấn quýt ông lão. Lần đầu tiên trong đời có người quan tâm thương yêu, chăm sóc đến em như vậy. Mùa đông đã tới, Đa-ni-lô càng được tự do. Em chạy chơi khắp rừng, hồ ao sông suối nhưng vẫn luôn để ý quan sát nghề chạm đá. Đa-ni-lô thường hỏi ông Prô-cô-pích về đủ mọi chuyện. Ông lão giải thích cặn kẽ và bày cho Đa-ni-lô tập làm theo mình. Cũng có lúc Đa-ni-lô tự làm, ông lão đứng cạnh xem, khi cần thì hướng dẫn cho chú làm đẹp hơn
Có một lần, viên đốc công thấy Đa-ni-lô đứng chơi cạnh bờ ao. Hắn hỏi người hầu của mình :
- Nó là con cái nhà ai đấy ? Ngày nào cũng thấy nó ra bờ ao chơi, chẳng còn bé bỏng gì nữa mà rong chơi suốt ngày. Bố mẹ nó có vẻ chiều con quá.
Khi được người hầu cho biết đó chính là thằng bé chăn bò đã bị đánh thừa sống thiếu chết dạo trước thì viên đốc công không tin :
- Hãy gọi nó tới đây để ta tự hỏi cho biết nó là con cái nhà ai !
Người ta dẫn Đa-ni-lô lại. Viên đốc công hỏi :
- Mày là con cái nhà ai ?
Đa-ni-lô trả lời :
- Cháu là học trò của ông lão thợ đá
Viên đốc công liền beo tai chú :
- Mày học hành như vậy đấy phải không ?
Rồi hắn xách tai Đa-ni-lô tới gặp ông lão Prô-cô-pích. Ông lão nhìn thấy lão đốc công lôi Đa-ni-lô tới thì hiểu ngay đã có chuyện không hay xảy ra với cậu bé. Ông lão nói :
- Tôi khó ở, thèm ăn cá nên sai cháu nó đi câu ít cá về nấu cháo ăn.
Nhưng viên đốc công không tin. Hắn thấy Đa-ni-lô đã thay đổi hoàn tòan : béo ra, ăn mặc đàng hoàng, áo sơ mi có mũ ấm lại đi giày nữa. Hắn kiểm tra Đa-ni-lô :
- Nào, hãy cho ta xe mày đã học được những gì rồi.
Đa-ni-lô khoác chiếc tạp dề vào, lại bên máy, bắt tay vào làm, sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của viên đốc công : Làm thế nào để bào nhẵn đá, cựa đá như thế nào, tiện đá ra sao, ghép đá bằng cách nào, tạo hình như thế nào làm sao để khảm đồng trên đá…. Tóm lại Đa-ni-lô đã trả lời đúng hết tất cả các câu hỏi của viên đốc công
Viên đốc công quay lại hỏi ông lão :
- Thế nào ? Chàng thợ trẻ này có lẽ đã làm gì vừa lòng ông.
- Tôi không ân hận vì đã truyền cho nó.
- Ân với chả hận. Tôi cho nó tới ông để học nghề mà ông thả nó cho đi chơi suốt ngày ở bờ ao. Hãy coi chừng đấy, ông mà còn để nó lêu lổng như vậy thì không yên với tôi đâu.
Lão đốc công dọa nạt hai thầy trò một hồi rồi bỏ đi. Ông Prô-cô-pích ngạc nhiên hỏi :
- Sao ban nãy cháu trả lời thành thạo thế ? Cháu biết những điều đó từ bao giờ. Ông đã dạy được gì cho cháu đâu ?
- Ông có dạy mà. Mỗi khi ông nói chuyện và giảng giải, cháu đều để ý quan sát và ghi nhớ ạ.
Ông lão mừng rơi nước mắt :
- Ôi con trai yêu quý của ta. Đa-ni-lô, ta còn biết dạy con cái gì nữa. Con đã tự phát hiện ra tất cả rồi.
Từ đó Đa-ni-lô không còn được chạy chơi tự do nữa. Ngay hôm sau, viên đốc công đã giao một lô việc cho Đa-ni-lô tập làm. Đầu tiên là những đồ trang sức cho phụ nữ như vòng đá đeo tay, nhẫn, sau đó là những vật đòi hỏi trình độ phức tạp hơn như giá cắm nến với những đường hoa văn khác nhau, rồi cả những bong hoa, những chiếc tráp bằng đá khổng tước nữa. Đích thân viên đốc công ngồi giám sát. Dần dần Đa-ni-lô trở nên lành nghề.
