QUOTE
Ðây là bài viết của dxn ở Bidong trong nguyệt san "KHÁT VỌNG TỰ DO" do phòng Phát Triển Cộng Ðồng tại Trại tỵ nạn Pulau Bidong, Malaysia. Ðây là một phần Kinh dịch đễ giúp các bạn nghiên cứu về Tử Vi có thêm ý nghĩa. Vì còn đang học lại, nên thời gian cũng giới hạn, chỉ viết khi rảnh. Hy vọng mọi người góp ý.
Tư tưởng Ái
***
"Bình chú về quẻ Bát thuần Càn trong Kinh Dịch"
Tôi viết cho tôi qua bao biến thể sống thực nỗi chìm. Vì để nhớ ơn nhân loại,từ xa xưa đến hiện tại đã lưu lại tất cả kinh nghiệm chân tình, lý sự cho những ai biết tiếp nhận, khắc chế tự biến thông như một người bạn luôn ở bên giải thoát từng tê" vi nhẹ nhàng đễ an ủi kiếp người khốn khó
Cách đây hai ngàn năm, một người đã sống, nhưng khác hơn người là đã thuyết giảng về ba ngôi nhập thể,đễ phải đón nhận cái chết, đễ đánh dấu sự sau cùng về bao triết thuyết-ý nghĩa tối thượng,như Ấn Độ có ba ngôi, Á Đông có đạo tam tài, đó là Jesus.
Cái mà không thể sai trái gom lại là Đạo, là thời. Dùng hình thể đễ tách vạn vật ra là Trời, về phần chủ thể gọi là đế,về phần công dụng mà khoa học chưa có đủ điều kiện và yếu tố dẫn chứng nên chưa thể chứng minh, nên vẫn còn trong lãnh vực thần bí gọi là Qủi thần. Về phần tính tình đã hóa sinh muôn vật có khởi đầu mà không biết thửo nào là Trời.
Dương là cha, là vua, nguyên-hanh-lợi trinh.
nguyên: là điểm khởi nhất bắt đầu sáng tạo muôn vật,nghĩa là cả
hanh: là chặng muôn vật được dựng nên, lớn lên phát huy hanh thông, nghĩa là thông.
lợi: là muôn vật được thõa, chặng tự thành, nghĩa là nên.
trinh: là muôn vật đã thành, chính đáng và kéo dài thành qủa.
Hệ thức nguyên lý là đễ nhắc nhở, tiến trình của một thức ẩn chứa sự lành dữ.
Cho nên khi khảo cứu, người đã từng kiên trì giữ được chính đáng một cách bền vững mới có thể giữ được lợi, được trọn vẹn về sau. Duy nhất là trinh, bất trinh là bất lợi.
Thức là dẫn chứng, đễ đạo được hiện chứng tiến trình bởi ba nguyên thể nhập thể mới định rõ lẽ biến thông: (sáng-tối), gần-xa, có-không, dương-âm.
Tinh thần đi từ Tư tưởng đến Tuyệt tưởng.
Tạo vật đi từ Ái đến Ố (vui đến buồn,hiện hữu đến hư hoại "hư vô")
Bởi đó, bốn thể chính hiện ra trong qúa trình đầy vơi, nguyên là một, hạnh là sáu, lợi là bảy, trinh là tám. Bốn nguyên lý đó đáp ứng nguyên thể, nội thể
Về tinh thần có tám thức ngoài "Thể suy":
1. Tư tưởng 2. Phán Đóan 3.Đa sự 4.Thiếu chủ tính 5. Hồi xét 6.Tương giao 7.Xử lý 8. Tuyệt tưởng
Về tạo vật gồm tám thức trong "Thể khích":
1. Ái 2.Bẽ bàng 3.Nộ 4.Gàn trở 5. Truân chuyên 6. Hỉ 7. Phũ phàng 8.Ố
Thấy uy lực của "Tư tưởng" thuộc về dương, mà chủ thể lớn nhất không đo lường được nên gọi là trời, mà uy lực của trời la hiện thể của sự ban cho vô cùng tột ở "đức Ái" cho nên thức đầu được ghép thành "Tư tưởng Ái"
Rất nhỏ là lý, rất rỏ là hình thức bao quát, là trời,là mãi mãi không thể thay đổi một tính chất nào khác. Trời thì có đức Ái, nhân tính ắt phải có tình. Tám nguyên lý tinh thần ở thức ngoài, và tám nguyên lý tạo vật ở thức trong cho thành, nhân chúng lên nhau thành sáu mươi tư thức (8 thức suy x 8 thức khích bằng 64 thức).
Đây là một hệ sốvẫn còn mang tính chất ngẫu nhiên, huyền vi nhưng hàm chứa bởi thứ tự đã định có gía trị nguyên lý đễ tìm rõ bản chất thật của con người, và lại giúp cho hội lý đọc được Kinh dịch. Đễ thêm một thực nhận mà không phải hội thông họa đồ bát quái của Phục Hi hay họa đồ lạc thư (ẩn chứa bí kíp) làm hậu sinh không biết theo ai giữa Phục Hy và Văn Vương
Một con đường cũ, qúa cũ đã hao mòn theo thời gian năm tháng, nhưng kho tàng vẫn còn. Vậy nên định hướng của nó và bắt đầu bởi nguyên tắc sẵn có thì cứ theo thứ tự mà suy sẽ đến...
