bidong
Oct 20 2007, 08:00 PM
Mai Thảo với thất ngôn
Mai Thảo
Mai Thảo . Một cái tên đồng nghĩa người đầu đàn tiên phong của tạp chí Sáng Tạo , người đã đi qua “ Tháng Giêng Cỏ Non “ , đi qua chặng đường dài văn xuôi đồ sộ : Truyện ngắn , tùy bút , truyện dài ; cuối cùng nhà văn trở về ăn nằm với thơ , trò chuyện với chính mình , trở về khi tuổi đã tới , trở về đồng dạng cùng tiền nhân với cấu trúc thất ngôn hương vị đậm nét cổ phong , vẫn mang hơi thở đương đại từ nội lực tiềm ẩn điều mới mẻ . Vũ Trọng Quang
KHÔNG TIẾNG
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy
DỖ BỆNH
Mỗi lần cơ thể gây th ành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện tr ò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho
Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng
TRÊN BUS
Đường xa hun hút ngủ gà gật
Nhân gian cũng gà gật theo đầu
Lúc cùng tỉnh thức cùng đi xuống
Lại hiện nguyên hình khối ngọc đau
THUNG LŨNG HOA VÀNG SAN JOSE
Xe đổ đèo đêm xuống lũng xa
Vàng đâu?Chỉ thấy tối thui và
Hoa đâu ngàn cánh nào đâu lũng
Tiếng hỏi tan vào tiếng gi ó ma
PARK
Suối ở giữa rừng,rừng giữa suối
Rừng m ênh mông lặng suối ào tuôn
Cả hai đều rất là thân thiết
Với buổi chiều ta giữa lối buồn
TRƯỚC TƯỢNG
Cha khổ hình trên gỗ đóng đinh
Nghìn sau tôi tới đứng im nhìn
Thấy trưa thả bóng từ thân tượng
Xuống nhói vai mình thánh giá in
bidong
Mar 7 2008, 06:36 AM
Mai Thảo
Nội dung thủ bút:
Sáng sớm hôm sau, một người chị hai từ trong ngõ, gánh đôi thùng nước đi ra, khi tới ngang tầm cây dạ lan thì chị ta quăng đôi thùng rú lên thất thanh.
Lủng lẳng trên một cành thấp, ông lão già đã thắt cổ tự tử.
Mai Thảo
Mai Thảo (Nguyễn Đăng Quý): Làm báo, viết văn. Sinh ngày: 8-6-1927 tại Nam Định (Bắc Việt)
Tác phẩm: Đêm giã từ Hà Nội 1956, Tháng giêng cỏ non 1957, Mái tóc dĩ vãng 1963, Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời 1964,Khi mùa mưa tới 1964, Căn nhà vùng nước mặn 1966, Sau khi bão tới 1967, Đêm lạc đường 1967, Bầy thỏ ngày sinh nhật 1968, Tới một tuổi nào 1968, Dòng sông rực rỡ 1968, Cũng đủ lãng quên đời 1968, Người thầy cũ 1968, Mười đêm ngà ngọc 1968, Chuyến tàu trên sông Hồng 1969
Mai Thảo
Và giông gió cuộc đời
Kể từ ngày dòng sông Bến Hải mang cái nhục chia đôi toàn quốc, dòng nước nhỏ nhoi kia được cả thế giới biết đến và được coi như biên thuỳ mới cho hai chế độ trong một quốc gia. Dòng sông tự nó có hay biết gì đâu, vẫn chảy êm đềm, bình dị qua những bến bờ quen thuộc trước khi đổ xuôi rồi hoà mình vào đại dương. Và nhịp cầu bắc ngang để nối liền Quốc lộ 1 cũng được sơn hai màu xanh, đỏ để phân định hai nếp sống của một dân tộc.
Từng chuyến phi cơ cất cánh từ trường bay Gia Lâm bên kia dòng Hồng Hà, trong những sớm sương mù trùm phủ xóm làng, đồng ruộng, làm mờ vóc dáng thương yêu của bờ tre, khóm chuối, của những khuôn cửa hè phố Hà Nội cổ kính. Rồi từng chuyến tàu rời bến Hải Phòng bỏ lại những nhà máy, ống khói, bỏ lại cửa biển với vịnh Hạ Long, những con người ra đi về phương Nam.
Từ ngày đó đến nay đã trên 15 năm. Thời gian đi những bước nhè nhẹ trong nhịp luân hành của vũ trụ nhưng vô cùng nhanh rộng đối với chu kỳ của một kiếp người hay những con người chưa nguôi ngoai tình quê hương.
Giữa cái nhịp sống hoang mang và bỡ ngỡ trên mảnh đất mới, Mai Thảo đột nhiên xuất hiện trên vòm trời văn nghệ như một vì sao lạ với Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp và một nhóm sinh viên di cư hiện diện trong khuôn khổ tờ Người Việt.
Nói đến Mai Thảo, tức là nói về sự bứt thoát giữa hiện tại và quá khứ, là nói đến một khoảng không gian tinh khôi, ở đây, những suy tư mới được phác lên với bao niềm tin yêu nồng cháy. Mai Thảo, nhà văn có lập trường rõ rệt. Những điều cần phải viết ra, đều được viết một cách dứt khoát, nhất là về vấn đề chống cộng trong lãnh vực văn nghệ. Bị cuộc sống đẩy vào con lộ “một chiều” giữa khung cảnh Hà Nội năm 1954, Mai Thảo đành phải lên đường, chẳng những bỏ lại thành phố Hưng Yên với căn nhà vùng nước mặn, bỏ lại quê hương mà còn đau nhất là cuộc biệt ly giữa tuổi tình yêu đọng tên hai mái tóc ngắn, dài. Cái tâm trạng u sầu đó, Mai Thảo biến thành căm thù rồi đem căm thù căng giữa lòng giấy trắng, dùng chiều sâu của suy tư để đưa nó vào một khung cảnh, một trạng huống vừa khích động vừa lôi cuốn người đọc vào ý muốn của mình.
Mai Thảo khởi hành từ Đêm giã từ Hà Nội là tác phẩm đầu tay làm quen với độc giả bằng những truyện ngắn – ở đấy – Mai Thảo ký thác rất nhiều tâm sự, thứ tâm sự chua chát của kẻ vừa đánh mất gia tài. Do đó, ngoài sự cảm thông phần nội dung của toàn tập truyện, người đọc nhận ra sự hứa hẹn về bút pháp trong tương lai của một nhà văn di cư gần ba mươi tuổi. Thực ra, Đêm giã từ Hà Nội không phải sự hiện diện thứ nhất để ghi nhận một tài năng, mà Mai Thảo đã viết từ ngày còn đi kháng chiến. Đêm giã từ Hà Nội chỉ là kết quả đầu tiên của những năm luyện tập âm thầm trong bóng tối. Cánh cửa vào đời văn chương mở ra để đón nhận Mai Thảo với nhiều bao dung ở giữa một xã hội tạm ổn định về chính trị cũng như quân sự.
Tác phẩm thứ hai của Mai Thảo, Tháng giêng cỏ non ra đời vào năm 1956, Sáng Tạo xuất bản. Tác phẩm này gồm 10 truyện ngắn đã đăng tải ở tạp chí Sáng Tạo do Mai Thảo làm chủ nhiệm. Tháng Giêng cỏ non là nhan đề truyện đầu của tập truyện. Bút pháp của Mai Thảo ở tập truyện này đã sắc, nhưng nội dung vẫn chỉ chuyên chở nội tâm với ít nhiều quá khứ trộn lẫn hiện tại.
