Bouh
Dec 9 2008, 07:33 PM
Khi hy vọng là chút gì còn lại
by Frank O'Dea, với sự cộng tác của John Lawrence Reynolds
Selection Reader's Digest Dec 2008, pp 154 - 172
Vấp phải bực cửa, tôi suýt nữa làm rơi mất mấy đồng bạc quý giá. Tôi xoè tay ra đếm : 25 xu... 35... Tôi đếm lộn và làm lại : 50, 65, 75. Còn thiếu 25 xu. Và tôi cần 25 xu này như cần không khí. Tôi chẳng thiết chi đến đồ ăn. Tôi cần nó để đi uống rượu. Dưới cơn mưa lạnh ngắt tháng 12, tôi thấy có một anh chàng đang đi tới gần. Trạc tuổi tôi, độ 25 tuổi, mặc áo khoác có cổ lót lông thú, đi giày đẹp và cắt tóc gọn gàng. Chắc rằng 25 xu với hắn chẳng đáng bao nhiêu! Chìa tay ra, tôi bước ra ngoài cơn gió.
Trời ơi! Một chiếc xe cảnh sát vừa trờ tới. Tôi biết gã cảnh sát trong xe : một thằng mất dạy. Nó sẽ ngừng lại và đuổi tôi đi nơi khác. Tôi quay trở lại chỗ trú dưới mái hiên, nhưng tôi cũng phải ráng thử. Khi anh chàng nọ đi ngang qua, tôi nói :"Ông có chút tiền lẻ không?" Anh ta giật mình, rồi nhìn vào chiếc áo bẩn thỉu tôi đang mặc, chiếc quần đầy vết bẩn, đôi giày lủng đế. Có lẽ anh ta ngửi thấy mùi hôi của tôi cũng không chừng. Tôi cứ mặc bộ đồ này đã nhiều tuần nay. Tôi cũng chẳng nhớ là bao lâu : tôi bỏ đi không đếm nữa rồi. Không, không đúng. Chính ra tôi không muốn biết thì đúng hơn...
Ngày hôm đó, tôi đang ăn xin để có tiền mua một chai rượu và trả 50 xu tiền giường ngủ ở trung tâm cho người vô gia cư. Lúc đó là năm 1971, 30 năm trước khi tôi được ghi tên vào Order of Canada, 20 năm trước khi tôi đám cưới với một giai nhân và nàng sinh cho tôi hai đứa con gái dễ thương, 10 năm trước khi tôi kiếm được triệu bạc đầu tiên và đúng 1 tuần trước khi tôi quyết định phải thay đổi cách sống hay là chịu chết.
Nhưng trước hết tôi hãy tả cho bạn nghe bức tranh tuyệt đẹp của gia đình tôi. Đó là vào những năm 1950, cái thời mà gia đình rất quan trọng và "Bố lúc nào cũng đúng". Bố tôi là một người dễ mến, là túi khôn cho các con của ông. Ông kiếm được nhiều tiền lắm, ông lái xe đời mới, ở trong một ngôi nhà lớn với một người phụ nữ ngưỡng mộ ông. Gia đình tôi có một con chó và các tủ chạn đầy ắp thức ăn. Chúng tôi đi lễ đều đặn ngày chủ nhật và mỗi mùa hè đi nghỉ mát bên bờ hồ.
Tôi là đứa thứ hai trong bốn người con, và cuộc sống của tôi cũng tuyệt vời như trong truyền hình. Nhưng "Bố lúc nào cũng đúng" là một sản phẩm của Hollywood, và nếu cuộc sống của chúng tôi ở số 116, đại lộ Ballantyne trong vùng Montreal-Ouest nhìn bề ngoài giống hệt như vậy, thực ra nó chỉ là ảo tưởng mà thôi.
Bố tôi là giám đốc một nhà máy sản xuất sơn. Ông là một người tốt, thông minh và siêng năng. Tôi thương ông lắm và tôi biết ông cũng thương tôi. Chỉ có điều ông không biết bày tỏ thôi. Ông không thích biểu lộ cảm tình, cũng không diễn đạt suy nghĩ của mình với con cái và cũng không hỏi xem con cái nghĩ gì. Chỉ có lời nói của ông là lời quyết định. Đây không phải là sự ngạo mạn, chỉ đơn giản là ông tin tưởng vai trò của cha mẹ là truyền lại sự khôn ngoan và kiến thức cho con cái. Bố là người nói cho chúng tôi biết cái gì đúng và cái gì sai.
Cũng như phần lớn những người Quebec nói tiếng Anh vào thời đó, ông cho rằng người nói tiếng Anh là người có đẳng cấp cao hơn. Ông có thích những người nói tiếng Pháp ở chung quanh mình, trong đó có mẹ tôi, nhưng tôi biết trong thâm tâm ông vẫn cho rằng người nói tiếng Anh là ở tầng lớp cao hơn.