Cho tới khi Đa-ni-lô tiện được chiếc vòng tay từ nguyên khối đá cứng thì viên đốc công phải công nhận Đa-ni-lô là thợ đá lành nghề. Hắn viết thư cho ông chủ nhỏ :
" Ở chỗ chúng tôi mới có một thợ đá trẻ, đó là Đa-ni-lô mồ côi. Anh ta làm việc rất tốt, chỉ có điều còn quá trẻ nên chưa có tiếng tăm. Chúng tôi định thử giao cho anh ta những công việc giống như của Prô-cô-pích . Nếu anh ta đảm đương được, ta sẽ buộc lão Prô-cô-pích nghỉ việc. Lão ta già quá rồi"Có một lần, viên đốc công giao cho Đa-ni-lô một việc bắt phải làm xong trong năm ngày. Tuy biết Đa-ni-lô rất thành thạo công việc, nhưng ông lão Prô-cô-pích vẫn đến bên viên đốc công, nói :
- Không ai có thể làm xong việc dó trong năm ngày được. Ít nhất phải mất nửa tháng mới có thể làm xong. Dù sao nó cũng chỉ là đứa trẻ đang học việc. Vội vàng chỉ tổ làm hỏng đá mà thôi.
Viên đốc công tranh cãi một hồi với ông Prô-cô-pích rồi cũng phải đồng ý gia hạn. Đa-ni-lô làm việc không ngơi tay. Ông lão muốn cho Đa-ni-lô chóng hoàn thành công việc đã giúp chàng tiện đá, nhưng Đa-ni-lô không chịu. Chàng nói :
- Ôi, ông làm gì thế kia. Hãy trông râu ông dính đầy bụi đá, biến thành màu xanh rồi kìa. Hại cho sức khỏe của ông lắm. Ông cứ để mặc cháu. Làm hộ cháu làm gì.
Đa-ni-lô đã trở thành một chàng trai cao lớn, tóc xoắn, khéo tay và vui tính. Chàng đã làm cho khối cô gái phải để mắt đến chàng. Ông lão đã nhiều lần nói chuyện kén vợ cho chàng, nhưng lần nào chàng cũng gạt đi.
- Họ chẳng chạy đi đâu mất mà phải vội. Chờ bao giờ cháu trở thành thợ cả hẵng.
Lão chủ mỏ ra lệnh cho viên đốc công :
- Hãy sai tên học trò của lão Prô-cô-pích làm cho ta một chiếc chén có chân. Ta muốn đích thân xem xét trình độ của hắn. Ông hãy đích thân kiểm tra không cho lão Prô-cô-pích giúp đỡ hắn. Nếu ông không đích thân coi sóc việc này, có chuyện gì man trá thì ông hãy liệu hồn.
Viên đốc công liền cho gọi Đa-ni-lô tới và nói :
- Có việc cho anh rồi đây. Anh hãy làm cho ông chủ một chiếc chén có chân. Đá ta sẽ cung cấp cần bao nhiêu thì có bấy nhiêu.
Ông lão Prô-cô-pích nghe tin đó buồn rầu nghĩ :
"Bọn họ lại giở trò gì đây. " Ông lão lại gần viên đốc công định nói chuyện với hắn. Nhưng hắn chỉ nói : "Không phải việc của ông"
Đa-ni-lô đi tới bàn máy, ông lão dặn với theo :
- Cháu đừng có vội vàng mà hỏng việc. Hãy cẩn thận kẻo rước vạ vào thân.
Đầu tiên Đa-ni-lô cắt đá. Chàng thử và ước tính nhiều lần. Trong thời gian chàng làm việc, viên đốc công ngồi giám sát chàng từ sáng tới tối. Vì buồn chán, chàng phung phí sức lực, cố gắng hết sức làm xong chiếc chén. Cuối cùng, chàng đã làm xong chiếc chén. Viên đốc công xem xét kỹ lưỡng, hài lòng nói :
- Hãy làm thêm cho ta một chiếc nữa giống như vậy.
Đa-ni-lô làm thêm một chiếc, rồi lại thêm một chiếc nữa. Khi chàng làm xong chiếc thứ ba, viên đốc công mới nói :
- Bây giờ thì mày không trốn đi đâu được nữa. Tao sẽ bắt mày rời khỏi nhà lão Prô-cô-pích. Trong thư viết cho tao, ông chủ đã ấn định thời gian mày phải làm xong một chiếc, nhưng thực tế thì mày đã làm xong ba chiếc. Tao biết khả năng của mày. Mày đừng hòng lừa dối được tao. Tao sẽ cho lão già biết tay vì đã buông lỏng mày. Ông chủ sẽ thải lão, thuê người khác.
Viên đốc công viết thư và gửi ba chiếc chén cho lão chủ mỏ. Nhưng không biết vì lý do gì mà lão không trả lời.
Cuối cùng người ta cũng thả cho Đa-ni-lô về nhà, chứ không bắt hai ông cháu xa nhau nữa - bởi vì họ nghĩ có thể hai người thông minh hơn một người, hai người sẽ sớm phát minh ra cái gì mới hơn chăng.