Nói cho đúng, giai đoạn này, Mai Thảo chỉ là nhà văn tình cảm. Chính vì tình cảm chan chứa ở trong lòng nên cái được viết ra, được nói lên hoàn toàn nằm trong lãnh vực “chủ thể” với tất cả cái “tính bản thiện” hiện rõ ràng trong cách “thu xếp”, “dàn trải” cốt truyện và nhân vật. Không có sự quá độ trong văn chương cũng như ý nghĩ ở Mai Thảo. Nó chung chung. Nó không đau cái đau xé ruột mà cũng không vui cái vui hồn nhiên. Nó thoang thoảng như mùi hương thiên lý về khuya. Nó lãng đãng như phiến mây trong vòm trời bát ngát. Nó là cái cay đắng vừa phải, cái chua chát chịu được. Nó là bản chất đôn hậu trong một người có ý-thức.
Tháng Giêng cỏ non nói về một người nông dân tên Sạng bỏ vợ con vào Nam vì bị nghi làm chỉ điểm cho “Tây đoan” bắt rượu lậu trong nhà người anh em chú bác. Anh Sạng đối với tác giả có nhiều kỷ niệm. Lúc vào Nam, tác giả gặp lại Sạng thì biết anh đã có thêm một người vợ người Nam. Nay vợ con Sạng ở Bắc cũng di cư vào, sự tình trở nên rắc rối. Nhưng rồi Sạng thu xếp cho Nam Bắc một nhà, vui vẻ cả. Đây, cái lối dựng truyện của Mai Thảo cách đây hơn 10 năm nó như thế với những đoạn văn thật đẹp:
Thời gian nghiêng đi. Từ ngày gặp anh Sạng, đến nay đã được sáu tháng. Trong thành phố rộng lớn, cuộc sống tiến tới là sự kết thành của những lớp đổi thay mãnh liệt. Mỗi ngày một hình thức mới. Mỗi ngày một màu sắc mới, một tâm tình mới.
… Vậy mà mùa Xuân đã về rồi. Mùa Xuân của những ngả đường cỏ non, của những ngày khởi đầu nhung lụa, của những đợt khói hương thơm ngát trong đêm Giao Thừa, của buổi gặp lại, của ngày trở về. Mùa Xuân tự do thứ nhất ở đây vẫn chứa đựng cái hình ảnh muôn đời đôn hậu của Đoàn Viên…
(Tháng Giêng cỏ non, trang 20)
Nhưng dù cho cuộc sống mới với những đổi thay mãnh liệt đến thế nào đi nữa thì hình ảnh cũ, hình ảnh của dĩ vãng thơ mộng, hình ảnh căn gác nhỏ phố Huế với vóc dáng Lựu, người con gái bé bỏng đang chết sững trong ý nghĩ của Triệu với nhớ thương, hờn dỗi:
Gác phố Huế, không ngày…
Đau buồn đã xảy đến trong loạn ly, trong chia cách. Những lớp người thiên cổ, những ngả đường mòn. Những hình chiến luỹ. Tôi xa Lựu luôn mấy năm. Tôi nhớ Lựu nhiều nhất vào những ngày tháng đau khổ mất mát ấy. Tất cả những ngả đường nào ở đó tôi hy vọng gặp lại Lựu đều nhoà đi cái triều nối kết.
… Giữa hai cuộc đời biên giới dựng lên từ đó. Hai bờ chia cắt đứt đoạn. Bên này bên kia, hai miền đất nước nhớ thương nhau.
… Những ánh lửa viễn phố ma quái đốt cháy nội tâm tôi.
("Người bạn đường", Tháng giêng cỏ non, trang 44)
Đi từ căn gác phố Huế bước sang “Giai đoạn chị Định”, Mai Thảo đã ném suy nghĩ của mình từ một ý tư riêng tới sự vượt thoát để bày tỏ lập trường trước cuộc sống, ở đó, ý thức tự do của chị Định, nhân vật chính của truyện, đã được Mai Thảo biến thành một hy sinh cao cả.
Hồi đó chúng tôi đến Án Đổ mỗi ngày mỗi nhiều. Những đợt chỉnh huấn cải tạo của cộng sản càng rộng thì số người bỏ đi càng thêm đông đảo. Góc núi Án Đổ biến thành một thứ cứ điểm của tự do.
Đêm hôm đó tôi ngồi nói chuyện với chị Định ở bờ suối đến khuya. Đêm rừng đẹp một vẻ huyền ảo quanh tôi. Sao sáng muôn vàn trên khắp Án Đổ. Trời lạnh đặc. Sương phủ xuống trắng xóa những thành đá. Chị Định thúng thắng ho. Tôi nghĩ đến những ngày cuối cùng của chị. Đến những ống Streptomicine. Đến căn bệnh hiểm nghèo sẽ cướp mất cả chúng tôi người chị thân yêu…
Chị Định chết thật. Chị đã hy sinh cho bao nhiêu người trai trẻ bỏ vùng kháng chiến trở về thành vì không chịu đựng lâu hơn nữa sự bao vây của cách mạng với những đợt chỉnh huấn, cải tạo. Chị Định chết giữa mùa xuân. Chị không bao giờ về căn nhà cũ ở cửa Nam. Chị Định đã nằm xuống một mình trong khu vực cộng sản. Chị chết tự do. Và cũng kể từ đó “đường dây” vào thành qua vùng Án Đổ còn có ai thay chị Định?
Toàn tập truyện Tháng Giêng cỏ non ít nhiều gì cũng có dĩ vãng quẩn quanh mà Mai Thảo sử dụng dĩ vãng như bối cảnh để được tự do phóng hồn mình, phóng tâm sự mình bằng ngôn ngữ vừa chân thành vừa uất hận.
Mai Thảo viết gọn và sắc, tuy một đôi khi cố tạo nên diêm dúa để trang hoàng cho cảm nghĩ. Đó là điểm đặc biệt làm người đọc đỡ nản. Mai Thảo viết rất nhiều truyện ngắn. Ở mỗi truyện, Mai Thảo đều đưa ra một trạng huống, một hoàn cảnh để dẫn vào y trước. Ngay cả vấn đề tình yêu. Tình yêu ở trong tác phẩm của Mai Thảo không bao giờ được viết một cách thoải mái, sự thoải mái cần thiết của ngôn ngữ để chuyên chở ý tưởng dù là ý tưởng đau buồn. Mai Thảo lạnh lùng phác hoạ trong vòm cong trí tuệ từng dữ kiện hiển nhiên và mặc nhiên thừa nhận sự tình xảy ra – mà thế nào cũng xảy ra – sự níu kéo rất vô ích của nguyên vẹn, tròn đầy.
Trong Bầy thỏ ngày sinh nhật, tập truyện do Nguyễn Đình Vượng xuất bản năm 1965, chứng minh những điều trên xuyên qua cốt truyện và các nhân vật như Liễu – cô lái đò bất đắc dĩ – đã nhắm nghiền mắt, bằng một tiếng kêu ngân đi trong im lặng hoang đường xanh biếc xung quanh, nàng cho gã đàn ông phiêu bồng trong ly loạn phá vỡ cái bờ cuối cùng của đời con gái, để rồi chết tức tưởi theo con đò, trong lòng sông lạnh dưới lằn đạn của phi cơ khu trục Pháp.
Có phải chăng “tình chỉ đẹp khi còn dang dở” nên Phẩm đã ôm súng săn chờ hổ ba đêm để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi với bầy thỏ mừng đứa con đầu lòng nhân ngày sinh nhật, rốt cuộc bị hổ vồ và cả người lẫn vật đều chết. Hạnh phúc bơ vơ theo dòng nước mắt biết đến bao giờ khô?
Còn “Cái lưới an toàn” chỉ là một ích kỷ, một đè nén, một đổ vỡ ngay từ khởi đầu của tình yêu mới nhen lửa. Và những Thân, Tuần Hương, Chuẩn cùng những tiếng động đi qua ngôn ngữ trong “Chân dung thành phố” đến “Bước chân ngoài hành lang”, tất cả, tất cả đều toát ra và đẩy đến nỗi nhức nhối, buồn buồn như bệnh phong thấp của người già những hôm thay đổi tiết trời cuối năm.