Mẹ tôi ngưỡng mộ ông và vui thích sống dưới bóng của ông. Không phải chỉ vì bà yêu ông, nhưng bây giờ tôi hiểu cũng vì bà biết ơn ông. Một người nói tiếng Anh vị trí cao chịu chọn bà làm vợ, bà, một người nói tiêng Pháp nhỏ bé tầm thường.
Bố tôi là vị hôn phu mơ ước, là người chồng lý tưởng, và mẹ tôi không bao giờ quên điều đó. Bà chỉ có một tham vọng duy nhất là làm một người vợ hoàn hảo, giữ cho nhà cửa ngăn nắp, làm cho ông các món ăn ngon, giặt giũ và ủi quần áo cho ông, chia sẻ giấc mơ của ông. Nhưng việc làm mẹ của các đứa con ông không nằm trong đó. Bà không thích cái trách nhiệm này. Chẳng bao giờ bà ôm chúng tôi, bà không để ý gì đến việc học hành của chúng tôi, và không thích chúng tôi ở chung quanh chút nào. Giữa cái khô khan của bố và cái lạnh lùng của mẹ, chúng tôi, những đứa con, lúc nào cũng có cảm giác là người thừa thãi.
Cái kỷ niệm tuổi thơ mạnh nhất của tôi, đó là cái cảm giác cô độc, tồi tệ hơn cảm giác của đứa con duy nhất. Đó là cảm giác lớn lên giữa những người xa lạ, với cha mẹ không biểu hiện ra cái tình yêu vô hạn mà đứa trẻ nào cũng cần. Vậy mà bố tôi thương tôi. Tôi biết thế.
Bouh
Dec 9 2008, 08:02 PM
Điều đầu tiên tôi học của ông là tầm quan trọng của việc bỏ thời gian vào đời sống cộng đồng. Là thành viên nhiều năm trong hội đồng thành phố vùng Montreal-Ouest, ông cũng rất tích cực trong việc vận động bầu cử. Lúc tôi 12 tuổi, vào một ngày đầu phiếu, ông khuyến khích tôi nghỉ học để đi vận động tranh cử với ông cho ứng cử viên đảng bảo thủ trong khu vực. Bố nói đây là dịp tốt để bắt đầu tham gia vào hoạt động chính trị. Với tôi, trên hết đây là dịp may để ở nguyên ngày với bố và được ông chú ý.
Khi tôi tới khu vực bầu cử, người ta bảo tôi đi theo một thiện nguyện viên có trách nhiệm chở những người ủng hộ đến chỗ bỏ phiếu. Đó là một phụ nữ đẹp, khoảng 35 hay 40 tuổi. Trước khi nổ máy xe bà cười nói với tôi : "Vậy là nguyên ngày nay mình sẽ ở chung với nhau!" Bà có vẻ thích tôi lắm. Tôi lớn con vạm vỡ hơn tuổi và tôi cũng chú ý chăm sóc bề ngoài. Chắc bà tưởng tôi lớn hơn 12? Dù gì đi nữa, sự chú ý của bà làm tôi hãnh diện lắm.
Khi đóng thùng phiếu, không khí hội hè bừng lên. Ứng cử viên của chúng tôi thắng áp đảo, cũng như đa số các ứng cử viên đảng bảo thủ trong nước. Mỗi khi có tuyên bố thắng cuộc, người ta la lớn và rượi được chuyền tay khắp nơi.
Vào khoảng 22 giờ, tôi đang đợi bố chở về nhà thì thấy bà cùng nhóm đi tới, lắc lư vì rượu cũng như vì đôi giày cao gót.
Bà cúi xuống nói thầm vào tai tôi :"Ra xe đi. Chị cho em coi cái này" Bố tôi đang bận rót rượu, tôi đi theo bà leo lên xe, mắt dáo dác nhìn quanh xem bà muốn chỉ tôi coi cái gì. Nhưng bà nổ máy xe, tôi hỏi đi đâu. "Em sẽ thấy ngay mà", bà trả lời.
Tôi hơi lo lo khi bà chạy vào một con đường tối vắng vẻ. Cuối cùng bà dừng xe, tắt máy, quay về phía tôi và hôn tôi. Tôi bị sốc tới nỗi không có chút phản ứng nào. Tôi chưa bao giờ hôn môi ai, vậy mà bây giờ người đàn bà hơn tôi nhiều đang dùng lươi mơn trớn miệng tôi. Tôi được dạy là phải kính trọng và vâng lời người lớn, nhưng cũng được bảo là những gì bà đang làm là tội lỗi. Không biết phản ứng thế nào, tôi không dám cử động. Bà đưa tay vào trong quần sờ mó tôi. Ngạc nhiên đến tê liệt, tôi thấy bà cởi áo rồi áo ngực, áp ngực vào mặt tôi. Tôi chẳng cảm thấy kích thích chút nào, chỉ thấy ngột ngạt khi bà cọ người vào mặt tôi.