Bỗng viên đốc công nhận được bức vẽ và thư của lão chủ mỏ. Bức vẽ vẽ một chiếc chén có chân với những đường hoa văn cầu kỳ, đế chén hình chiếc lá. Trong thư, viên chủ mỏ viết :
"Hãy làm theo đúng mẫu này, thời hạn trong năm năm phải xong"Viên đốc công lại cho gọi Đa-ni-lô đến, đưa cho anh hình vẽ và nói lại lời lão chủ : cho thả Đa-ni-lô về với ông Prô-cô-pích
Hai ông cháu vui sướng, hăng hái bắt tay vào việc. Những họa tiết của chiếc chén này rất phức tạp, nhưng Đa-ni-lô mắt tinh, tay khéo thừa sức hoàn thành chiếc chén. Tuy vậy chàng không thấy thỏai mái vì làm mất nhiều công sức mà lại chẳng đẹp. Chàng nói với ông Prô-cô-pích điều đó, nhưng ông lão chỉ ngạc nhiên nói :
- Cháu băn khoăn về việc đó làm gì. Ông đã làm ra biết bao nhiêu chiếc chén như thế, vậy mà bây giơ chúng đi đâu, ông cũng chẳng biết.
Đa-ni-lô thử nói điều băn khoăn của chàng với viên đốc công, y đùng đùng nổi giận, vung tay giậm chân nói :
- Mày có điên không đấy. Ông chủ đã phải tốn bao nhiêu tiền bạc mới thuê được người họa sĩ giỏi nhất kinh đô vẽ kiểu chiếc chén này đấy, thế mà một thằng nhóc học việc lại đòi sửa bản vẽ.
Nhưng dường như sực nhớ tới mệnh lệnh của lão chủ : cứ để mặc hai thầy trò làm việc với nhau, biết đâu họ lại chẳng nghĩ ra điều gì hay ho, hắn bèn bảo Đa-ni-lô :
- Thôi, mày hãy theo bản vẽ này mà làm cho ông chủ một chiếc chén, sau đó thì mày tha hồ mà lấy đá ở đây tạc những chiếc chén theo ý mày. Chúng tao chẳng thiếu gì đá, có khá đủ để cho mày dùng đấy, muốn lấy bao nhiêu thì tùy thích.
Từ đấy, Đa-ni-lô suốt ngày vùi đầu vào công việc tới quên ăn quên ngủ. Những người khôn ngoan trong xóm thấy vậy đâm khó chịu, buông lời gièm pha chàng, nhưng dồn hết tâm trí vào công việc mà mình yêu thích nên chàng đâu có để ý tới những lời của họ. Đêm đêm, vì trăn trở với các kiểu chén đĩa đủ loại nhảy nhót trong đầu nên Đa-ni-lô thao thức suốt đêm. không sao ngủ được. Đa-ni-lô ngồi trước bản vẽ nhưng tâm hồn chàng lại gửi vào chiếc chén của chàng. Vì quá hao tổn tâm trí nên chàng trở nên ủ rũ như tàu lá héo, thấy vậy ông lão Prô-cô-pích khuyên chàng :
- Cháu có ốm không đấy. Thôi dẹp quách cái chén đi.Tốt hơn hết, cháu hãy chạy đi đâu đó cho đầu óc thanh thản một chút, chứ ngồi ở nhà suốt ngày sẽ sinh mụ người ra đấy.
- Vâng - Đa-ni-lô thở dài - có lẽ đành phải tạm gác công việc đang làm dở lại vậy, cháu vào trong rừng một lát may ra lại có thể tìm thấy cái mình tìm.
Ngày nào Đa-ni-lô cũng dạo chơi trong rừng. Đang mùa hái quả, quả cây rừng chin đỏ mọng treo lủng lỉu trên cành.
Đa-ni-lô tha thẩn khắp rừng chàng sục sạo từng bụi cây ngọn cỏ như tìm kiếm vật gì. Dân làng vào rừng hái quả thấy lạ bèn hỏi chàng :
Chàng mỉm cười trả lời bâng quơ
- Nào có mất gì đâu, nhưng chưa tìm thấy cái mình cần. Dân làng xì xào : "Không biết cái thằng này có đâm dở người không nhỉ "
Chàng tha về nhà đủ loại hoa quả, lá cây, trong đó nhiều nhất là hoa anh đào dại, hoa cà độc dược. Cứ về tới nhà là chàng lại sà ngay vào đống đá đẽo đẽo gọt gọt cho tới sáng. Rạng sáng chàng lại trở vào rừng. Vì thiếu ngủ nên chàng trở nên thiếu sáng suốt, hoa mắt run tay. Ông Prô-cô-pích rất lo lắng cho sức khỏe của chàng, nhưng Đa-ni-lô lại chẳng lo gì cho bản thân mình mà còn nói :
- Chừng nào cháu chưa tạc xon chiếc chén vừa ý, cháu vẫn chưa thể ăn ngon ngủ yên được. Cháu phải làm kỳ được chiếc chén thật đẹp để mọi người thưởng thức vẻ đẹp của đá
Ông Prô-cô-pích băn khoăn :
- Nhưng cháu phải khổ sở đến như vậy chỉ vì một chiếc chén của lão chủ để làm gì ? Chiếc chén đẹp hay xấu thì có ích gì cho ông cháu ta đâu ? Sao cháu không làm ngay chiếc chén theo yêu cầu của ông chủ ? Việc của họ là nghĩ ra các kiểu chén và đường hoa văn trang trí, còn chúng ta thì chỉ việc làm theo đơn đặt hàng của họ.