Qua những truyện ngắn của Mai Thảo, người đọc hình dung thấy vùng đất đai mà Mai Thảo đã phác định và đang tiến tới đúng là “vùng đầu gió”. Ở đó, Mai Thảo đã dùng tài năng và trí tuệ để bám chặt vào mỗi phân vuông suy cảm trước khi hình thành tác phẩm. Người đọc có cảm tưởng một phần sự thực của cuộc sống đã xâm nhập vào bản thân tác giả để trở nên những ám ảnh triền miên suốt ngày, suốt tháng.
Trong Dòng sông rực rỡ cũng vậy, Mai Thảo vẫn đi tìm tình yêu, thứ tình yêu trong chia lìa chỉ vì chưa gặp được tình yêu lý tưởng như trường hợp Tuyền của “Bước đi một bước”, như trường hợp Vũ Xuân chết trần truồng bên dòng sông với lời sỉ nhục, dòng sông ở đây được Mai Thảo coi như Định Mệnh:
Phía Đông Bắc của thành phố này, mày biết không, có một vùng trời đất đêm ngày nguy nga, ở đó, ngày cũng như đêm, đất bốc hào quang, nước dồn ánh sáng, những cuộc đời hèn mọn nào cũng là sự kỳ diệu hân hoan của sao trời sa số hằng hà muôn phương họp mặt. Ở đó, mày biết không, ngày cũng như đêm, mỗi thước vuông không khí là một phiến ngực trần chói lọi thở, gió và nắng chan hoà lẫn nhau, ở đó là niềm kiêu hùng tạm vỡ cuối cùng của tạo vật, và tất cả, như thế, chỉ bởi có một dòng sông rực rỡ chảy qua. Ngày xưa hoang đường và hằng cửu của bình yên có lẽ ẩn náu ở đây, dưới thăm thẳm đáy cùng của dòng sông rực rỡ. Có lẽ. Mày, tao đi đây. Đã hết ngạc nhiên, thôi chẳng đợi chờ, cười ngất vào cuộc đời ném lại, cất bổng mình bay, tao đi đây!.
(Dòng sông rực rỡ, trang 37-38)
Đoạn văn vào truyện trên, Mai Thảo đã đưa người đọc nhập một thế giới lung linh, huyền ảo và dòng sông được dùng vừa để biểu tượng cho mệnh số vừa gây cảm giác cho cái Đẹp cuối cùng của mỗi kiếp nhân sinh.
Nói cho đúng, những truyện ngắn hay nhất của Mai Thảo đều nằm gọn trong tập Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời. Bút pháp trong tập truyện thật sống, thật sâu, thật sắc, thật gọn, thật chải chuốt. Nội dung từng câu chuyện thường thôi nhưng Mai Thảo đã dùng nghệ thuật để tạo nên từng bức tranh linh động và quý. Mai Thảo gọt từng chữ, nắn từng dòng làm cho hơi văn tuy nhẹ mà thấm, tuy dàn trải mà vẫn cô đọng. Nội dung truyện “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” không cho người đọc xác định đúng vị trí địa dư của một khu vực nào trên mặt đất. Nó chỉ là hình tượng, một cái cớ để Mai Thảo dựng những mốc xung quanh. Ngay cả nhân vật, người đọc cũng không tìm ra nguồn gốc. Nhưng cái đó không quan hệ, vì mục đích của truyện không nhằm vào nhân vật và vị trí địa dư mà chính để biểu hiệu một niềm tin, một ý chí vươn tới đỉnh-cao-đời-sống, một chán nản, một thất vọng, một tình yêu muôn thuở, chỉ có thể tìm thấy trong tưởng nhớ, trong cái Đẹp chưa bị hoen ố bởi dục vọng thấp hèn vì nàng chỉ là đứa em bé nhỏ, yếu đuối và chàng là dòng dõi một gia đình có nhiều lượng máu phiêu lưu chảy trong huyết quản.
Chàng có đôi mắt sâu như chứa đựng những hoang vu tiền sử, những đỉnh trời cao ngất không ngó thấy, những không gian buốt lạnh không có dấu chân và sự sống loài người.
Ánh lửa dị thường mỗi khi cháy lên trong đôi mắt chàng, là một lần làm tôi hoảng hốt. Chàng ôm tôi trong tay chàng mà linh hồn chàng đã ở tận đâu đâu, con mắt chàng đã nhìn một cái gì tôi không nhìn thấy.
Tôi yêu chàng như chàng vẫn vậy. Tôi chỉ biết khóc – Tôi chỉ biết nguyện cầu Đức Mẹ…
(Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời, trang 17-18-19)
Người đàn ông được gọi là chàng đã ra đi vĩnh viễn sau khi ghi nhận trên ngọn đỉnh trời, trên tầng cao nhất, bằng sự khinh thường vì nó cũng nhàm chán, không huyền bí và kiêu hãnh như khi còn ở chu kỳ mơ ước! Cuộc đời và thần tượng nghệ thuật cũng vậy. Chỉ nên đứng xa mà ngó, đủ rồi!
Tiếp nối là vóc dáng Luân đẩy lưỡi cày trên nền đất rừng cằn cỗi trong khoảng thời gian tản cư giữa vùng hậu phương trào khí thế tăng gia sản xuất để trường kỳ chống Pháp. Luân, một cô gái quê thuộc gia đình phú hào vì hoàn cảnh đã phải chịu đựng không biết đến bao giờ sự nhục nhằn của thân phận người con gái với tình yêu phất phơ trong cuộc sống nặng nề trên nền đất rừng cằn cỗi!
Cũng như thằng “Dắc”, một thằng lính Tây khốn nạn lấy vợ Việt rồi chịu bao nhiêu giày vò, hình phạt do đám người không cùng nòi giống:
Đúng thằng Dắc. Tại thằng Dắc hết. Thức ăn không có là tại thằng Dắc. Cái quán hàng này một dạo vắng ngắt là tại cái thằng trời đánh thánh vật. Tiếng mụ Năm the thé la lớn:
“Dắc! Dắc! Dắc!”
....................................
Và Dắc tỉnh dậy. Dắc bàng hoàng tỉnh dậy như từ vừa một chiếc đài hoa lớn mà tỉnh dậy, tiếng thét lanh lảnh của mụ Năm là chiếc gai buốt nhọn đâm thấu suốt đài hoa. Dắc nằm ngửa, thân thể đỏ hỏn, lông lá tênh hênh, trên chiếc giường vải gấp, thần trí chập chờn của Dắc còn vang vọng tiếng mưa lũ dạt dào dội lại từ một phương trời nào, phương trời đó ở cách đây hàng vạn cây số, mịt mùng, hoa cỏ đứng yên phăng phắc, như trên một nấm mồ, một nghĩa địa và cơn mộng dữ đã đưa linh hồn Dắc trở về đầy cái khối linh hồn đớn đau đó thức tỉnh đột ngột bởi những tiếng thét của con quỷ cái từ buồng ngoài dội vào. Thoáng hiện trong giây phút ngắn ngủi, mong manh và đã tan vỡ, đã rời gãy, những hình ảnh cũ. Đỉnh núi chất ngất. Hoa tuyết lả tả. Những cánh rừng thông bát ngát đông đặc lại trong một buổi sáng mùa đông.
(“Tiếng cười trên ấy”, Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời, trang 58).
Dắc là tên lính đánh thuê trong đoàn quân viễn chinh Pháp năm nào. Nó đã bắn giết hung bạo dể rồi chết dưới nanh vuốt của thú rừng như một con vật khốn nạn biết ăn năn.