Khi tất cả đã xong xuôi, tôi vẫn ngồi bất động, xấu hổ, rối loạn. Bà ngồi vào sau tay lái, sửa lại quần áo và bật máy xe. "Đừng nói với ai hết nhé, bà bảo. Đây là bí mật của chúng ta, đồng ý không?" Rồi bà mang tôi về nhà và ra đi sau khi cười mỉm chào tôi. Phải mất một lúc lâu tôi mới lấy lại được sức để mở cửa.
Bouh
Dec 9 2008, 08:13 PM
Việc này làm tôi rất rối loạn, và có cảm giác tội lỗi. Những tuần lễ sau, tôi vẫn xấu hổ quá không dám đem chuyện này ra bàn với bạn bè, càng không dám nói với bố tôi. Từ lúc đó trở đi, cái cảm giác cô độc càng đè nặng lên tôi.
Tôi không biết ngày nay khoa học có khám phá ra cái gì làm cho một số người trở nên nghiện rượu. Những người nghiện rượu thường trách tất cả mọi người, trừ chính mình. Bởi vậy tôi không đem cả 13 năm sau đó sống trong địa ngục, bị rượu bao trùm đem đổ tội hết lên bà. Tôi cũng có thể buộc tội hết những người đã bán cho tôi cái chất nghiện tôi hằng ưa thích.
Trạng thái tâm lý của tôi lại là một việc khác. Nếu bạn chưa bao giờ cảm thấy cô đơn trong gia đình, thấy lạc loài giữa những người đáng ra phải nối kết với nhau bằng tình thương và thông cảm, bạn có lẽ khó mà hiểu được. Nỗi đau lớn tràn ngập tâm can đến nỗi bạn sẽ làm bất cứ việc gì để giảm nhẹ nó. Với trường hợp của tôi, đó là rượu.
Còn tiếp...
Bouh
Dec 10 2008, 08:24 PM
Chỉ Một Giọt Thôi
Cái làng gần nhà nghỉ mùa hè của bố mẹ tôi nhất, trong vùng Laurentides, không có quán rượu, và việc bán rượu cũng bị cấm luôn. Vũ hội tối thứ bảy là cách giải trí duy nhất trong vùng, người lớn đến đó mang theo rượu để trong xe. Khi họ khát, họ ra ngoài uống một phát. Bố mẹ tôi, cũng như bố mẹ các bạn tôi, coi rượu là phần không thể thiếu được trong các cuộc vui, và chúng tôi hay nài họ cho chúng tôi uống "chỉ một giọt thôi". Họ xem đây là cách vô hại để đám trẻ biết chút ít về cuộc sống người lớn.
Một tối kia, tôi và ba người bạn nữa chung tiền lại và nhờ một người lớn mua 12 chai Molson và một chai gin. Tụ tập lại ở một góc vắng vẻ, lần đầu tiên chúng tôi uống "một cách thật sự", nếu có thể gọi nó như vậy. Tôi chẳng biết mình đã nốc vào bao nhiêu rượu, chỉ biết là các bạn tôi đã phải vác tôi về nhà và tôi nôn mửa suốt dọc đường đi.
Ai cũng có thể cho rằng đây là lời cảnh báo ngăn ngừa, nhưng tôi thì chỉ mong sao được làm thêm lần nữa. Lúc nào cũng cảm thấy cô đơn, cuối cùng tôi đã tìm thấy cảm giác được chấp nhận trong đám bạn nhậu. Khi năm học đến, tôi chẳng để ý gì tới bài vở nữa; rượu là niềm say mê duy nhất của tôi. 14 tuổi, toàn bộ tiền túi và suy nghĩ của tôi đều có chung một mục đích : uống say đến bí tỉ.
Và làm điều này thì cũng dễ thôi. Bia, bày bán trong các tiệm thực phẩm, theo lý thuyết là chỉ bán cho người lớn. Nhưng mà lúc đó, người ta áp dụng luật rất lỏng lẻo, và gần như lúc nào tôi cũng mua được, nói dối là mua cho bố.
Cảnh sát cũng chẳng theo nguyên tắc mấy khi. Một tối kia, tôi đánh cắp chìa khóa chiếc xe hơi thể thao - một chiếc Austin Healey 3000 tuyệt đẹp - bố tôi cho mẹ tôi làm quà. Rồi tôi lên xe phóng đi, ngừng lại mua bia và đón một cậu bạn. Hai đứa tôi phóng lên xa lộ, mỗi đứa cầm một chai bia. Ông cảnh sát bắt chúng tôi lại đã ghi giấy phạt 20 dollar vì lái xe quá tốc độ, và chỉ bảo tôi phải "lái chậm một chút". Ông ta không nói gì tới chai bia mở nắp lẫn việc chúng tôi rõ ràng chưa đủ tuổi để uống.
Nếu tôi tin có thiên thần bảo mệnh, tôi thề là ít ra có một thiên thần nào đó đã coi sóc tôi trong suốt bấy nhiêu năm làm những việc ngu ngốc - đáng kể là có một lần một người bạn đã thách tôi phóng vượt qua cổng thu tiền trên xa lộ với tốc độ trên 160 km/h. Dĩ nhiên là tôi nhận lời thách thức và, may mắn thay, tôi vượt qua không mất một cọng tóc.