Nhưng Đa-ni-lô vẫn khăng khăng :
- Không phải cháu cố gắng để phục vụ cho lão chủ đâu. Chỉ vì cháu không làm sao vất bỏ được những ý nghĩ về chiếc chén này, suốt ngày hình ảnh của đá cứ lởn vởn trong đầu cháu. Ông nhìn xem : Đá của quê ta đẹp biết bao, vậy mà chúng ta đã làm hỏng chúng. Chúng ta ra sức gọt giũa khắc chạm, mà kết quả sản phẩm của chúng ta chẳng ra làm sao cả. Bởi vậy cháu muốn làm sao cho mọi người thấy được vẻ đẹp và sự quyến rũ của đá.
Đa-ni-lô lại không nản chí ngồi đẽo gọt chiếc chén theo bản vẽ. Chàng vừa làm vừa nói đùa :
- Mảnh đá này có lỗ thủng, chắc là dễ khắc đường viền
Nhưng bỗng nhiên chàng lại bỏ cuộc .
Ông Prô-cô-pích khuyên cháu :
- Hay là cháu thử khắc theo hình bông cà độc dược ?
Nhưng Đa-ni-lô lại không muốn nghe lời ông. Vài ba hôm sau chàng nói với ông :
- Trước tiên cháu phải cố làm xong chiếc chén theo ý ông chủ, nhưng đến lúc ấy ông đừng cố ma ngăn cản cháu đấy. Dù sao chăng nữa thì cháu cũng không vứt được những ý nghĩ đó ra khỏi đầu.
Ông Prô-cô-pích mừng rỡ trả lời :
- Tất nhiên rồi, cháu cứ làm cho xong việc của ông chủ giao đi, để ông ấy khỏi rầy la ông cháu ta, xong rồi cháu muốn làm gì thì làm, ông sẽ không ngăn cản cháu đâu. - Tuy nói vậy nhưng ông Prô-cô-pích lại đã nghĩ : đã đến lúc phải lấy vợ cho nó rồi. Lúc đó nó sẽ quên đi ý nghĩ gàn dở hiện giờ mà để tâm vào lo cho vợ con nó.
Đa-ni-lô rất bận rộn trong suốt một năm vẫn chưa hoàn thành chiếc chén, và tưởng như chàng đã quên mất chiếc chén lý tưởng của chàng rồi
Ông già Prô-cô-pích bắt đầu thấy sốt ruột, nhắc chàng lấy vợ :
- Cháu thấy cô Kachia làng ta thế nào ? Ông thấy nó là một cô gái vừa đẹp lại vừa ngoan đấy chứ. Tại sao cháu không hỏi cưới nó hả thằng ngốc ?
Ông già nói vậy vì đã từ lâu ông nhận thấy Đa-ni-lô có cảm tình với Kachia và xem chừng cô gái cũng chẳng thờ ơ với Đa-ni-lô
Nhưng Đa-ni-lô lắc đầu :
- Cháu còn phải làm xong chiếc chén này đã, nó làm cháu phát ngấy lên rồi. Ông yên tâm, dầu sao thì cháu cũng thuyết phục được Kachia rồi, cô ấy hứa sẽ đợi cháu.
Cuối cùng thì Đa-ni-lô cũng phải làm xong chiếc chén. Tất nhiên họ không dại gì mà cho viên đốc công biết công việc hắn giao đã hoàn thành. Kachia và bố mẹ nàng cùng với hai người thợ đến nhà chàng xem chiếc chén - chàng vừa làm xong. Kachia ngạc nhiên nhìn chiếc chén :
- Chàng khắc giỏi quá. Đường hoa văn phức tạp như vậy mà chàng chạm chúng không bị mẻ chỗ nào cả.
Những người thợ khác cũng khen ngợi :
- Cháu đã làm rất cẩn thận. Đường chạm sắc sảo lắm. Không người thợ nào trong vùng có thể làm tốt hơn.
Đa-ni-lô lắng nghe những lời bình phẩm rồi nói :
- Kể ra thì các đường chạm trổ cũng tinh vi, nhưng chưa lột tả được vẻ đẹp của đá. Khi ta ngắm nhìn trái tim ta sẽ rung động trước vẻ đẹp của nó. Còn chiếc chén này thì có thể làm cho trái tim của ai rung động được. ? Người ta tìm thấy gì ở nó ? Theo như cái nhìn của Kachia thì đây chỉ là do sự khéo tay của người thợ đá mà nó không bị sứt mẻ gì mà thôi.
- Ồ, sao cháu khó tính thế, cháu còn đòi hỏi gì hơn ở một đồ vật bằng đá nhỉ ?
- Mà sao cháu lại bỗng nhiên đi so sánh một vật bằng đá với vẻ đẹp của một bông hoa ?
- Vậy thì vẻ đẹp của đá biến đi đâu. Chúng ta chạm khắc hình bông hoa trên đá, nó chỉ giống hình dáng của một bông hoa chứ đâu mang sắc thái của loài hoa. Mà đá của chúng ta mới đẹp làm sao chứ !
Chàng trở nên buồn rầu.
Những người thợ đá nhắc lại những lời mà ông Prô-cô-pích đã nhiều lần nhắc chàng :
- Đá thì vẫn chỉ là đá mà thôi. Thế cháu còn muốn biến đá thành cái gì mới được cơ chứ. Công việc của chúng ta chỉ là đẽo và chạm trổ nó theo ý khách hàng mà thôi.