Tập Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời gồm 10 truyện, ở đó, Mai Thảo đã dùng tài hoa của mình để phô diễn tất cả những nét tinh vi của nghệ thuật. Mỗi truyện là một tấm thảm quý với công trình điêu luyện do nghệ sĩ hình thành. Nhất là truyện “Người đàn bà trong vòng đai trắng”, với không khí của vùng đất “tề” tang tóc, khủng khiếp, với bao nhiêu lo âu, tính toán của những người “vượt đai” vào Thành, với tâm trạng của kẻ ở, người về, những ai đã trải qua cái trạng huống đó mới hiểu rõ và mới cảm thấy những gì Mai Thảo viết ra nó hoàn toàn không nằm trong lãnh vực tiểu thuyết mà nó gần với sự thực nhất, người nghệ sĩ ở đây, chỉ ghi nhận và dùng nghệ thuật để diễn tả mà thôi:
Vùng tiếp giáp giới tuyến vừa mở ra, không khí và cảnh vật đã bất thình lình đổi khác. Chúng tôi đi vào một vùng không còn một dấu tích nào của sự sống. Trên từng cây số liền, chỉ dàn ra một thứ yên lặng ghê gớm, một thứ yên lặng rợn người. Chúng tôi đi trên một vùng đất chết, một thứ nghĩa địa, một thứ sa mạc. Những ngọn cỏ đường, những hòn đá, những mô đất cũng như nín thở, chết sững trong yên lặng. Những cành cây như treo lủng lẳng trên đầu những tai biến bất ngờ. Chỗ ngoặt chỗ rẽ nào cũng như chờ rình bước chân di tới. Xó góc nào cũng như trô trố những con mắt, những nòng súng đen thẫm, những mũi kim khí nhọn hoắt. Thước đất nào cũng như chôn giấu những cạm bẫy, chỉ định sập xuống, những quả mình chỉ muốn nổ tung lên. Không khí đọng lại, gờn gợn một vẻ hằn học. Vòm trời vùng giới tuyến, những đám mây chuyển đi cũng như muốn lảng xa người…
… Không một tiếng động, không một tiếng vang, không một bóng người, vùng tiếp giáp giới tuyến không còn sự sống. Những khoảng trống trần trụi tiếp đến những khoảng hoang vu um tùm. Những cái ngõ vắng tanh, vắng ngắt hiện ra. Những căn nhà bỏ không đứng đó. Những khu vườn cỏ cao như rừng. Dấu vết chiến tranh tàn phá ghi lại đây đó một vì tường đổ gục, một đoạn đường đào, một cái ụ đất, một thân cây cụt đầu chỉ còn trơ “cái gốc cháy”, những vệt cỏ cháy xém đã xám đen lại. Một vẻ gì lạnh lẽo xuất lên từ tất cả những cái đó.
Lần đầu tiên tôi biết thế nào là thế giới cõi chết của Vòng Đai Trắng…
(“Người đàn bà trong vòng đai trắng”, Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời, trang 117-118).
Chiến tranh như thế đó. Nó hiện diện gần 10 năm ở miền Bắc nước Việt với những khu vực có những Vòng Đai Trắng là vùng đất tự do chém giết cho cả hai bên, nếu một sinh vật nào dám băng qua. Ấy thế mà những con người vẫn qua được, dù qua một cách hồi hộp, lo sợ. Mai Thảo đã viết rất đúng và ngôn ngữ ở đoạn trên gây cho người đọc nỗi hoang vắng ghê ghê của một bối cảnh chiến tranh chưa phai lạt trong tâm trí của những người di cư có mặt tại miền Nam hôm nay.
Ngoài những truyện ngắn, Mai Thảo còn tập tuỳ bút Căn nhà vùng nước mặn do nhà An Tiêm xuất bản năm 1966. Người đọc không được rõ vì lý do gì, Mai Thảo lại liệt thể văn hồi tưởng này vào thể văn tuỳ bút. Vậy tuỳ bút là gì?
bidong
Mar 7 2008, 06:37 AM
Có thể giải thích một cách đơn giản: Tuỳ bút là một thể văn được viết theo lối tuỳ hứng, không cần có cốt chuyện mà chỉ cần dùng ngôn ngữ để chuyên chở tư tưởng và ý nghĩ. Lời văn phải thật chọn lọc thật hàm súc để dùng làm biểu tượng (Symbole) cho mỗi ý nghĩ, mỗi tư tưởng ẩn giấu dưới ngôn ngữ. Do đó, tuỳ bút không thể viết dài được, nó chỉ là đoản văn. Trong những bài viết cho tờ Khởi Hành gần đây, Mai Thảo đã sử dụng phương cách viết tuỳ bút.
Tất cả những bài trong tập Căn nhà vùng nước mặn đều có nội dung rõ ràng và lời văn bình dị tiếp nối một cách thoải mái về ngôn ngữ cũng như phơi bày tâm sự. Dù sao, tập Căn nhà vùng nước mặn cũng làm người đọc thấy bâng khuâng, cái bâng khuâng rất hiền, rất đẹp của từng kỷ niệm tưởng như mất đi mà sự thực chúng vẫn tồn tại và làm cho ta nhìn thấy vùng chân trời dĩ vãng:
Tôi sẽ về thẳng một mạch. Như con chim sẻ qua hàng nghìn đỉnh cây, hàng nghìn nóc nhà vào thẳng cái tổ của nó trên kẽ mãi. Tôi đi theo sức hút của mầu nhiệm của một hình ảnh đẹp. Mỗi cây số đường gần, thấy lòng ấm nóng trở lại. Cảm động và thơ dại trở lại…
… Tôi đã về nhà tôi, tôi đã về nhà tôi. Tôi có thể im lặng nghẹn ngào cảm động đến nói không thành tiếng…
… Nó ý thức được sự có mặt của tôi. Tất cả đều nhìn thấy, nghe thấy. Những cánh cửa thông thống gió biển. Những bờ tường lênh đênh. Những lối đi có bụi phủ ngập xuống những ngày tôi cúi đầu bỏ đi. Cầu thang gác lượn vòng ở một góc tối. Những hòn ngói rêu phủ kín mặt. Căn nhà thức giấc…
… Để đuổi khỏi những hình bóng ma quái lần quất ám ảnh, tôi sẽ mở tất cả cửa sổ, mở thật rộng. Trời sáng bên ngoài. Những phiến lá bàng đỏ như son. Gió biển veo veo thổi qua. Bức mành tre phần phật nằm ngang theo chiều gió trùng trùng.
… Buổi sớm chim sẻ đánh thức tôi dậy. Tôi mặc áo xuống vườn một mình. Cỏ hoang cao và dầy. Nhiều khoảng đất trống.
… Tình cảm bay múa thì hình ảnh cũng múa cũng bay theo. Lúc đó tôi sẽ khám phá thấy, một lần nữa, rằng đời sống con người phân hóa đến đâu cũng vẫn chỉ là những khối nhỏ bé, vây chung quanh một khối lớn. Những khối nhỏ này bắt nguồn tự khối lớn ấy, cái khối lớn ấy là quê hương.
Tôi sẽ nằm gọn trong cái khối lớn ấy. Như con tằm nằm gọn trong lòng ổ kén. Như đứa trẻ ú ớ nằm trong đáy nồi…
("Căn nhà vùng nước mặn")
Tập sách gồm 8 bài, riêng bài “Căn nhà vùng nước mặn” và “Chuyến tàu trên sông Hồng” là tác động sâu vào tâm thức người đọc hơn cả.
“Chuyến tàu trên sông Hồng”, Mai Thảo viết về tuổi nhỏ, thứ tuổi nhỏ đáng yêu lồng trong khung cảnh đẹp.
Con sông Hồng Hà. Như dòng máu đỏ tươi chảy băng băng qua khắp vùng trí nhớ bâng khuâng. Con sông như một đời sống vĩ đại. Bên này bãi lở. Bên kia bãi bồi. Tiếng sóng giữa dòng trùng trùng ca hát. Tiếng sóng đập cái tiếng đập mênh mông đầu ghềnh nơi tả ngạn bị hút xoáy mãi những bãi dâu và những nương khoai vào những chân tre cù. Nơi hữu ngạn ngọn sóng hiền lành lăn tăn êm ả trên những bãi ngầm nổi hình mùa lũ này qua mùa lũ khác. Đứa nhỏ trôi theo con tàu trên dòng trường giang hùng vĩ chợt nhớ tới những con sông làng thon mềm dải lụa có trâu đầm từng đàn dưới bóng đa nghiêng…
(“Chuyến tàu trên sông Hồng”, Căn nhà vùng nước mặn, trang 81-82)
Mai Thảo có lối viết quyến rũ, dù sự việc chẳng có gì nhưng dưới ngòi bút của Mai Thảo cũng trở thành linh động. Mai Thảo viết thật nhiều, vừa làm báo vừa viết từ truyện ngắn đến truyện dài.