Có khi trong nhà không có rượu, nhưng lúc nào cũng có tiền. Tôi ăn cắp tiền trong bóp của bố, trong xắc tay của mẹ hay tiền để dành của anh tôi. Ai cũng biết tôi là thằng ăn cắp. Đầu tiên thì tôi chối, nhưng sau đó tôi chỉ nhún vai và tiếp tục.
TuyTamNhan
Dec 10 2008, 11:51 PM
QUOTE
Anh ta giật mình, rồi nhìn vào chiếc áo bẩn thỉu tôi đang mặc, chiếc quần đầy vết bẩn, đôi giày lủng đế.
Thằng cha ma men này coi dzị mà giàu hơn tui
QUOTE
Ngày hôm đó, tôi đang ăn xin để có tiền mua một chai rượu và trả 50 xu tiền giường ngủ
Chùi ui, ăn xin mà cũng bày đặc chơi sang, tui chỉ dám uống rượu ké, chứ đâu dám mua, ngũ bờ ngũ bụi đâu tốn đồng xu nào, phí chi 50 xu uổng dzậy?
QUOTE
chỉ thấy ngột ngạt khi bà cọ người vào mặt tôi
hỏng lẻ bà này bị bệnh ghẻ ngứa?
QUOTE
Nỗi đau lớn tràn ngập tâm can đến nỗi bạn sẽ làm bất cứ việc gì để giảm nhẹ nó. Với trường hợp của tôi, đó là rượu.
Thế mới biết rượu vẫn còn có chổ hữu dụng, in this case, it is a good pain killer
QUOTE
Bố mẹ tôi, cũng như bố mẹ các bạn tôi, coi rượu là phần không thể thiếu được trong các cuộc vui
Đúng gùi... rượu mang lạc thú đến cho mọi người
HuongDuong
Dec 11 2008, 04:24 PM
QUOTE(TuyTamNhan @ Dec 10 2008, 11:51 PM)
Thằng cha ma men này coi dzị mà giàu hơn tui
Giàu hơn thì thí rõ ràng luôn

....... mà có điều.... Túy gia vận khố lá me bay fất fới .....tuy hông tốn vải.... nhưng look good mờ

..... cha ma men nì sao bằng được
QUOTE
Chùi ui, ăn xin mà cũng bày đặc chơi sang, tui chỉ dám uống rượu ké, chứ đâu dám mua, ngũ bờ ngũ bụi đâu tốn đồng xu nào, phí chi 50 xu uổng dzậy?
Chả fải là Túy gia đã fán rùi đó sao .... là "
Thằng cha ma men này coi dzị mà giàu hơn tui " đó sao kìa .... ma men giàu thì chịu xì tiền

.... khác dzí ma men nghèo chứ bộ
Bouh
Dec 12 2008, 07:57 PM
Sis HD rành ông dữ, coi bộ hồi đó ở Đa Tình Cốc suốt ngày ngó
Cuối cùng thì bố tôi phải chuyển tôi qua học ở một trường tư ông biết sẽ kiếm được cho tôi bằng tốt nghiệp trung học. Thất bại hoàn toàn. Ngay ở góc phố là quán rượu, và người chủ chẳng ngại gì phục vụ một thiếu niên 16 tuổi khoẻ mạnh, có tiền trong túi và thích uống bia.
Tôi ưa quán rượu, thích các khách quen, các câu chuyện gẫu và những lời láo khoét của họ. Chỉ có một ngoại lệ khiếp người. Một ngày nọ, một gã cảnh sát vùng Montreal-Ouest ngồi vào chiếc ghế bên cạnh tôi, gọi một chai bia và toét miệng cười với tôi. Hắn là một gã cảnh sát đúng như người ta thường nghĩ, khoẻ mạnh, cao hơn 1m80, tóc nâu rậm rạp. Ta hãy gọi hắn là Murphy.
Murphy tiếu lâm và rất nhộn, tôi thì khoái chí vì có một ông cảnh sát hạ cố bắt chuyện với tôi. Hắn mời tôi một ly, rồi một ly nữa... rồi bảo sẽ đưa tôi về nhà. Tôi lên xe, ngả đầu ra và nhắm mắt lại. Khi tôi mở mắt ra thì không phải là nhà tôi mà là nhà hắn. Hắn bịa chuyện bảo tôi vào nhà và hãm hiếp tôi tức khắc.
Tôi không nhớ là mình có khóc không, cũng chẳng nhớ Murphy có xin lỗi hay bảo tôi đừng nói lại với ai không. Tôi chỉ nhớ là hắn mang tôi về nhà và bỏ tôi lại trong bóng tối, khủng hoảng và run rẩy trước ngưỡng cửa. Cả lần này tôi cũng chẳng nói với ai. Tôi cảm thấy nhục nhã, và nỗi nhục càng dày vò tôi vì sau đó mấy ngày có điện thoại. Murphy hỏi tôi muốn đến gặp hắn ở quán rượu hay đến thẳng nhà hắn. Tôi lắp bắp bậy bạ mấy câu cho hắn gác máy. Rồi tôi ngồi đó rất lâu, sợ hãi.