Đoạn một:
Ý thức cá tính cấp thiêt nhất thời đòi hỏi thay đổi, nên thường nôn nóng sẵn sàng đổi chác đễ đạt nguyện vọng,Bần tiện, thú tính đều do đây mà ra. Đạo sống ở đây: trầm luân hay giải thoát ?
Hạn chế, đè nén tâm hồn biết lắng đọng lại thì mọi việc từ từ giải quyết ổn thõa.
Tâm cô đơn càng tốt hơn vì sẽ có những kết qủa bất ngờ cho tâm hồn vững tâm vào phút cuối, giờ cuối, hoàng hôn, mùa đông, tuổi gìa.Tâm suy tư, dưỡng thần,
nghiệm xét bác ái, tha thứ, biết quên những nỗi đau lòng, tới đâu hay tới đó thì mới khắc chế được những bồi hồi, lo âu.
Thần túc thông: bay qua bay lại như chim, nhẹ nhàng khắp bốn phương, như cỡi gío mà đi, biến hóa vô cùng như 72 huyền công như ý công.
Đạo: Ơn đạo đức, xin cho đặng ơn biết việc nên làm, và việc nên lánh.
Bệnh: mất ngũ, mắt kém, sưng răng, nặng bí tiểu.
*Kinh dịch: Nguyện vọng&sỡ thích mà lòng hằng khao khát nuôi dưỡng, làm cho còn mơ ước tin tưởng hy vọng chờ đợi trong cuộc sống khi vận thời chưa đáp ứng. Mơ ước phải thực tế nằm trong tương quan, hoàn cảnh thích hợp với sở năng và thuận với người.
Khi còn ở hoàn cảnh kém sức, thua tài, chưa hội đủ điều kiện cần phải có. Phải thu thập, ôn luyện sở năng của mình, và thi thố bản lĩnh đem ứng dụng trước người đang ở thế cùng vận mạt.
Lòng tương quan dầu xót xa không đành làm ngơ, nhưng nhận thấy mình đang thất thế, không đủ sức đảm đang gánh gòng, cũng tự cảm thấy tủi hổ nhất là khi lọt vào vòng tình yêu. Dầu ở đời không ai kết án, nhưng nếu không khéo, vẫn bị ngược đãi bởi sự khinh khi, nên vẫn phải cẩn thận "thuận đạo" dù ở địa vị nào.
Đời có biết không ? nhưng không thể theo đời đễ thay đổi chí hướng, vui nết của mình, không cần ai biết, không nổi, không danh tiếng gì, trọn đời không buồn, tự tin, tự vui, chẳng được nhận là phải mà không buồn, thấy vui có thể làm thì làm, thấy phải lo thì lo, biết khó thì tránh, sự thao thủ có thế mới vững chắc, không bị nguyên cớ gì cướp nỗi. Đổi là đổi sự thao thủ chỉ có chỗ kín chỗ hở,chỗ nông chỗ sâu, lợi dụng, hiểm độc
Sống thế mà suy, chỉ nên lấy sự ngay thẳng thành thật làm nết tự mình hiểu lấy, tuy có thể hở ra ở hành động, nhưng khi thời vận, địa vị chưa thể thành được cái đã làm, bởi đó mà nên lui ẩn.
Khi cần nhận được lời khuyên của bậc uyên thâm có gía trị nội tâm. Cẩn thận, khi nghiệm đọan thì phải xét đoạn một rồi đoạn hai, có đoạn tiếp dẫn bởi đọan âm
"Khi nắng hạn, người có kho lẫm cũng không gieo trồng, thì người ít vốn,cũng không nên ra vốn, vì dưới đất sâu kiến tha, trên đất nó không mọc mà chim gà nó xơi"
Đoạn hai:
Ý thức mặc cả, tráo thở lạm dụng tình cảm tìm thõa mãn, cần được cân nhắc. Gần gũi, yếu mềm dễ bị mua chuộc, đưa đến sai lầm.
Chịu thiệt thoài qúa lắm trước, nếu vẫn không khả quan thì hãy buông tay.
Kiểm soát dư âm xa và hoàn cảnh khi không tiện tỏ bày với nhau. Cố gắng dẫu trái lòng, đễ hiểu rõ mọi tâm tư của mọi thành phần.
Hoàn cảnh đang đứng giữa hai ngã: một, được sức cứu của ân nhân (qúi nhân), hai,là bị tình cảm bào sót, đưa bao nhiêu (hết cả trái tim, hết cả tài sản ) cũng không đủ, cũng chưa đạt được kết qủa an ủi lòng. Lòng mà bị ngoại cảnh chi phối thì đã mất trinh, kể như bị ác.