Những bỗng có một cụ già xen vào cuộc tranh cãi giữa Đa-ni-lô và những người thợ. Cụ vốn là thầy dạy của ông Prô-cô-pích và những người thợ cả trong làng.
- Con thân yêu, con chớ có nên đi theo con đường đó. Hãy vứt bỏ những ý nghĩ điên rồ của con ra khỏi đầu đi, kẻo lại rơi vào bàn tay độc ác của Bà Chủ Núi Đồng đấy. Khéo lại giống những người thợ trên núi thôi.
- Những người thợ nào hả cụ ?
- À những người thợ ấy… sống ở trên núi, nhưng chẳng ai thấy họ bao giờ. Họ làm công cho Bà Chủ Núi Đồng. Tay nghề của họ thật tuyệt vời.
Mọi người trở nên tò mò hỏi :
- Cụ có nhìn thấy họ ?
- Họ ở trên núi Rắn ấy - Cụ già nói. - Ở đấy có thể nhìn thấy họ rõ như các anh nhìn thấy bàn tay của mình.
- Vậy họ như thế nào ạ ?
- Ta đã nói họ là những người thợ tuyệt vời mà. Bất kỳ người thợ nào cũng có thể nhận ngay ra những sản phẩm của họ không phải tầm thường. Trên núi Rắn của chúng ta đầy rẫy những tác phẩm của họ : nào là những người đá sống động như thật, đôi mắt, mái tóc mềm mại tinh nhanh. Đặc biệt là những bông hoa đá, chúng thật là biểu tượng của cái đẹp.
Đa-ni-lô nghe nói tới những bông hoa đá lập tức bám lấy ông lão mà hỏi rất kỹ về chúng, nhưng ông già khuyên chàng :
- Cháu chớ nên bén mảng tới đó làm gì. Ta cũng chưa nhìn thấy chúng bao giờ, nhưng có nghe nói rằng, bất kỳ ai nhìn thấy chúng thì sẽ không bao giờ còn được thấy ánh sáng mặt trời nữa.
Nhưng Đa-ni-lô bướng bỉnh nhắc lại :
- Nhất định cháu phải thấy chúng, cho dù có xảy ra chuyện gì nữa đi chăng.
Vợ chưa cưới của chàng, Kachia nghe thấy vậy sợ hãi nói :
- Anh làm sao vậy Đa-ni-lô ? Chẳng lẽ anh lại không muốn nhìn thấy ánh sáng trên đời này nữa hay sao ? - Nói rồi nàng khóc thổn thức. Ông Prô-cô-pích và những người khác cũng nhận thấy Đa-ni-lô không có vẻ gì là nói đùa bèn trách ông lão :
- Ông lão già quá lẩm cẩm rồi. Làm gì có chuyện ấy. Đó chẳng qua chỉ là câu chuyện cổ tích mà thôi
Ông lão tức giận đập bàn :
- Có những bông hoa đá. Chàng trai nói đúng sự thật : Chúng ta đang làm phí đá. Những bông hoa đá của những người thợ trên núi mới tượng trưng cho cái đẹp, mới không làm uổng phí đá.
Những người thợ mỉa mai :
- Ông già điên rồi.
Còn ông lão vẫn lẩm bẩm :
- Có những bông hoa đá….
Khách ra về từ lâu nhưng Đa-ni-lô vẫn không quên câu chuyện của ông lão. Chàng lại vào trong rừng suốt ngày để tìm những bông cà độc dược. Chàng chẳng còn nhớ mảy may gì tới đám cưới nữa, làm ông Prô-cô-pích phát bực mình :
- Thế mày có biết thương cái cô gái đã hứa hẹn với mày không đấy ? Nó còn phải làm vợ chưa cưới của mày trong bao nhiêu năm nữa hả cái thằng dở hơi kia ? Mọi người đã bắt đầu chế giễu nó, gọi nó là "bà cô" rồi đất thằng ranh con ạ.
Đa-ni-lô tự nhủ : "Ông ráng chờ thêm một thời gian nữa. Chỉ khi nào cháu làm xong chiếc chén vừa ý thì mới có thể nghĩ tới đám cưới được"
Thế rồi chàng lại lao lên Núi Đồng, ngắm nghía từng phiến đá ở đó và lẩm bẩm : "Không, không phải tấm này"
Mãi khi chàng đã bắt đầu chán nản thì bỗng nghe như có ai nói :
- Không, không phải ở đó, hãy tìm ở phía núi Rắn ấy.
Chàng nhìn quanh, chẳng có ai cả. Hay ai trêu cợt chàng rồi trốn vào đâu đó chăng. Nhưng nào có ai đâu. Chàng bắt đầu định quay về thì lại nghe thấy tiếng ai nói :
- Có nghe thấy không hả chàng thợ đá Đa-ni-lô? Tôi bảo ở núi Rắn kia mà.
Đa-ni-lô quay lại chợt nhìn thấy bóng một cô gái ẩn hiện trong làn sương mờ xanh, sau đó biến mất.