Ở trong các truyện dài, cái vòm trời quá khứ đầy thơ mộng và những gian nan của tâm thức với ám ảnh về Cộng sản không còn nữa. Nó bước qua giai đoạn khác, ở đây, điều kiện và hoàn cảnh đã bắt buộc nhà văn phải nhìn thẳng vào cuộc sống mà hành động.
Mái tóc dĩ vãng do Tiểu thuyết Tuần san xuất bản 1963 đã cho người đọc nhận thấy rõ ràng sự chuyển hướng đó.
Không khí trong cuốn sách là một thứ không khí thời đại với các nhân vật đợt sóng mới như anh em Quyền, Hữu như Thư như Khánh “cô ca sĩ vùng ngoại ô”, với Hiền, Loan, Francoise và phòng trà, tiệm khiêu vũ, một căn nhà nào đó có khung cảnh thuận lợi cho ái tình, một Đà Lạt, một Nha Trang và những nỗi vui buồn gục mặt.
Thoạt vào truyện, Mai Thảo đã mở ra bi thảm bằng một cuộc tự tử.
Mặt nhựa thình lình hiện ra và vùn vụt dâng lên. Loan choáng váng lùi lại. Nhưng đồng thời một sức mạnh vô hình đã nổi dậy như một tiếng cười gằn ngạo nghễ. Sức mạnh đó phóng cái bàn tay mênh mông của nó đẩy sấp người Loan về phía trước: Loan, mày phải chết, mày chỉ còn có cái chết, cái chết nguy nga, mê mẩn, rực rỡ, hãy đến với nó, đến với cái đám đông ào ào như bầy ong vỡ tổ dưới kia.
Và Loan chới với ngã xuống…
Loan đã chết. Người con gái 17 tuổi đời đã chết vì tình. Loan là biểu tượng? Là tiếng còi báo động? Là u mê? Là khôn ngoan? Là gì đi nữa, nàng cũng đã chết và quay xung quanh cái chết đó là Quyền, một gã con trai đào hoa, có người yêu là Thư đi lấy chồng rồi bỏ chồng quay về mối tình cũ. Rồi Khánh, cô ca sĩ nhà nghèo được Hữu em Quyền yêu mà lại yêu Quyền để rồi có mang, để rồi phá thai, để khóc để oán hờn trong gần suốt 300 trang sách. Rồi Hữu và Hiền với cuộc đâm chém vì tình sau thành bạn. Còn Francoise, cô đầm lai, đã một lần phá thai và chỉ chỗ cho Khánh. Tất cả, tất cả đều toát bùng lên sự đổ vỡ, sự giằng co, níu kéo thật thê thảm trong một bối cảnh ngột ngạt do tình yêu đạo diễn. Sự hư hỏng hay nỗi thất vọng ghê gớm đã tạo nên hình thức sống ấy? Nó là sự băng hoại đến tột cùng của một xã hội thiếu hướng dẫn. Nó là hiện tại hay sự phỏng đoán của nhà văn? Dù đến chung cuộc Khánh được Quyền và Francoise được Jean. Nhưng đây có phải là một lối kết “có hậu” mà các nhà văn Á Đông cần có như một giải pháp đạo đức? Cuộc đời nó không giản dị như tiểu thuyết đâu, đừng có ai trông chờ thấy lại được cái gì mình yêu quý mất đi do kẻ đánh cắp kính cẩn trao lại và còn đền bù thiệt thòi!
Từ Mái tóc dĩ vãng đến Khi mùa mưa tới, cái trục Tình Yêu vẫn xoay tít làm chóng mặt những đọc với những nhân vật thiếu thực tế và được tạo ra để giải toả ám ảnh trong nội tâm nhà văn hoặc để giải quyết một trường hợp nào đó.
Khi mùa mưa tới với Trần Hữu Phủ, một thứ “Don Juan Việt Nam” chỉ ăn chơi và tìm tình yêu trong vòng tay dục vọng. Bên cạnh đấy, hình ảnh Ngà gái có chồng rủ trai về nhà ngủ, chồng bắt gặp đưa tình nhân ra Toà, còn mình thì dùng thủ đoạn hèn nhát để chạy tội về sau vẫn sa ngã, sa ngã thật khốn nạn. Hiền em gái Lưu – luật sư đã tận tình cãi cho Phủ, vì là bạn – đã có may mắn thoát lưới một cách đau khổ. Còn Linh, cô gái miền sông Hương, núi Ngự chỉ vì hai cái ngã bất ngờ của Định Mệnh (?) đã bỏ lại gia đình phía sau, đi theo Phủ với những bước phiêu lưu của Tình Yêu.
Đó, nội dung tổng quát của Khi mùa mưa tới như thế cộng thêm cái không khí của những canh bạc và hương khói phù dung chập chờn bay lượn chung quanh nỗi vui dâm dật thác loạn ở khung cảnh khách sạn.
Rất tiếc, kỹ thuật dựng truyện dài của Mai Thảo còn có những khuyết điểm, nhất là phần kỹ thuật dựng truyện cũng như sự “liên-hệ-mắt-xích” ở mỗi chương. Trong truyện dài của Mai Thảo người đọc có thể bứt ra từng chương để đọc riêng rẽ vẫn chẳng sao, vì ở mỗi chương cũng đã hội tụ đủ mọi yếu tố để hình thành một truyện ngắn. Kỹ thuật viết truyện dài không thể, nếu chúng ta đã đọc những tác phẩm lớn của các văn hào quốc tế, chắc chắn nhận ra ngay sự liên-hệ-không-tách-được giữa các chương vì “nó” chỉ là một nhịp, trong nhiều nhịp, của cây cầu dài – toàn thể cuốn sách.
Có điều phải nhận, ngôn ngữ văn chương của Mai Thảo dù ở truyện ngắn hay truyện dài vẫn có ma lực đưa người đọc vào một không khí rất Mai Thảo.
Trong Viên đạn đồng chữ nổi, Văn xuất bản năm 1966, Mai Thảo cũng nói tới Tình Yêu nhưng nó được gắn liền với bối cảnh lịch sử trong những năm cuộc chiến Pháp – Việt đang giằng co miền đồng bằng Bắc Việt.
Khung cảnh diễn tiến cốt truyện ở một quận lỵ mà nhân vật là ông Quận, cô gái tên Nữ, tên Niệm cán bộ cộng sản. Tình ỵêu ở đây được đánh giá bằng ý thức, bằng hy sinh của Nữ cho Tình Yêu Đất Nước, bằng sự đam mê nhưng sáng suốt của Vinh trong nhiệm vụ. Nội dung có phần nào lý tưởng hóa nhân vật và hoàn cảnh, trên thực tế, đã mấy chục năm chinh chiến, chúng ta chưa tìm được một Nữ bao giờ!
Mai Thảo là nhà văn đa dạng với bút pháp văn minh. Tâm hồn Mai Thảo như một dòng sông chảy dào dạt cuốn theo bao nhiêu mầm sống luân lưu giữa lòng nó.