Thiên nhỉ thông: lỗ tai nghe biết ngoài ngàn dặm, & hiểu được tiếng nói của muôn loài.
Đạo: Ơn sức mạnh, tránh điều lầm lẫn, bị cám dỗ.
*Kinh dịch: Trên mặt bằng cuộc sống của xả hội, phẩm chất, tính tình là điều đáng được nói đến giữa người với người, rồi mới đến khả năng chuyên biệt. Hẳn là con người không ai không mong được người có thẩm quyền biết đến đễ khai triển cho mình gặt hái được lợi, tuy nhiên, người có tư thế dịa vị cũng thế, cũng mong thấy được bề tôi tận dụng nguyên tắc khả năng đễ thành công nghiệp cho mình. Người trong thiên hạ khác nhau về sự nhận thức, cái lợi là thấy người rộng lượng có khả năng gội ơn huệ cho thiên hạ. Bởi đó ai cũng cần lấy cái lợi cho mình mà trở thành: một thường nhân, hai là qúi nhân.
Qúi nhân không có nghĩa là người có địa vị trọng yếu,giàu sang, nhưng việc làm táo bạo, đầy nghĩa khí mà người thường không thể đương nỗi. Cho nên người gặp hoàn cảnh sa sút, trực nhận mọi rắc rối không thể giải quyết được, mà gặp người có đủ điều kiện hay thẩm quyền bỗng dưng giải thoát cho mình, người đó được gọi là qúi nhân (người lớn) đang chỉ định cho cấp dưới vậy.
Có trắc trở mới thấy được quí nhân. Vì chính khi trắc trở không thể tự giải thoát thì phải nghĩ ngay đến người có sự quan tâm, đễ định đọat sự việc quan trọng của mình.
Và khi được lợi mới rõ là qúi nhân. Dẫu rằng hai môi trường khác nhau, nhưng nghĩa khí trực nhận giống nhau nên vẫn có thể cảm thông nguyện ý mà được đặc ân.
Nguyện vọng hằng mong mõi khát khao đang ẩn tàng trong nội tâm, đã đạt được trạng thái thích hợp khi bản chất điều kiện thấy tự nó đã thoát thai từ bản thể tượng hình đến biến thể chớm nở tin vui, viễn ảnh đối tượng bất thần gặp gỡ thấy được niềm an ủi giải thoát ( thóai chí) đạt điều tin tưởng yêu thích hơn, cũng như mặt trời đang lên, tuy là chưa tới giữa trời nhưng mà ánh sáng của nó không đâu không tới, vì khi đã hy sinh nhiều, chịu đựng nhiều thì gía trị của nó hẳn được bù trừ.
Tâm hồn giữ cho việc làm không sai lầm là cốt ngăn điều tà- điều tà đã ngăn thì điều thành thật sẽ còn, bởi đó phải luôn nhân định cảnh giác đễ tránh những hứa hẹn bất chợt táo bạo có thể làm thay đổi cách sống hiện hũu mà không gía trị suy diễn nhận thức hiện tình định đọat bởi thời gian. Vạch vẻ sự lợi hại cho người thấy tức là hóa được người, và làm cho mình được ngay thẳng, làm hay cho đời mà không cậy công, tức là nhận điều hay là của mình.Bấy nhiêu điều khoản là người thận trọng, tuy rằng không phải là kẻ chỉ đạo nhưng là đức của người lãnh đạo
Càng chung đụng với mọi người trong XH, thì cần phải đễ cho người nhận thấy phẩm chất tiến bộ, đầy cởi mở, tuy 0 địa vị,nhưng mà mọi người có một cảm tình ở trong lòng ho. Vì tình cảm mà bị khoảng cách, thì cha mẹ, vợ chồng, anh em với nhau cũng là địa ngục...
Học vấn, khoan nhân, mới nên tư cách của người lãnh hội cuộc sống. Học là đễ thu thập trau dồi những điều chưa biết. Học là đễ phân biệt bước tiến cho khả năng. Nó đòi hỏi nhiều ở sự cởi mở đễ chấp nhận ở được vào mọi hoàn cảnh, thực hiện được lòng tha nhân làm tròn sứ mạng thiêng liêng, đó là cách sửa đổi hoàn thiện nhân cách của cái phẩm hạnh làm cả trưởng. Tuy rằng ở tư thế tầm thường chưa được ai đặt địa vị thứ bậc như XH, nhưng được sự yểm trợ của qúi nhân cũng là điều kiện giúp cho trau dồi, có ngày đạt được nguyện ý thực hành theo lòng mong mõi của mình mà thôi.
Đạt được tâm chỉ là một bước tiến
Đạt đươ,c lòng người mới thật thực tế giải thoát ở cõi trần gian.