Cái gì thế ? Chẳng lẽ có ma ? Nếu ta cứ đến núi Rắn thì sẽ thấy cái gì nhỉ ?
Đa-ni-lô thuộc lòng núi Rắn như bàn tay mình. Núi Rắn cách núi Đồng không xa lắm. Ngày nay núi đó không còn nữa, nó dã bị san bằng, chứ ngày xửa ngày xưa ở đó đầy đá.
Ngay hôm sau Đa-ni-lô mò đến núi Rắn. Tuy núi không lớn lắm nhưng cao, đường lên núi dốc dựng đứng. Nhìn từ một phía, trái núi có một thung lũng nhỏ. Ở đấy có các phiến đá tòan loại hảo hạng. Không một nơi nào có đá tốt hơn đá ở đây
Đa-ni-lô lại gần thung lũng, ở đó toàn loại đá khổng tước loại tốt nhất. Có một phiến đá lớn đến nỗi Đa-ni-lô dùng cả hai tay mà không nhấc nó lên được. Đa-ni-lô ngắm nghía tấm đá đó. Nó có thể thỏa mãn được yêu cầu của chàng. Màu sắc đậm ở phần dưới có những đường vân xanh ở ngay chỗ chàng muốn, tất cả như cố tình tạo nên cho chàng dùng. Đa-ni-lô vui mừng chất phiến đá lên lưng ngựa rồi đi về nhà. Vừa về tới nhà, Đa-ni-lô đã vui mừng la lên :
- Ông nhìn xem này, cháu mang về một phiến đá đẹp tuyệt vời chưa này. Thiên nhiên dường như cố tình tạo ra tấm đá này để cháu dùng. Bây giờ thì cháu có thể bắt tay vào làm việc, sau đó sẽ cưới vợ. Có lẽ Kachia đã chờ đợi cháu lâu lắm rồi. Và đối với cháu, sự chờ đợi cũng chẳng phải dễ dàng gì. Bây giờ thì phải mau mau kết thúc công việc để còn lo đám cưới chứ, ông nhỉ ?
Đa-ni-lô bắt tay vào tiện phiến đá đẽo chạm. Chàng làm ngày làm đêm. Còn ông Prô-cô-pích thì cứ im lặng, chờ cho chàng trai bình tâm lại. Công việc tiến hành trôi chảy. Chiếc chén như hình dáng mà Đa-ni-lô đã hình dung : Dáng bông cà độc dược, chân chén là chiếc lá xòe rộng duyên dáng đỡ lấy chiếc chén. Tất cả đã được hoàn thành một cách tốt đẹp nhất. Ông Prô-cô-pích khen ngợi hết lời. Nhưng Đa-ni-lô vẫn chưa hài lòng tới mất ngủ. Chàng nghĩ nó vẫn chẳng giống bông hoa thật và lại mất đi vẻ đẹp vốn có. của những bông hoa thật. Chàng chẳng còn thiết ăn uống ngồi lỳ suốt ngày bên chiếc chén để nghĩ cách làm sao cho nó đẹp hơn. Ông Prô-cô-pích và những người thợ khác thấy vậy thắc mắc, không biết chàng trai còn cần gì nữa ? Từ trước tới nay chưa có ai trong vùng này có thể chạm được chiếc chén đẹp đến như thế này, vậy mà chàng trai vẫn không hài lòng. Chắc chàng ta mắc bệnh tâm thần rồi, cần phải chạy chữa cho chàng thôi. Kachia nghe thấy mọi người bàn tán, nàng lo sợ chạy tới vừa khóc vừa kể cho Đa-ni-lô biết những lời dị nghị.
- Thôi được - chàng nói - không làm gì thêm nữa. Có lẽ anh cũng chỉ làm được như thế là hết khả năng của mình rồi. Anh không có khả năng lột tả được vẻ đẹp của đá, đành vậy. Chúng ta chuẩn bị làm lễ cưới đi.
Nào có gì phải vội. Cô dâu đã sẵn sàng từ lâu, chỉ còn việc chọn ngày lành tháng tốt nữa thôi. Đa-ni-lô trở nên vui vẻ. Chàng chạy đi báo cho viên đốc công biết chàng đã làm xong chiếc chén theo lệnh của hắn. Hắn chạy ngay tới xem và tỏ ra rất hài lòng. Chiếc chén đẹp biết bao. Hắn muốn gửi ngay cho lão chủ, nhưng Đa-ni-lô ngăn hắn lại :
- Đợi một chút tôi còn phải sửa lại một vài họa tiết cho hoàn hảo.
Mùa thu đã tới. Và như mọi khi, đó là mùa cưới ở gần núi Rắn. Không biết tự bao giờ và do ai truyền lại rằng, cứ vào thời gian đó là bầy rắn tụ tập tại núi Rắn làm lễ cưới và những bông hoa đá cũng nở vào thời gian này. Đa-ni-lô lại nhớ đến chuyện về những bông hoa đá. Chàng nghĩ : "Hay ta cứ thử đến núi Rắn xem sao ? " Và chàng sực nhớ tới giọng nói của người đàn bà ở Núi Đồng mách chàng chỗ lấy đá cũng hình như vọng từ núi Rắn thì phải.