Trong nhiều ngày sau, mỗi lần điện thoại reo là tôi lại hoảng sợ. Murphy là cảnh sát, hắn muốn làm gì tôi mà chẳng được. Ai ngăn hắn được đây? Tôi chỉ biết có một người : bố tôi.
Cuối cùng một tối nọ tôi nói với bố là cần nói chuyện riêng với ông. Hai chúng tôi bước vào phòng khách tối om.
"Có chuyện gì vậy? ông hỏi. Có gì mà bí mật vậy?"
Tôi bối rối ngồi xuống trường kỷ. Bố tôi đóng cửa lại và ngồi trước mặt tôi chờ đợi. Tôi hỏi ông có biết Murphy không và khi ông nói có, tôi kể cho ông nghe chuyện đã xảy ra. Vẻ mặt ông bất động, cho tới khi tôi kể Murphy hãm hiếp con trai ông như thế nào. Tôi ráng nói cho rõ ràng, rằng tôi đã van hắn ngừng lại ra sao, và đúng lúc đó, mặt ông tái đi. Mỗi lời tôi kể càng làm ông khó chịu. Tôi vẫn tiếp tục để ông hiểu tôi sợ tới mức nào khi Murphy gọi điện thoại, rằng hắn sẽ lại hãm hiếp tôi.
Phản ứng của bố tôi làm tôi kinh ngạc. Tôi chưa kịp nhờ ông làm một điều gì để giúp tôi lấy lại tự tin và tránh bị hãm hiếp lần nữa thì ông đã lắc đầu, đứng dậy rời khỏi phòng. Tôi ở lại một mình nước mắt lưng tròng. Tôi không giận mà thấy hối hận vô cùng. Tôi không chỉ làm hỏng đời mình mà còn làm xấu đi đời của bố tôi khi kể cho ông nghe Murphy đã làm gì tôi. Có lẽ tôi chẳng nên kể gì với ông hết để tránh ông khỏi bị khó chịu.
Bố tôi quyết định giữ khoảng cách với tôi về thể chất cũng như tinh thần - về vụ hãm hiếp cũng như tất cả các rắc rối khác của tôi. Biến đổi của con người tôi sau đó không thể đổ hết lên quyết định này, nhưng ảnh hưởng của việc bà thiện nguyện viên trong kỳ bầu cử, việc Murphy hãm hiếp tôi cùng với việc bố bỏ rơi tôi đã để lại những vết thương rất sâu.Trong nhiều năm, tôi không có được quan hệ bình thường với người khác. Tôi tin được ai đây?
Thời gian trôi qua, gia đình không còn là gì cả, thế giới của tôi chỉ là chai rượu tiếp theo. Tôi thấy xa lạ với tất cả mọi người, ngoại trừ các bạn tôi ở quán rượu. Vậy mà, dù cuộc sống có bao nhiêu trắc trở, học hành không ra sao và cứ mất việc hết lần này đến lần khác vì lý do say rượu, tôi vẫn biết có cái gì khác đang đợi tôi. Cuộc sống không chỉ là ngồi trước mặt chiếc ly, bên trong tôi biết tôi vẫn còn giá trị.
Tôi nhớ có đọc tiểu sử của William Zeckendorf, nhà tài phiệt nổi tiếng người Mỹ. Suốt cuộc đời ông, ông đã kiếm được và đánh mất không biết bao nhiêu là tiền : mới hôm trước giàu có bạc triệu , hôm sau phải chạy trốn chủ nợ. Và bài học tôi học được là điểm xuất phát cũng như điểm đến đều không quan trọng, bạn có thể làm được những việc phi thường trong cuộc đời nếu bạn quyết định làm. Dù cho rượu có làm lu mờ lý trí, tôi vẫn chắc rằng có ngày nào đó tôi cũng làm được như William Zeckendorf.
Trong khi chờ đợi, tôi cần uống chút đã.
Bouh
Dec 12 2008, 08:25 PM
Rồi điều đó cuối cùng phải đến. Một ngày nọ bố gọi tôi vào phòng khách, bảo tôi ngồi và tuyên bố, với ánh mắt quả quyết : "Frank, không ai muốn mày ở lại đây nữa!"
Sáng hôm sau, tôi ném chút ít đồ đạc vào xe và ra đi. Không ai chào từ biệt tôi. Vậy mà tôi không cảm thấy buồn bã mà lại cảm thấy tự tin khi phóng trên xa lộ 401 đi Toronto. Dĩ nhiên, trước mặt còn lắm thử thách bởi lần này, tôi biết sẽ không ai đến cứu tôi, kiếm đồ cho tôi ăn hay kiếm chỗ cho tôi ở.