Đoạn ba:
Ý thức cao cả phải nhờ ở ngoại tại, vượt thông thường mới đủ thể hiện được mong mõi chờ đợi, hầu tránh mọi ràng buộc khi bị miễn cưỡng nhờ vã vay mượn. Kết qủa lợi ích mất, còn tự do trong tay do nhận thức rõ đường đi lối về, khéo xử sự dè dặt, không lôi thôi, đổ bễ, dỡ dang giữa chừng, mất của (tiền) hỏng việc, công dã tràng.
Đòi hỏi nhiều kinh nghiệm gan dạ, đủ sức phấn đấu, chẳng những lo nỗi cho mình mà còn gánh được người. Phải biết (tri túc) giới hạn, dừng lại thế nào là vừa đủ, dù chưa có cũng không sao, đễ khỏi lọt vào hậu qủa
Thiên nhãn thông: con mắt cần nhìn xa ngàn dặm, nhận rõ những vật trong bóng tối dù rất nhỏ như vi trùng. Phải biết cái hại dù nhỏ nhặt, vì nó vẫn là cái họa rất lớn
Đạo: biết lo liệu
Kinh dịch: đời vì hoàn cảnh thường không nhất định. Có người xét ra không hơn gì người, nhưng được cuộc sống thư thả hơn, là nhờ ở tiền và vật chất. Đồng
tiền có thể nâng kẻ thấp hèn trở nên sang trọng, và kẻ sang trọng xuống thấp hèn. Nếu mà thiên hạ ai nấy cũng sắp sửa chạy theo đồng tiền đủ thấy đáng lo sợ, đi đến suy dồi. Người biết sống hẳn phải lượng tất cả lương độ hiểm nghèo, thì suốt ngày đến tối cũng không dám trễ nãi, và vẫn nơm nớp lo sợ, thì dù ở chỗ hiểm nghèo cũng không có sự sai lầm và xử được mọi cách trong mọi việc làm.
Mọi hành động hay ngưng nghĩ đều nhằm với luật đời, làm việc tuy miệt mài say mê, nhưng mà cái lẽ đơn giản, dị giản không phút chốc xa rời. Chẳng qua mọi khúc chiết vẫn giữ bằng cách vô sự mà thôi. Cho dù hiện tượng có báo sắp lìa khỏi đễ chầu trời thì cũng chẳng khác trở đi trở lại với đạo
Phẩm cách con người không hẳn ở đồng tiền, mà là qúi trọng xử dụng đúng đồng tiền đúng mức của nó cần thiết. Khi mà văn tự chứng từ đã có thì chỉ cần kiểm tra kế toán mà thôi. Lòng chứa trung tín là đễ nâng thêm gía trị nguyên tắc, lựa lời nói, dốc tâm trí là đễ ở hành động xác minh sự thành thật, là khi biết chỗ cùng tột, làm được cùng tột, nguyên văn nắm vững đầu mối, cho nên mới biết rõ chỗ cuối chót ở đâu, thì mới giữ được cho đến phút cuối, đó là giữ hậu qủa mặt sau (về sau)
Kẻ mà có thể chung việc giữ nghĩa, mới có thể xây dựng ở với nhau. Người ta sỡ dĩ một chân bước lên một chân bước xuống, chỉ là tại không thực hiện bằng cách thành thật, thì còn tính toán thay đổi đi đâu được, họ chỉ là kẻ làm rối cho sự việc và hại đến người khác.
Người có chí khí, mưu sự biết chỗ kết qủa, thì mới có có thể giữ được cho đến kết qủa. Một bài học của người đã từng trãi kinh nghiệm "chỉ có thể", ấy là phương thức hành động, cho nên biết cách ở trên mà không kiêu căng, ở dưới mà không lo lắng, không vì sự chờ đợi trễ nãi mà sợ hãi dù ở chỗ hiểm nghèo.
Qủa cảm là tính chất trung tín, là một sự xét nghiệm của hành động táo bạo đã nắm vững mọi kiện năng quyết đoán, như dám thực hành tiêu sản đốt hết nhà cửa, chỉ dành những ước định tối thiểu cho mọi việc xông qua mạo hiểm hạn hẹp phong ba, ngay cho mọi người biết là phải đổi cái chết đễ tìm lấy sự sống. Qủa cảm phải có bụng ấy, đã nắm rõ cơ cấu thành niềm tin tuyệt đối. Qủa cảm đã vì lẽ phải mà cương quyết thà dám mất tất cả đễ đổi tất cả. Con số 3 là con số được ấn dịnh như không khéo thì tài sản hao mòn khô cạn 3 năm.
Trung tín là cái chủ trọng (tư. trọng) ở trong lòng, không một điều nghĩa nào không thực.
Hòan cảnh dù nguy khốn, nát lòng, mà vẫn luôn gìn giữ được sự thuận thảo, vui vẻ, lượng việc rồi mới làm, lời nói luôn giữ cho người tin, đễ việc nghĩa được
điều hòa là thủy chung luôn giữ điều chính
Nếu việc làm không kiểm tra lại, yếu lòng đễ một ý đồ nào dẫn dụ khỏa lấp chân thật thì tiến cái gì (gỡ gạt cách nào) nhất là khi chịu trách nhiệm, trước mặt phải
tối đen. Chỗ không thành thật của người ta phần nhiều là ở lời nói, xúi gạt người đễ được qua giai đoạn. Người ta thường coi lời nói không quan trọng, nhưng chỉ tích tắc nhỏ bởi kẻ không giữ lời hứa, nên mới tin lời nói ra đễ rồi trước sau cũng chết.