Và thế là Đa-ni-lô tới núi Rắn vào đúng ngày Lễ Rắn. Lúc đó mặt đất giá băng, tuyết bắt đầu rơi lất phất. Đa-ni-lô tới chỗ lần trước đã nhặt được phiến đá. Ở đó có một lỗ hổng lớn, dường như đá bị nứt ra. Nhìn thấy tảng đá xám giống chiếc ghế, chàng bèn ngồi lên đó và lại nhớ tới những bông hoa đá. Bỗng nhiên trời trở nên ấm như đang vào hè. Đa-ni-lô ngẩng đầu lên thì thấy Bà Chủ Núi Đồng ngồi ngay ở tảng đá đối diện với chàng. Chàng nhận ngay ra bà qua vẻ đẹp và trang phục của bà : "Ta tưởng tượng ra chăng. Chắc chẳng có ai đâu."
Và chàng cứ nhìn sang tảng đá bà ta ngồi, im lặng như không thấy gì. Bà Chủ Núi Đồng cũng im lặng như đang suy nghĩ điều gì, sau đó cất tiếng hỏi chàng :
- Thế nào, Đa-ni-lô vẫn không nghĩ ra chiếc chén hình bông cà độc dược à ?
- Chưa nghĩ ra.
- Chàng hãy làm cái khác đi, tôi sẽ cho chàng tấm đá khác theo mong ước của chàng.
- Không, tôi không thể làm được nhiều hơn nữa. Tốt hơn hết, bà hãy chỉ cho tôi xem những bông hoa đá của bà.
- Cho anh xem thì dễ thôi, nhưng chỉ sợ sau đó anh sẽ phải hối tiếc.
- Không cho tôi ra khỏi núi này à ?
- Việc gì tôi phải không thả cho anh về. Mọi con đường đều rộng mở, duy con đường dẫn đến chỗ tôi thì không có.
- Thôi, hãy chỉ cho tôi xem đi, bà chủ thân mến ơi.
Bà ta còn cố thuyết phục chàng từ bỏ ý nghĩ dại dột đó, nhưng chàng không chịu nghe. Bà khuyên chàng hãy cố gắng tự nghĩ ra cách đạt nguyện vọng của mình và khuyên chàng hãy thương lấy ông già Prô-cô-pích, người đã thương chàng như con đẻ, hãy nghĩ đến Kachia, người đã khóc hết nước mắt vì chàng.
- Tôi biết. Tôi biết tất cả những điều đó - Đa-ni-lô tuyệt vọng kêu lên - Nhưng thiếu những bông hoa đá thì tôi không sống nổi. Hãy cho tôi xem chúng đi.
- Thôi được, đã như vậy thì anh hãy đi theo tôi vào trong vườn.
Bà Chủ Núi Đồng nói vậy rồi đứng lên. Trời bỗng ầm ầm rung chuyển, Đa-ni-lô nhìn ra, không còn thấy vách núi xám nữa. Cây cối trong vườn xum xuê, nhưng không giống cây bình thường mà toàn là cây bằng đá. Cây thì bằng đá cẩm thạch, cây thì bằng đá rắn.... nhưng cây nào cây nấy từ chiếc lá cho đến những cành nhỏ đều bằng đá. Đá đỏ, đá xanh da trời muôn màu muôn vẻ. Tuy không có ánh mặt trời nhưng mọi vật vẫn sáng lấp lánh như trong buổi bình minh. Giữa những vòm cây, vô vàn rắn vàng đung đưa như nhảy múa, nhả ra những tia sáng lóa mắt.
Bà Chủ Núi Đồng dẫn Đa-ni-lô đến một cánh đồng nhỏ. Đất ở đây giống như đất sét trắng, nhưng phủ lên chúng là những bụi cây đen mượt như nhung. Từ những bụi cây nở ra những bông hoa chuông màu xanh lớn, mỗi bông lại được tô điểm thêm những ngôi sao đen viền ngòai cánh hoa.
Ánh sáng xanh từ những bông hoa phát ra xuyên thủng bóng đêm, còn những ngôi sao nhấp nháy như nhảy múa, như ca hát
- Nào Đa-ni-lô, anh đã nhìn thấy rồi chứ ? - Bà Chủ Núi Đồng hỏi chàng
- Tôi không có loại đá khả dĩ có thể làm ra được những bông hoa giống như những bông hoa của bà.
- Giá như anh chịu nghe lời tôi, chịu khó suy nghĩ để tìm ra kiểu hoa đá thì bây giờ tôi có thể cho anh phiến đá để từ đó anh làm ra bông hoa đá vừa ý rồi không ? Tiếc là bây giờ tôi không thể giúp anh được nữa.
Bà Chủ Núi đồng buồn rầu nói vậy rồi vỗ tay. Trời lại rung chuyển ầm ầm. Khi mở mắt ra, Đa-ni-lô đã thấy mình ngồi trên tảng đá xám như trước. Trời trở lạnh, rừng cây trút lá ào ào.