Đến Toronto, tôi mướn một căn hộ nhỏ và bắt đầu làm việc trong một hãng sơn. Bố tôi giúp tôi kiếm được một chân bán hàng ở đó.
Trong những năm 1970, thành phố này vẫn còn chủ yếu là dân WASP (người da trắng nói tiếng Anh theo đạo tin lành). Khá bị ảnh hưởng bởi cái không khí nghiêm trang, tôi ngừng uống rượu một thời gian. Tôi muốn chứng minh với gia đình tôi là họ đánh giá sai lầm về tôi và trong mấy tuần đầu, tôi đã làm ông chủ phải chú ý và tôi cũng tự ngạc nhiên với doanh số kỷ lục. Tôi có tiền trang trải cuộc sống và giữ gìn sức khoẻ trong khi chờ đợi tinh thần William Zeckendorf đưa tôi lên con đường thành công tuyệt đỉnh.
Lâu lâu tôi cũng tự cho phép mình uống một chút. Có khi là ngay trong giờ làm việc (ai mà biết được : bạn có thể kiếm được vài người khách ở quán rượu). Một người trong số họ, Bill Orr, là bạn cũ của bố tôi. Ông ta cũng thích uống rượu và chúng tôi thật hợp tính nhau. Sau một hai tháng, tôi bắt đầu lỡ hẹn với khách, và ông chủ của tôi phải cảnh cáo tôi nhiều lần. Có khi tôi nghe theo - nhưng chỉ được một lúc thôi. Cuối cùng thì tôi bị đuổi việc. Thay vì gục ngã, tôi tự nói với mình là tôi sẽ dễ dàng kiếm được việc khác. Trong khi chờ đợi, tôi có thể tự do đi uống rượu.
Đó là bước khởi đầu của dốc trượt. Tôi mất chiếc xe vì không còn tiền để trả. Chủ nhà hỏi tiền thuê, mỗi lần tôi lại khất "mai". Đến một tối kia, tôi lê về đến nhà thì thấy chút ít đồ đạc của tôi nằm trên lề đường. Tôi nhún vai và đem bỏ hết vào chỗ gởi đồ ở nhà ga. Rồi tôi lại đi mua một chai rượu.
Tôi tự nói là cuộc sống cũng không tồi lắm khi còn có băng ghế công cộng làm chỗ ngủ và có những tấm lòng từ thiện bỏ đồng 25 xu vào bàn tay chìa ra xin. Tôi dời về khu phía đông, chỗ đường Lower Jarvis, khu bất hảo của Toronto.
TuyTamNhan
Dec 13 2008, 08:24 AM
QUOTE(HuongDuong @ Dec 11 2008, 04:24 PM)
Giàu hơn thì thí rõ ràng luôn

....... mà có điều.... Túy gia vận khố lá me bay fất fới .....tuy hông tốn vải.... nhưng look good mờ

..... cha ma men nì sao bằng được
Lúc còn đủ lá bay phất phới thì nói chi, lâu ngày khố rách teng ben, lá rụng gần hết thì còn chi phất phới để looking good chứ
QUOTE
Chả fải là Túy gia đã fán rùi đó sao .... là "
Thằng cha ma men này coi dzị mà giàu hơn tui " đó sao kìa .... ma men giàu thì chịu xì tiền

.... khác dzí ma men nghèo chứ bộ
Ừ, hen..chuyện đơn giãn như dzị mà tui cũng hỏng nghĩ ra, ngớ ngẫn thiệt !
TuyTamNhan
Dec 13 2008, 08:34 AM
QUOTE
Tôi ưa quán rượu, thích các khách quen,
Có ma men nào mà chả ưa quán rượu, ghét khách quen bao giờ?
QUOTE
bạn có thể làm được những việc phi thường trong cuộc đời nếu bạn quyết định làm.
Dù cho rượu có làm lu mờ lý trí, tôi vẫn chắc rằng có ngày nào đó tôi cũng làm được như William Zeckendorf.
Nếu không lọt vào tình trạng nghiện rượu, hắn đâu đủ tỉnh táo nghĩ ra điều đó. Như vậy chứng tỏ rượu không làm cho hắn lu mờ lý trí và ngớ ngẫn....... như tui
QUOTE
Tôi tự nói là cuộc sống cũng không tồi lắm khi còn có băng ghế công cộng làm chỗ ngủ và có những tấm lòng từ thiện bỏ đồng 25 xu vào bàn tay chìa ra xin.
Hihihi..đúng gùi, "Tri túc thường lạc", hạnh phúc chỉ đến khi mình biết tự mãn cho bản thân.
Bouh
Dec 13 2008, 01:46 PM
Khi ăn xin không được tiền, tôi vào một quán rượu, gọi hết ly này đến ly khác, tổng số tiền phải trả có thể lên thật cao, rồi, tôi loạng choạng đi về phía nhà xí nhưng thực ra là để trốn ra bằng ngả hậu khi người giữ quầy quay lưng đi.