Nếu như mỗi câu nói ra cần phải thật, thì đó không còn gì bảo đảm uy tín hơn. Biết hoàn chỉnh nhận thức hành động thì mỗi ngày mỗi đượm sắc thái tinh tế hơn, mới thấy được nhiều nghĩa lý. Trong việc cảnh giác lời nói, kiến tạo cho gía trị thành thật, là cốt đễ kiện toàn cái trung tín đó. Nếu mà miệng không giữ lời, gặp việc là nói, thưa càn nhận ẩu, thì cái trung tín cũng bị chìm đắm trôi dạt, đứng không thể vững, thì tiến làm sao được. Nếu đã biết là không chân thật mà vẫn thi hành đi, thì cái đạo lý kia chỉ treo ở khung trời không chỗ yên đậu, thì cái gọi trung tín đó cũng là hão huyền thôi.
Đễ nắm vững điều trung tín, cần phải kiến tạo điều kinh nghiệm, cũng như đo đấu sắp sửa đễ xây căn nhà, bước vào hành động cũng như ở vào cái nhà làm sẵn, biết chỗ cùng tột rốt ráo chỉ là biết tới chỗ vượt bậc. Là đến cùng tột, nghĩa là "ý tứ" theo nó tới đấy. Biết chỗ cuối chót là biết chỗ sau rót, giữ đến chỗ cuối chót là 'ý tứ" theo nó đến đấy.
Trung tín và cảnh gíac lời nói đạt đến thành thật là những điều tất yếu. Mặt dưới biết chỗ cùng tột, biết chỗ cuối chót, chỉ khi nào nhận thực rồi mới như thế được.
Vì như gieo giống (niềm mong đợi) phải là thực có hạt giống gieo trồng trong bùn, mới có thể thấy nó ngày ngày mọc lên. Nếu không gieo xuống thì mọc sao được ? Than ôi! sống với nhau bằng sự gỉa dối thì chân ngã ở đâu ? Tại sao phải lừa nhau như thế ? Cho dù cái đạo lý trên đời kia có hão huyền đi nữa cũng còn nhận thực thấy được, thì những việc khác đời nếu chỉ tai nghe qua, cũng kiểu nói lại thì làm gì được. Đễ nắm vững tin tưởng, sỡ dĩ cần phải thật tình, nghĩa phải thực nghĩa, hiếu phải thực hiếu, tiền phải thực thấy tiền, việc phải thực thấy việc, khi bắt tay vào chấp nhận phải thực là chấp nhận. Tiến trình của nó mỗi ngày mới một tiến. Nếu mà không thực, không chứng được kết qủa, ấy là không có gốc (nó chưa có thật lòng) thì còn cho ta được cái gì? Kinh nghiệm của ngày hôm nay như thế, ngày mai có thể thuộc dần, ngày nọ mới thấy hai phần, ngày kia thấy ba bốn phần.
Ý tứ tự nhiên thấy nó khác nhau, ghi nhận viết ra cho nó quen tay, nói không quen miệng, rồi nó bay đi, bởi thế lời nói thế nào, mấu chốt vẫn là trung tín ở trên thành thực, tư cách có chừng mực, là thường như thế, không có chút nào gián đoạn.
Nguyên tắc là cái ở trong lòng, hành động là thấy ở công việc, chính nguyên tắc là ý tứ mỗi ngày một hơn, một ngày một thêm tế vi đễ co hăng hái hơn, không phải việc ở bề ngoài, chỉ là tự mình cảm thấy ý tứ khác nhau. Cho dù muốn tính toán bước tiến như thế nào cũng phải duy trì chấp nhận hiện tại trước đã. Chưa bước vào chùa tu mà lìa bỏ đời là mất đạo. Tiến không được thì phải thủ thế chờ đợi, luôn cảnh giác những điều đáng lo ngại và đề phòng mọi sự hiểm nghèo, cho nên dù nguy vẫn không đến nỗi phạm lỗi. Ngưòi biết sống theo thời lo sợ, có vật mà được hanh thai.
Gai góc của cây, móng vuốt ác thú, đều lộ ra ngoài, của người thì lại bên trong. Nắm được việc làm là biết được kết qủa, mới dám cả quyết nhận định sự trung chính.
Đoạn bốn:
Tiến trình cho dự án tương lai, khi quyết định cần kịp thời ý thức, nhận định cần tránh sai lầm qúa lớn. Cần đón nhận, bồi bổ các tài liệu cơ bản, biết tích lũy duyệt lại. Chớ nghĩ rằng dường vắng hát chơi, mà đâu biết đường vắng có người vãng lai.