Trong những đoản văn viết cho tờ Khởi Hành, Mai Thảo đã ghi nhận và trình bày giá trị của suy tư qua ngôn ngữ, thứ của tuỳ bút, nó cô đọng và thật súc tích. Từng hình ảnh, từng nỗi khắc khoải, bâng khuâng, từng nỗi dày vò đến đớn đau tâm khảm, Mai Thảo đã trút xuống dòng chữ với tất cả tài hoa:
Người đời vẫn không hiểu văn nghệ sĩ là loài chim biển mở ngực đau thương lấy hết máu hồng, nuôi đời khôn lớn. Không phải thế. Máu đời đã sẵn những dòng đầy ắp trong da thịt và hình hài đời tự nó nở hoa. Văn chương khác. Nó không đến với cuộc đời như loài chim biển ấy. Tôi không có chết cho anh được sống. Chỉ là một ảo tưởng quá độ về vai trò, vị trí và lẽ phải về hiện hữu mình, những kẻ viết ra chữ, hát ra thơ, nghĩ mình là con tằm nhả tơ vàng dệt đời thành lụa, con ve sầu góp tiếng kêu cho nóng những mùa hè, chú lái khờ tặng hết những kim cương châu báu đầy tay, cho thật hết không đòi nhận lại. Có những cuốn sách có trời trong sách. Có những bài thơ có biển trong vần. Có. Nhưng nghệ thuật chỉ là cái sự nói ra, bằng một cách nào, những điều đã có. Người làm nghệ thuật không đóng một vai trò nhất định nào. Cho anh. Cho nó. Y không tạo nổi những bình minh, dựng được những mùa Xuân. Nghệ sĩ chỉ là kẻ nhắc tuồng tối tăm bình thường đứng dưới căn hầm sân khấu đó anh biết thế không?
(“Kẻ nhắc tuồng”, Khởi hành, số 4, 31-7-1969)
Đây, cái giá trị đích thực và hiển nhiên của nghệ sĩ đã được Mai Thảo quan niệm như trên. Đúng, người làm văn học nông trường không phải là Đấng Tạo Hóa chính danh để ban phát hay dựng tạo cho thế gian, cho con người những điều kiện tuyệt đối “muốn gì có nấy”. Không, kẻ làm nghệ thuật chỉ đại diện, là kẻ nhắc tuồng để hứng chịu và cam phận khi dùng tài năng của mình để tô điểm sự thật chớ không tạo ra sự thật. Cái đau là ở chỗ đó. Kẻ nghệ sĩ góp hơi sống của mình vào cái thở rộng lớn của xã hội, dân tộc, nói rộng ra nữa của nhân loại, nhưng xét cho cùng nếu không có tiếng ve sầu kêu rỉ rả thì mùa hạ vẫn theo nhịp luân hành mà hiện diện đúng theo chu kỳ thời gian hạn định mỗi năm, mỗi tháng. Có gì thay đổi đâu? Nhưng tiếng ve sầu kia là biểu tượng cho đời sống, cho sự có mặt, cho sự góp sức để hình thành sự tròn đầy của thiên nhiên chao động. Vì thế, chính vì thế, sự hiện diện của những con người làm văn học nghệ thuật giữa cuộc sống mới còn có ý nghĩa và tồn tại được.
Một màu xanh của đại dương, của vòm trời, của rặng núi phía xa, tới màu xanh của ruộng vườn bát ngát, của cánh đồng cỏ rồi đến màu xanh của đọt cây trồng hai lề hè của thành phố, tất cả các màu xanh đó tuy có khác nhau về “độ” nhưng “chất” vẫn là một, nó rộng thênh thang suốt một dải quê hương ta, có thiếu gì đâu mà sao, nó chỉ mất đi một vài hàng cây bên hè phố mà làm cho những người yêu màu xanh, màu của hy vọng hay tuổi trẻ, cảm thấy đau nhói đến giận hờn:
Những đồi cây nhỏ mới ở đâu? Hãy mọc và hãy lớn mau lên. Tơ và chỉ mới, dâu và tằm, kén vàng óng và những thảm hoa xanh nõn ở đâu? Hãy may. Hãy dệt. Cho một thành phố, cho một thời đại, hãy đặt gấp những khung cửi, dựng gấp vườn ươm, đan gấp những võng xanh, thêu gấp những áo biếc. Bởi vì nếu mỗi đời sống chúng ta là hình ảnh một đôi cây, và nếu thời đại như thành phố đang đổi thay, thì một trận lửa đốt rẫy và một liều thuốc khai quang đích thực đang hoả thiêu và đang đính dần từng bản án tử hình lên những màu xanh, những chất xanh và những tính xanh hiền hậu.
(“Tử hình cho màu xanh”, Khởi Hành, số 22, 25-9-1969)
Cái “chất” văn của Mai Thảo của thơ, rất óng chuốt như những sợi tơ tằm phơi mình trong một sớm thu có nắng vàng vừa đủ ở mỗi bản đoạn văn, trong đó, mang nặng tâm tư sầu muộn và ấp ủ trọn vẹn nỗi niềm.
Mai Thảo đi vào văn chương bằng sự trả giá của tuổi trẻ, một tuổi trẻ nhiều sóng gió hơn an hưởng. Do đó, nhìn vào toàn bộ tác phẩm của Mai Thảo, người đọc nhận ra ngay hình ảnh tác giả in rõ nét đó đây trên những trang sách. Mai Thảo là nhà văn “dấn thân” (chữ của Camus) đã dám đem thân phận con người để thách đố Định Mệnh.
Người ta nhớ vào khoảng ít năm trước nhóm Sáng Tạo đã tổ chức những buổi hội thảo về văn học về nghệ thuật để xác định thái độ và chiều hướng văn nghệ. Cuộc hội thảo được in thành sách vào năm 1965.
Nội dung thảo luận đề cập tới bốn vấn đề:
Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam
Ngôn ngữ mới trong hội hoạ
Nhân vật trong tiểu thuyết
Nói chuyện về thơ bây giờ.
Lẽ dĩ nhiên cuộc hội thảo chỉ do những người trong nhóm Sáng Tạo và một vài thân hữu của nhóm. Cuộc thảo luận thực cần thiết và hữu ích nếu mục đích của cuộc thảo luận chỉ để tạo một không khí có sự hoà đồng ý kiến để tiến tới khám phá cho sự trưởng thành của nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Nhưng rất tiếc, ngoài vấn đề tìm hướng tiến tới, nhóm Sáng Tạo lại chủ trương huỷ diệt một thời đại và dùng nó như chiếc đà cất bước. Ở đây, chúng ta chỉ cần nhắc lại ý kiến của Mai Thảo trong vấn đề văn nghệ tiền chiến.
Kiểm điểm lại nghệ thuật tiền chiến, dù chỉ là có một cái nhìn tổng quát qua các ngành nghệ thuật, bằng ít nhiều dẫn chứng cụ thể, chúng ta đủ xác định rằng: nghệ thuật tiền chiến là một thứ nghệ thuật nghèo nàn ấu trĩ. Công bình mà kết luận cho nghệ thuật đó, chúng ta có thể nêu ra hoàn cảnh xã hội, trình độ non kém của lớp người thưởng ngoạn thời đó, ý thức nhỏ hẹp của người làm nghệ thuật bấy giờ – kể cả những người tiến bộ nhất – khiến họ đã không thể thực hiện được một nền nghệ thuật vượt khỏi cái không khí tù túng của thời đại họ, cho nghệ thuật họ còn đến thế hệ chúng ta. Giá trị nghệ thuật tiền chiến do đó chỉ có thể chấp nhận như giá trị của một giai đoạn, một thời kỳ nhất định. Một thời kỳ đã qua. Và như thế, sẽ chẳng có điều gì đáng nói. Nhưng có nhiều quan niệm sai lầm, lạc hậu ở đây đã không muốn coi đó là một thứ nghệ thuật đã thuộc về quá khứ, đã chết…
Và:
Tôi muốn nêu ra đây kinh nghiệm bản thân. Tôi thẳng thắn nhận rằng tôi từng chịu đựng ít nhiều ảnh hưởng văn chương tiền chiến. Của Nguyễn Tuân, Thạch Lam. Của nhóm Xuân Thu Nhã Tập. Và coi đó như kết quả của một thời kỳ mê muội không thể tránh khỏi trong đời mình…
… Ảnh hưởng nghệ thuật tiền chiến, trên thực tế theo tôi, không còn gì. Đó là ảnh hưởng đã phai tàn của một dòng nghệ thuật đã phai tàn. Độc cái không khí của hiện tại, của ý thức nghệ thuật hôm nay đã đốt cháy tất cả những gì thuộc về nghệ thuật ấy. Ảnh hưởng, của nó nếu thực còn rớt lại chút ít cũng là một thứ ảnh hưởng giả nguỵ.