Cách này chỉ với mỗi quán chỉ có thể làm một lần mà đôi khi cũng thất bại. Bị người gác bắt, tôi ra về sau khi nhận vài quả đấm vào mặt và chịu mấy cú đá, cùng với lời cảnh báo là đừng bao giờ bén mảng đến chỗ đó nữa.
Rồi tôi khám phá ra là ngủ ngoài công viên không chỉ khó chịu mà còn nguy hiểm nữa, nhưng thường là tôi không thể lựa chọn. Ngủ ngoài trời khi thời tiết ấm áp thì tiết kiệm được 50 xu tiền giường ngủ ở trung tâm và có thêm chút tiền uống rượu. Nhưng như vậy có nguy hiểm là bị bọn du đãng đánh. Bọn này cứ lảng vảng ở công viên tìm nạn nhân. Mỗi lần bị đánh quá đau hay không cầm máu được, tôi tìm đến một bệnh viện nào đó, được chữa trị và sau đó lại ra đường.
Bây giờ, khi kể lại đoạn đời này, tôi thấy trong mắt ai cũng đặt cùng một câu hỏi :
" Sống như vậy thì cảm thấy ra sao? "
Và trong đầu tôi chỉ có một từ để trả lời, "bẩn". Ngoài đường mọi thứ đều bẩn, các đường cống rãnh bẩn, anh cũng bẩn, quần áo của anh bẩn, bạn bè của anh bẩn, tấm nệm giường ở trung tâm bẩn. Bạn chẳng cách nào không dính vào những thứ bẩn thỉu và rồi bạn cũng chẳng để ý đến nữa.
Sau 6 tháng sống ngoài đường, tôi bắt đầu chấp nhận ý tưởng là tôi chẳng thể nào sống sót được nếu tôi không thay đổi. Ban đầu thì có thể quên, nhưng cái bản án tử hình này cuối cùng lúc nào cũng ám ảnh tôi, ngay cả những khi có rượu.
Nếu một tia nắng trên trời rọi xuống mang tôi trở lại đường ngay nẻo thẳng thì câu chuyện của tôi sẽ vô cùng ngoạn mục nhưng lại ít cảm xúc hơn.
Bouh
Dec 13 2008, 02:07 PM
Trong nhiều năm, tôi vẫn tự nhủ : Ngày mai tôi sẽ ngừng uống rượu. Và cuối cùng, cái ngày mai đó là hai ngày trước lễ giáng sinh. Ngày 23 tháng 12 năm 1971, một ngày thứ năm, tôi thức dậy sớm và cảm thấy vui vẻ. Hôm nay ăn xin là hợp lắm. Gần tới giáng sinh, người ta thường rộng lượng. Nhưng ra khỏi trung tâm, tôi thấy lạnh run và một lần nữa tôi ý thức được cái thực tế phũ phàng của cuộc sống. Không phải tôi nghe được một lời nói từ trên cao, cũng chẳng thấy thiên thần hay quỷ dữ. Chỉ có một niềm tin mãnh liệt tự nhiên đến ngự trị trong tôi : nếu tôi không thay đổi, tôi phải chết.
Ngọn gió bốc lên lùa vào quần áo. Ở góc đường, trên bảng quảng cáo, ông già Noel cười với hai đứa bé đẹp như mộng. Đâu đó, đài phát thanh đang phát những bài hát giáng sinh. Tôi lập lại, lần này nói to ra miệng : "Nếu mày không thay đổi, mày sẽ chết. Không có mấy ai biết, và cũng chẳng ai tiếc cả."
Tự nhiên tôi nhớ đến một bản tin về những người có thể giúp bạn thoát khỏi hoàn cảnh vô gia cư, một bản quảng cáo có câu kết : "Nếu bạn bị nghiện rượu, hãy gọi cho chúng tôi."
Tôi bắt đầu đi ăn xin. Lần này, tôi chỉ cần 10 xu và khi có người cho tôi, tôi đi tới trạm điện thoại và tìm số điện thoại. Tôi hét lên với người trả lời :"Tôi cần phải nói chuyện với ai đó" Tôi không biết người trả lời là đàn ông hay đàn bà, tôi chỉ nhớ được vài lời trên và cái tuyệt vọng trong giọng nói của tôi. Ở đầu dây bên kia, người ta cho tôi địa chỉ và bảo tôi tới ngay.
Nơi đó là lầu hai của một tòa nhà bình thường trên đường Yonge. Tôi bám vào tay vịn leo lên cầu thang. Khi đến nơi, tôi ngừng lại một chút, chắc chắn với quyết tâm của mình, rồi vặn nắm cửa. Trước mặt tôi là một người phụ nữ tóc bạc, đeo mắt kiếng, ngồi trước một bàn giấy lộn xộn.
"Tôi cần được giúp đỡ"
Tôi chỉ biết nói với bà có bấy nhiêu. Thế mà, với nụ cười rạng rỡ, bà trả lời :"Cậu đến đúng nơi rồi đấy"
Bouh
Dec 13 2008, 04:30 PM
Marg Meek cũng niềm nở như nụ cười của bà. bà bắt tay tôi và rót cho tôi tách cà phê. Tôi ở lại đó suốt cả ngày nói chuyện với bà.