Phòng xa là gía trị tuyệt đối. Không có vốn cơ bản nên tự tay xoay sở, hùn hạp hóa ra nghi kỵ với nhau mất lòng. Người cầu mình tốt hơn. Chớ tranh cãi thủ thua là tốt.
Lậu tận thông: vượt lên mọi phiền não,hoàn toàn giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, không còn bị nghiệp duyên trói buộc.
Đạo: Ơn thông minh
Kinh dịch: đời sống khi không còn thấy bước tiến cho viễn ảnh tương lai, chỉ còn lại sự gỡ gạt cầm chừng, càng xét sâu trong nội tâm th` càng thấy niềm an ủi mất hút. Cho dù một ấn tượng nào đễ còn vương vấn mọi thứ đang sống, nó là chiếc bong bóng còn đọng lại trên mặt sông, chưa vỡ tan hoà vào trong không khí. Trên không ở trời, dưới không ở bùn, giữa không ở nước, tình cảm là cái ở lại con người, cho dù còn hời hợt nhưng cũng còn có thể làm cho lòng tạm an ủi và tìm sự yên ổn. Nhưng khi bị tổn thương, lúc đó tiến lui không được, điều không thể lường, bước đi còn phải dừng chân, nhảy thì không dừng chân, dùng sự vượt lên mà lên bằng mọi cách đễ cứu gỡ tình trạng hiện hữu như bệnh cần phải chạy thuốc và cứu chữa, nhầm thuốc thì được như chân không phải đạp xuống đất mà vượt được thì lên trời, không được thì phải lắng sâu thất vọng vào nội tâm chấp nhận như cũ, tất cả ý niệm đều do mình, chỉ theo thời vận của trời mà thôi.
Đoạn năm:
Môi trường tương giao, khi môi giới cần phải biết rõ qúa trình đời sống tông tích. Đòi hỏi vui tính, nhưng chớ qúa dễ dãi, thường thì đa ngôn thiếu thực tế, đưa đến hậu qủa khó thành (nên ý tứ lời nói đầy vẻ hy sinh đạo đức). Cần dè dặt bất trắc, đột xuất, bất thần. Đề phòng trên cao, vật ở trên cao, và những kẻ bợ dựa thân thế cao. Khi cao phải có thang (là kẻ môi giới). Cần cảnh giác người cố tạo vẻ trí thức (cận thị), cần kín miệng. Trước khi hành động, cần xét khả năng, đạo đức , tiền bạc đầy đủ rồi hãy nghĩ đến thực hiện. Đĩa thì không thể đeo chân hạc. Càng cao danh vọng càng dày gian nan.
Túc mạng thông: biết được qúa khứ nghiệp chướng của mỗi người trong nhiều đời nhiều kiếp.
Đạo: ơn hiểu biết.
Kinh dịch: đem hết tinh thần đễ đạt mọi hiện thể trên đời, xem ra người ta ở trong đại vận không lúc nào không nhàn, lành, dữ, hối hận một chút không dừng, êm ả gập gềnh giống như chiếc xe bánh lớn, cứ quay tít mãi.
Người biết sống,có vẻ thản nhiên, chỉ theo với nó đễ xem đạo lý ra sao, chỗ này xử bằng đạo lý này, chỗ khi xử lý bằng đạo lý kia, không nơi nào giống nơi nào.
Người biết sống, không phải nói chuyện phiêu diêu lý tưởng, mà đã tiến lên thấu được cái lẽ nhân sinh ở đời, nên không thể chỉ thấy no đủ ở mọi mặt. Bởi đó một cá nhân chẳng làm nên một chuyện gì, khi qua mọi tương giao, người đời mới nhận rõ ra trong hỗn độn vật chất, tiền tài, danh lợi mà mọi người đang quây quần đó, vẫn có người mang nhiều thiện ý và thực tế, tuy họ không đạt được lý tưởng hòan toàn đễ bước sang lãnh vực vinh hạnh tiếng tăm, nhưng có nhiều nhiệt tình xen xẻ tài trợ tiếp ứng, đáng là một qúi nhân khích lệ trên bước tiến, khả năng còn được sinh tồn đễ nghĩ và tìm những lối thóat đáp ơn cho thiên hạ
Lo cho mọi người hơn lo cho mình, không kể hệ phái nào, túc là hành động thực sự của người biết sống, thiện ý đó không bao giờ cho phép từ chối lãnh vực ở việc có thể làm, đó là tạo nghĩa.
Người bình thường và người biết sống tìm được nguyên lý đáp ứng hợp với lẽ nhân sinh dều là nhân loại.