Ý kiến quyết liệt trên của Mai Thảo đối với văn nghệ tiền chiến quả thực là một nhát chém, chặt lìa cái dòng sông mà mọi người cứ đinh ninh rằng nó phải miên tục khai diễn, tiếp nối theo mỗi thời đại, mỗi thế hệ. Văn nghệ là một tự do trong những tự do tối thiểu của tinh thần con người có mặt. Vì là tự do và nhân danh tự do, nghệ thuật mới có thể tồn tại phong phú qua suốt dòng lịch sử của từng dân tộc với bao nhiêu chìm nổi, hưng phế. Và con người mặc âu phục đỏm dáng hôm nay, cũng chẳng cần phải xóa bỏ hình ảnh các bậc tiền bối ăn lông ở lỗ ở thời đại tiền sử. Trong cuộc phỏng vấn về “Vị trí của trí thức Mỹ” do tạp chí Partisan Review tổ chức, Lionel Trilling có ghi nhận: “Chúng tôi họp mặt với những người mà chúng tôi biết rõ như sống trong lớp học, chúng tôi biết có thể làm được những gì với những thói quen hiểm độc, và lần lượt khảo sát từng người xung quanh, đo lường sự rồ dại, sự vụng về của họ, rồi nói: Đó, xứ sở của tôi đấy. Đó, nền văn hóa của tôi đấy”.
Vậy những người làm văn học nghệ thuật Việt Nam có phải là những nhà trí thức không, và có đứng chung một vị trí suy tư cùng Trilling với thái độ về cuộc sống, về văn hóa?
Qua 16 tác phẩm, 15 tuổi nghề, vừa làm báo, viết văn và ngoài 40 tuổi đời, chắc giờ này Mai Thảo đã “thấm”, đã suy nghĩ về mình cùng cuộc đời còn đó. Có người nói, văn Mai Thảo thuộc phái Hiện sinh, nhưng đúng ra, Mai Thảo: nhà văn Hiện thực.
Tạ Ty
lucki
Mar 7 2008, 12:59 PM
Cám ơn bạn nhiều, ngoài những truyện sáng tác mà bạn kể trên , xin phép cho Lucki bỗ sung thêm những tác phẵm truyện dài cũa nhà văn Mai thảo mà lucki đã từng đọc qua rất hay như " Một đời còn tưởng nhớ, Bên lề giác mộng, Hạnh phúc đến về đêm, Sống chỉ một lần, Khi mùa mưa tới, Viên đạn đồng chữ nỗi , Lối đi dưới lá, sóng ngầm, mang xuống tuyền đài v....v..." Mỗi truyện đều đễ lại cho lucki những ấn tượng về mỗi khiá cạnh cũa mỗi nhân vật trong cuộc sống đời thường
bidong
Mar 20 2008, 03:15 PM
Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền [Thi tập]
Mai Thảo 1927-1998
món đất
Đất tưởng còn xa trời vẫn gần
Giờ đất đã gần trời xa dần
Khăn bàn trải sẵn cùng thân thế
Đợi chiếc khay trời món đất ăn
bến chiều
Chiếc xe trống nằm trơ giữa bến
Không người. Có chứ, bến còn ta
Cũng là trẻ mà từng muôn dặm
Giờ đã vùi thân giữa tuổi già
cục đất
Biển một đường khơi xa thẳm xa
Núi vươn trượng trượng tới mây nhoà
Thì treo cục đất tòng teng giữa
cho cái vô cùng vẫn ở hoa
thừa
Một vũng trời cao đứng bóng trưa
Nhìn lên bỗng thấy nắng mây thừa
Thừa thêm ta nữa tâm tiền tiến
mà khối đau buồn rất cổ xưa
ý thức
Sáng sáng chiều chiều óng ánh siêng năng
Như đóa vệ tinh nghìn ngày trái đất
Bay hết mặt trăng bay hết mặt trời
Đêm hoang đường nghiêng
Sáng loà sự thật
Cơn mộng dữ còn uy nghi khuôn mặt
bidong
Mar 20 2008, 03:17 PM
trên loài người cách biệt
Phi cơ bay qua Hồ Lớn Michigan
Tám ngàn trên mặt biển
Phi cơ bay qua mõm biển Long Island
Bảy ngàn trên mặt đất
Thượng tầng trời
Quan tài bay lạnh buốt như băng
Bốn trăm người ngủ hết
Việt Nam thức một mình
Một điểm thức lung linh
Trên loài người cách biệt
cành
Cành đứt lìa mong ngày ghép lại
Vào thân hồng thủy ở rừng xa
Mười lăm năm chỉ niềm mong ấy
Cháy bỏng trên từng đốt ngón ta
không tiếng
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về -dêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy
Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Vũ Khắc Khoan
ta thấy hình ta những miếu đền
Ta thấy tên ta những bảng đường
Đời ta, sử chép cả ngàn chương
Sao không, hạt cát sông Hằng ấy
Còn chứa trong lòng cả đại dương
Ta thấy hình ta những miếu đền
Tượng thờ nghìn bệ những công viên
Sao không, khói với hương sùng kính
Đều ngát thơm từ huyệt lãng quên
Ta thấy muôn sao đứng kín trời
Chờ ta, Bắc Đẩu trở về ngôi
Sao không, một điểm lân tinh vẫn
Cháy được lên từ đáy thẳm khơi
Ta thấy đường ta Chúa hiện hình
Vườn ta Phật ngủ, ngõ thần linh
Sao không, tâm thức riêng bờ cõi
Địa ngục ngươi là, kẻ khác ơi!
Ta thấy nơi ta trục đất ngừng
Và cùng một lúc trục trời ngưng
Sao không, hạt bụi trong lòng trục
Cũng đủ vòng quay phải dửng dưng
Ta thấy ta -dêm giữa sáng ngày
Ta ngày giữa tối thẳm -dêm dài
Sao không, nhật nguyệt đều tăm tối
từ thuở chim hồng rét mướt bay
Ta thấy nhân gian bỗng khóc òa
Nhìn hình ta khuất bóng ta xa
Sao không, huyết lệ trong trời đất
Là phát sinh từ huyết lệ ta
Ta thấy rèm nhung khép lại rồi
Hạ màn. Thế kỷ hết trò chơi
Sao không, quay gót tên hề đã
Chán một trò điên diễn với người
Ta thấy ta treo cổ dưới cành
Rất hiền giấc ngủ giữa rừng xanh
Sao không, sao chẳng không là vậy
Khi chẳng còn chi ở khúch quanh.