Đa-ni-lô trở về nhà. Tối hôm đó chàng đến nhà Kachia chơi như mọi bữa. Thoạt tiên chàng rất vui vẻ trò chuyện ca hát, khiêu vũ, nhưng bỗng nhiên chàng trở nên rầu rĩ đến nối nàng phát hoảng :
- Trông anh như đi đưa đám ấy. Có chuyện gì đã xảy ra với anh vậy ?
- Anh thấy đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, chẳng còn nhìn thấy gì nữa.
Cuộc hò hẹn của cặp tình nhân bất hạnh đã tan. Theo tục lệ lúc bấy giờ, vợ chưa cưới phải đưa tiễn vị hôn phu của mình về nhà. Có nhiều cô bạn gái của Kachia đi qua quãng đường trước cửa nhà Kachia và rủ họ :
- Nào hãy cùng đi với chúng tớ tới E-an-xkôi rồi hãy quay về.
Kachia nghĩ thầm : "Phải tìm cách gì để chàng vui vẻ lên."
Nàng rỉ tai điều gì đó với các bạn nàng, thế là các cô này trở nên vui nhộn, nhao nhao nói :
- Cần phải đưa tiễn chàng về nhà, dù chàng chỉ ở gần đây thôi. Chúng ta hãy hát những bài hát thật hay để tiễn biệt chàng rể tương lai chứ.
Đêm thật yên tĩnh, tuyết rơi trắng xóa, thời tiết thật thích hợp cho các cuộc dạo chơi. Họ bắt đầu đi. Các cặp vợ chồng chưa cưới thì khoác tay nhau đi sánh vai, còn các cô gái độc thân thì ngày càng ít đi, và các cô nàng tinh nghịch hát bài phàn nàn về điều này. Các cô cất giọng hát ê a như trong buổi đưa đám, nghe đến nẫu cả ruột.
Kachia bực mình nghĩ : "Thật không ngờ lũ bạn quỷ sứ lại vô tâm đến như vậy. Chàng đã buồn đến nẫu ruột, mà chúng nó lại hát rên rỉ nỉ non"
Nàng tìm cách lôi kéo Đa-ni-lô ra khỏi tâm trạng ủ dột nên nói lảng sang những chuyện khác
Nhưng Kachia đã phí công vô ích. Từ đó đến hết buổi Đa-ni-lô không tài nào vui trở lại được. Các cô gái đã kết thúc bài vãn ca, lại đùa nghịch như quỷ. Chỉ có Đa-ni-lô vẫn im lặng đi cạnh Kachia, mặc dù nàng đã tìm hết cách làm cho chàng khuây khỏa. Họ đã tới trước nhà Đa-ni-lô, mọi người ai giải tán về nhà người ấy. Còn Đa-ni-lô quên cả hôn từ biệt Kachia, cứ thế bước vào nhà.
Ông Prô-cô-pích đã đi ngủ từ lâu. Đa-ni-lô rón rén nhóm lửa lên rồi lôi những chiếc chén của chàng ra giữa nhà. Chàng cứ đứng ngây người ra mà nhìn ngắm chúng. Vừa lúc ấy ông Prô-cô-pích lại ho. Những năm gần đây, ông cảm thấy trong người không được khỏe lắm. Tiếng ho của ông như nhát dao găm đâm vào tim Đa-ni-lô, chàng cảm thấy thương ông vô hạn và thấy mình phần nào có lỗi. Ông Prô-cô-pích lại ho nữa. Chợt thức giấc, thấy Đa-ni-lô đứng giữa nhà, ông bèn hỏi :
- Sao cháu còn chưa đi ngủ, đứng đây làm gì vậy ?
- Cháu xem đã đến lúc mang cái của nợ này đi nộp chưa ?
- Lẽ ra phải đem chiếc chén đi nộp từ lâu lắm rồi mới phải. Để mãi chẳng có ích lợi gì. Cháu chẳng thể làm tốt hơn được nữa đâu
Ông còn lẩm bẩm điều gì đó rồi lại ngủ thiếp đi. Đa-ni-lô cũng đi nằm, nhưng chàng cứ trằn trọc mãi không ngủ được. Chàng lại dậy, thắp nến lên, nhìn hết chiếc chén này đến chiếc chén khác rồi lại nhìn ông. Chàng lại bên ông một lúc lâu, thở dài…
Rồi chàng cầm chiếc búa, lại gần mấy chiếc chén, vung tay đập nát chúng. Trong nháy mắt, chỉ có chiếc chén chạm trổ theo mô hình bông cà độc dược của chàng là vỡ vụn ra, còn mấy chiếc chén làm theo mô hình của lão chủ lại không hề sứt mẻ. Chàng đành để mặc chúng trong tình trạng ngổn ngang như vậy, bỏ chạy ra khỏi nhà. Từ đó không còn ai tìm thấy chàng nữa.
Có người nói chàng đã hóa điên, lang thang trong rừng, có người lại bảo chàng đã bị Bà Chủ Núi Đồng bắt về làm công cho bà ở trên núi.
Nhưng câu chuyện xảy ra tiếp lại khác hẳn với những lời đồn đại. Mời các bạn xem tiếp ở những truyện sau.