Tư cách của người biết sống, tức là đã làm cho mọi người đời mến mộ, người đời cũng mang những nghĩ ngợi như người biết sống, chẳng qua môi trường sống đã ràng buộc làm cho họ không thoát diễn được những ẩn trắc kín trong lòng. Loài người như nhau, ai cũng bước qua giai đoạn sống, nó là niềm cô đơn ngấm ngầm qua thời gian, biết có nó, nhưng không thể cùng nó tâm sự. Bởi thế ai mà cởi mở đúng với lòng thì chính nó đang tâm sự với mình, huống chi người cùng quan điểm (lập trường) với nhau , trên ứng và dưới tìm đến trên, lòng tốt luôn hạp với người hiền, tà mị hợp với gian tà, vô loại hợp với vô loại, cứ chậm rãi sẽ thấy mọi hoàn cảnh tự nó tìm môi trường, vị trí thích hợp mà về với nhau, nước chảy chỗ ướt, lửa bén chỗ ráo, mây theo rồng, gío theo hổ, cũng đều cùng là khí loại, bởi đó những gì chia lìa xảy đến khi mà từ chối nhau cũng bởi không cùng một bản thể.
Cũng là quí nhân nhưng ở hai giai đoạn khác nhau. Vì khi mà Tư tưởng truân chuyên, thì gười biết sống đã thể hiện hy sinh rồi mà không ai có thể phủ nhận (chối cải), vì đã có cùng sự cảm thông san sẽ được đặt trên nghĩa vụ tinh thần đễ thực hiện. Cái nghĩa khí đó được thấy là lợi là sau khi việc đã hiện thể
Người biết sống là biết rõ đầu mối hành vi của con người trước mọi sự việc, cho nên mọi việc khi xả thân, hình thức phải rõ rệt tức là phô bày cho mọi người đều
nhận biết. Sáng tỏ như mặt trời, êm dịu như mặt trăng, thâm trầm như ngôi sao, là gốc của trời. Loài sâu bọ, thú vật, cây cỏ là gốc ở đất. Dương hay âm đều theo loài của nó, người hay vật đều thế.
Gốc ở trời thì thân ở trên, phàm các động vật đầu nghoảnh lên trên là thân với trên, tức là loài người. Gốc ở đất thì thân ở dưới, phàm các thực vật đầu nghoảnh xuống dưới là thân với dưới, tức là loài cầm (chim)thú, phần nhiều đầu ngang, nên chứa đựng sự nông cạn hẹp hòi, sỡ dĩ không khôn, đó là bương ăn rồi thì cũng bay đi, không đớp lại là còn may.
Có sống thực tế với mọi thành phần, góp nhặt, nghe và nhận tất cả mọi hiểu biết, kết thành đối tượng của lòng người, mới xứng đáng làm cho ngưòi cảm mến mà tìm đến. Vì không có lòng tha nhân thì không xứng đáng đễ vào lòng người. Người biết thương yêu sẽ gặp yêu thương, người biết tha thứ sẽ gặp thứ tha. Người từ ái vẫn là người đơn sơ tầm thường bất chợt gặp trên đường mà hành động đã thay đổi tất cả sự nhận dạng của hình tướng làm tỏa rộng ánh sáng đại nhân.
Trời đất tức là đạo, qủy thần là dấu vết của tạo hóa. Hiểu được cái lẽ nhân sinh một cách nhuần nhuyễn như hàng ngày thấy mặt trời, mặt trăng, bốn mùa thì qủy thần mới hợp đạo. Lòng thật sự trống không, không danh, không lợi, không ta, không người, chỉ nghĩ đến hành động yêu thương chan hòa và tha thứ cho nhau mới đương nỗi.
Người ta, trời đất, qủy thần vốn không hai lẽ, ai cũng cầu sinh và cầu sự mát lòng, nhưng khi đối nghịch ngăn cách nhau là vì bị lấp riêng tư về bản ngã, ta là đúng, là chính phái, cho nên mắc ở hình hài mà không thể thông nhau như một; là hợp đạo thuần với trời, nhưng cha mẹ một trong hai bên đã áp chế con mình trở thành tà đạo (phản bội).
Bậc lớn đã sai lầm xúi giục con em mất đạo, mất lẽ trời. Người biết sống không có riêng tư, không thể đễ cho mắc ở hình hài mà không thể thông nhau, lấy lẽ thuần nhân làm thể, lấy tình yêu bao dung làm nền tảng. Khi nào đã có những sự kia nọ qúa lắm cớ sự trước sau mới đáng nói ra.
Vẫn yêu thương,vẫn hy sinh hành động trước mà không trái lẽ, tức là cái gì do ý làm ra vẫn hợp với đạo bằng sự chấp nhận xót xa và im lặng. Sự việc cho dù xảy ra ngoài ý muốn vẫn đành lòng, tức là biết lẽ như thế, vâng theo mà làm cho sự yên hòa mãi mãi tồn.
Đoạn sáu:
Tư tưởng ngoại tưởng được đặt thành gía trị theo đuổi thực hiện nhờ kinh nghiệm nắm vững bằng chứng cụ thể, tin ở tài năng biết biến trở, tiêu lòn, lòn lách. Chứng từ, tin tức phải được kiểm chứng qua ba hướng, giai đoạn, bảo đảm được ba chiều hướng giai đọan tới, không bộp chộp, không vội vã khước từ ngay khi một trong ba yếu tố không được xác minh rõ ràng.