trừ tịch
Bước một mình qua ngưỡng cửa năm
Nhân gian tịch tịch tiếng mưa thầm
Chợt đâu vẳng tiếng gà lai kiếp
Báo vẫn -dêm đầy ở cõi âm
lẻ một
Sách một dẫy nằm trơ trên giá
Cạnh người thân thế cũng trơ trơ
Sách, người hai cõi cùng hư hoại
Nơi một ngàn chương thiếu một tờ
em đã hoang đường từ cổ đại
Con đường thẳng tắp con đường cụt
Đã vậy từ xưa cái nghĩa đường
Phải triệu khúc quành nghìn ngả rẽ
Mới là tâm cảnh đến mười phương
Em đủ mười phương từ tuổi nhỏ
Ngần ấy phương anh tới tuổi già
Tuổi ư ? Hồn vẫn đầy trăm gió
Thổi suốt đêm ngày cõi biếc ta
Chế lấy mây và gây lấy nắng
Chế lấy, đừng vay mượn đất trời
Để khi nhật nguyệt đều xa vắng
Đầu thềm vẫn có ánh trăng soi
Em đã hoang đường từ cổ đại
Anh cũng thần tiên tự xuống đời
Đôi ta một lứa đôi tài tử
Ngự mỗi thiên thần ở mỗi ngôi
Đừng khóc dẫu mưa là nước mắt
Đừng đau dẫu đá cũng đau buồn
Tâm em là Bụt tâm anh Phật
Trên mỗi tâm ngời một nhánh hương
tháng chạp
Một cụm mây trời đáy giếng khơi
Trôi qua đứng nắng giữa trưa đời
Tỳ tay thành giếng lòng vô hướng
Nhập với vô hình tiếng nước rơi
tín hiệu
Những hàng dây điện mắc song song
Chở những buồn vui tới khắp cùng
Đừơng dây ta mắc qua đời lạnh
Chỉ một u u tín hiệu trùng
thằng viết mướn
những trang đời viết còn giang dở
Sẽ có bàn tay ấy viết giùm
Ngón cái sang trang và ngón út
Viết giòng vuốt mắt phút lâm chung
về Virginia
tặng Ngọc Dũng
Trọn một ngày đi không hết cây
Vẫn muôn xanh lục vẫn muôn rừng
Tấm lòng nhớ bạn bay thành gió
Bốc vụt con tàu xuống cuối thang
mỗi ngày một
Mỗi ngày một gạch một ngày giam
Lên bức tường câm lạnh chỗ nằm
Gạch miết tới không còn chỗ gạch
Gạch vào trôi giạt tới nghìn năm
công việc
Việc đã làm xong việc rất nhỏ
Cũng là công việc đã làm xong
Nửa đời đã việc đời như thế
Cũng kể như lòng rất sắt son
Việc đã làm xong việc chẳng lớn
Cũng là một việc nữa làm xong
Lạ thay, chính lúc mồ hôi đổ
Là lúc bình tâm với sống còn
Việc đã làm xong chờ việc tới
Để làm cho hết đến cho xong
Năm ba phút nghỉ ngồi thong thả
Là lúc lòng riêng nhớ nước non
chuyến
điểm cuối đường sương điểm hiện dần
Hiện cùng điểm mất ở vong thân
Đáy xe, tử điểm vô hình tướng
Chết rũ theo người ở dưới chân
có lúc
Có lúc nghĩ điều này điều nọ
Cảm thấy hồn như một biển đầy
Có khi đếch nghĩ điều chi hết
Hệt kẻ ngu đần cũng rất hay
mừng tuổi
Em vẫn trăm xuân mừng tuổi mới
Tuổi của thềm sương tuổi chúng mình
Cùng lăn không tiếng về nơi ấy
Tăm cá không còn cả bóng chim
cuối năm
Tận ngữ tìm lung một tĩnh từ
Tưởng còn sót lọt ở phần thư
Đập tay điếu thuốc tàn không rụng
Đã lượng đời vơi tới đáy ư ?
tinh tướng
Những ảnh hình thân cũng thoáng qua
Người gần ta nhất cũng muôn xa
Tấm gương trước mặt nhìn trân trối
tinh vẫn còn đây tướng đã nhòa
chín cửa
Dềnh lên sau chín cửa thăng trầm
Đã tưởng trôi vào suối giải oan
Vẫn chỉ vòng gai quanh trán lửa
Thân vẫn dầm thân giữa cát lầm
nghe đất
Nằm đây dưới bóng cây xanh
Nhìn qua lá biếc lại xanh sắc trời
Mát thơm đất trải bên người
Nghe trong ẩm lạnh da người cũng thơm
Đất lên hương, thấm qua hồn
Nghe Vui thoáng đến với Buồn thoáng đi
Giữa giờ trưa nắng uy nghi
Bóng vây vây nhẹ hàng mi cúi đầu
Người nằm nghe đất bao lâu
Tai nương ngợ tiếng đời sau thở dài
Lung linh sóng nắng đan cài
Cõi Trong điệp điệp Cõi Ngoài mang mang
Chợt đâu rụng tiếng phai tàn
Rơi ngưng nửa dáng nắng vàng trôi qua
Linh hồn thiếp giữa triều hoa
Bóng hình thôi đã nhạt nhoà quanh thân
qúa khứ
Đôi lúc những hồn ma thức giấc
Làm gió mưa bão táp trong lòng
Ngậm ngùi bảo những hồn ma cũ
Huyệt đã chôn rồi lấp đã xong
một mình
Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
Tiếng người: kia, uống cái chi đây ?
Uống ư ? một ngụm chiều rơi lệ
Và một bình -dêm rót rất đầy
chỗ đặt
Đặt tay vào chỗ không thể đặt
Vậy mà -dặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
Cười tủm còn thương chỗ đặt nào
ảo thuật
Những phiến vai phơi tới nửa chừng
Nõn nà như ngọc óng như mun
Xuống thêm từng chút thêm từng chút
Ồ hóa đồi nương với suối rừng
thơ say trên máy bay
tặng mặc đỗ
Nắng rất xa xôi nắng vẫn gần
Rừng ngoài muôn dặm ở trong thân
Trăm năm gió ấy là hơi thở
Đêm vẫn về chung một chỗ nằm
Mây ở trời ta mây dáng khác
Giờ mây trời người mây vẫn mây<
Mây trong tâm thức trong hồi tưởng
cùng bay về một hướng mưa bay
Ly rượu ở lưng chừng trái đất
Trước mặt kẻ lạ uống say ngất
Ở cạnh loài người cạnh loài người
Thành khối đau thương của một đời
Tôi buồn qúa bèn rút cây bút
Cái cây bút mẹ cái cây bút
Viết không thành tiếng không thành lời
Thành những trang câm của một thời
Lúc nào cũng gọi chiêu đãi viên
Này ly nữa mấy cô chiêu đãi
Thơ tôi làm ở thượng tầng trời
Là nỗi niềm riêng của một người
Tôi vô giác với người cùng chuyến
Tôi biên giới với người cùng thuyền
Như con cá xưa như cánh bướm&
Như con thuyền trong Nam Hoa Kinh
Trang Tử, Nam Hoa, ừ thì ừ
Giữa không và có thôi và mất
Giữa bay và -dáp của -dêm nay
Huệ Tử nào đón ở dưới đất ?
Ầm ầm ỳ ỳ ầm ỳ
Sao tiếng động xui lòng nhớ lại
Nhớ thảm thê nhớ lại làm gì
Nhớ không cùng nhớ lại làm chi
Tôi tự do phơi phới một đời
Sao từng lúc lòng còn nhỏ lệ
Sự không hiểu vẫn là như thế
Như đầu thềm mỗi ánh trăng soi
Tôi bay mãi trên trời trên biển
Tưởng là tuyệt vời tưởng là vậy
Nào ngờ vô tận ở ngàn mây
Chỉ là huyễn tượng của cơn say
Cơn say ấy mang đi cùng khắp
Qua hết năm châu tới chốn cùng
Triệu câu hỏi không còn giải đáp
Trên chuyến bay chiều về Texas
Này những cuồng nộ những mặt trời
Này những tiếng người những tiếng đời
Này hãy im hết hãy lui hết
Nhìn ta say vùi xuống Texas
Máy bay đáp xuống chuyến bay đáp
Hồn bỗng thương tâm một cảnh mình
Điều chi nên vẫn là chẳng tới
Nghĩ vậy trong lòng bỗng nín thinh
Manhattan
Trọn buổi lang thang giữa phố người
Giữa rừng vô tuyến ống thu lôi
Làm thân sư tử cao ngàn trượng
Tự thuở xa rừng khóc chẳng thôi
mừng tuổi mình
Một dấu tròn to vĩ đại tròn
Là mày, mừng tuổi đó nghe con
Trong không ngoài rỗng không gì hết
Không cả không là cái số không
không hiểu
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi
Mai Thảo