Tha tâm thông: biết rõ ý muốn của người, biết rõ ý nghĩa như đọc được tất cả những gì ta suy cảm.
Đạo: ơn hiểu biết.
Kinh dịch: mơ ước vội qúa, cao qúa, phạm vào giới hạn cuối cùng đễ được đắc thời thõa mãn, là tự xa rời thực tế, tạo khó khăn cho sự đòi hỏi
Vận năng của mọi sự việc trên đời lần lượt đi lại, là then chốt đáp ứng cung cầu bất tận nhờ ở sự điều hòa định luật tự nhiên, ra ngoài sự tiên liệu tiếp dẫn cho
nên có biến cố, và khi không thể nào còn kịp thời giảm thế thì có sự ăn năn.Nếu không phải trở xuống đễ theo sự biến của chu kỳ vận chuyển thì là qúa giới hạn, đó không còn là nguyên tắc đễ có thể bền lâu mà không cùng.
Tiêu, tức, đầy, vơi, có thời sinh động là ý niệm biến hóa vận hành năng lực ở bốn thì: lặn, hiện, nhảy, bay cũng phải có những đáp ứng thích hợp với thứ tự của từng nguyên tắc môi trường, chỉ có người biết sống biết lẽ tiến, lui, còn, mất mà không phạm sai lầm, cho nên không dẫn đến giai đoạn ăn năn.
Mất tự chủ thì có hối hận, dồn nén chịu đựng tất cả chỉ là tạm thời. Mức độ mọi thực thể đều phải có gía trị xác minh. Người ta biết không thể chịu đựng lâu hơn mà đề phòng từ khi còn chưa qúa giới hạn sẽ không đưa đến ăn năn.
Đầy thì biến đổi, chiều tàn thì đêm đến. Cái lẽ thông thường nhắc nhở con người, quên nó thì phải hối tiếc. Khả năng tính toán và mưu lược của con người là chủ
thể mọi sinh biến và giai cấp. Nhưng ưu thế con người thì lại khác, vì khi đặt mình cao mà nội căn ngu dốt, chẳng khác nào người hô hào ra lệnh mà không thuộc hạ, phụ tá thân thích nào đón nhận, và khi đặt mình qúi mà không có điều kiện bảo chứng nền tảng, lập trường, vị thế đễ ngồi thì đặt đễ làm chi ?
Thà làm người hiền ngồi ở ngôi dưới, như ngồi trên đống rác vậy mà còn gía trị đáng nể, và còn được an ủi hơn người vỗ ngực uyển tưởng xưng tên. Vì biết sống thực nương vào sự hiểu biết của người và tạo quyền lợi đễ người cũng được nhờ
Võ công phải có nội lực, kinh doanh phải có tiền. Ý chí khiêu động qúa cao muốn đạt thế thượng phong và thiếu nguyên tố mãnh lực yểm trợ, cái lẽ chính đáng thuộc về quyền lợi, không cho phép con người mượn xảo trí, lập lờ khuyến dụ đễ làm thế đạp lên kẻ khác. Việc làm mà người thứ ba đã không ứng nhau, hẳn la mọi người không ưa không thể gíup, vì thế hễ hành động là có ăn năn. Những kẽ thức thời khéo xử, cho dù hoàn cảnh qúa khắt khe mà vẫn cố kềm chế không hành động gì thì cũng không đến giai đoạn ăn năn. Sự cùng cực khó khăn là thời của trời, mà ăn năn là việc của ngưòi
Con người thường chết vì cố giữ cái võ khi không còn cái ruột, không dám lột da như con rắn và thoát xác như con ve. Đi đến vay mượn là tai nạn đã bắt đầu. Vật càng sai lầm không kềm chế nỗi sẽ đi đến qúa trớn, như chiếc xe vận tốc mạnh thì xảy ra tai nạn thì sự trầm trọng càng hơn. Mặt trái lộ ra trắng trợn, không còn bão trì,bão chứng tín nhiệm tức ra cùng cực mà tai nạn đến. Vừa phải thì chẳng nói gì, nhưng qúa tỷ lệ không còn điểm tựa mà tai nạn bắt buộc phải đến, đến đễ nhờ nó kết thúc hành động sai lầm không có cách gỡ
Con đường gập gềnh loang lỗ, thì người đi trên con đường đó phải ý tứ mệt nhọc.
Ươn càn là hạng người biết được mà không biết thiệt hại, biết có mà không biết mất, biết tìm kẻ thông minh mà không biết phân tách, đễ tránh sự ngu đần. Vì vậy cho nên hễ hành động thì có ăn năn, tiến lùi, lòn lách là cách hành xử của mình. Còn mất, hổ thẹn,xấu mặt về danh dự là gía trị phẩm cách. Hành đông phải ngờ sự lộ liễu, chân chính hóa ra tồi tệ. Ở đời được thì người nhờ, hại thì mình chịu, ngã ngựa không đễ người đỡ mình là tiêu.