Quá 17 giờ thì Joe tới. Đó là một người đàn ông lịch sự có vị trí quan trọng trong một hãng đầu tư ở Bay Street. Anh mời tôi đi ăn tối và kể cho tôi nghe, dù anh chưa phải ra đường sống nhưng sượu suýt nữa đã làm anh mất những thứ quý giá nhất trong đời - gia đình, nghề nghiệp và lòng tự trọng. Những lời khuyên của anh không chút vòng vo. Hãy quên những sai lầm ngày hôm qua - hôm qua đã đi qua rồi - và đừng nghĩ gì đến ngày mai. Hãy tập trung vào ngày hôm nay. Hối hận về quá khứ và lo lắng cho tương lai làm giết chết hy vọng. Nghe anh nói, tôi hiểu ra là tôi thực sự chỉ còn có một chút hy vọng này sót lại mà thôi.
"Cậu chẳng cần phải sống từng ngày, Joe tiếp tục. Hãy sống từng giờ, thậm chí từng phút, nếu nhờ đó mà tránh được rượu"
Rồi anh cho tôi số điện thoại và một nắm tiền 10 xu. "Tiền này để gọi điện thoại cho tôi. Bất cứ lúc nào cậu muốn uống rượu, gọi cho tôi, hiểu không?"
Tôi xoè bàn tay ra ngó các đồng bạc. Mới hôm qua thôi, có được bấy nhiêu tiền là tôi vù ngay đi mua rượu. Anh cho tôi bấy nhiêu tiền là tin tưởng ở tôi. Có người đã tin tưởng ở tôi rồi.
Tôi trở về trung tâm vô gia cư, trả tiền giường và lăn ra ngủ. Lần đầu tiên trong suốt bao nhiêu năm, tôi đi ngủ mà không uống chút rượu nào.
Khi tôi thức dậy, ý nghĩ đầu tiên là đi tìm một chai rượu, ý nghĩ thứ hai là gọi cho Joe. "Tối hôm qua cậu có uống không?" Anh hỏi. Tôi trả lời "không" chẳng chút dối trá. "Tốt. Nếu hôm nay lúc nào muốn uống, trước tiên là gọi tôi đã. Đừng quên đấy."
Cả ngày hôm ấy tôi tiêu hết nguyên nắm tiền 10 xu để gọi cho anh, lặp đi lặp lại rằng tôi thèm rượu đến mức nào.
"Cậu đã gọi, Joe nói khi tôi gặp lại anh buổi tôi. Đây là dấu hiệu tốt. Nó chứng tỏ là quyết tâm cai rượu của cậu cao hơn mức nghiện."
Anh cho tôi thêm một nắm tiền 10 xu nữa. "Cậu giỏi lắm. Cậu sẽ cai được rượu."
Tôi không chắc mình có tin anh hay không.
Ngày hôm sau, tôi ăn lễ giáng sinh ở trung tâm Fred Victor, cùng với vài trăm người cũng đến sắp hàng như tôi để ăn một dĩa gà tây rô ti.
Bữa ăn xong, mọi người bắt đầu hát những bài ca giáng sinh. Tự nhiên tôi phát hiện là đã hai ngày rồi tôi chưa uống giọt rượu nào. Đây là điều chưa hề xảy ra từ khi tôi lên trung học. Bị choáng, tôi vấp váp lần được đến nhà vệ sinh và sau khi khóa cửa lại, tôi dựa vào tường khóc ngon lành như một đứa trẻ lạc.
Trong vòng 3 tuần lễ, tuôi buộc mình phải theo một chương trình chặt chẽ. Buổi tối tôi về chỗ ngủ còn ban ngày tôi đi lang thang trong các trung tâm thương mại để giữ ấm và ở gần cột điện thoại công cộng, phòng khi tôi thèm quay trở lại quán rượu. Khi nào tôi cảm thấy như vậy, tôi gọi Joe hay một thiện nguyện viên khác, và họ nhắc cho tôi nhớ rằng tai sao tôi phải nhịn rượu. Mỗi tối, tôi gặp Joe và những người đang muốn cai rượu giống như tôi. Chúng tôi giúp đỡ nhau và chia sẻ kinh nghiệm. Ngược lại với những câu chuyện của bọn bạn ngoài đường phố, ở đây là các mẩu chuyện về niềm tin và thành công.
Đến cuối tháng giêng, đột nhiên một ý nghĩ làm tôi đứng sững trên hè phố : Tôi sẽ thành công. Hơn một tháng nay tôi chưa uống một giọt rượu nào và tôi sẽ tiếp tục như vậy. Tôi thấy tự tin hơn, chưa nhiều lắm, nhưng đủ để ngẩng cao đầu.
Rồi một tối, Joe nói với tôi : "Frank, bây giờ cậu phải kiếm việc làm". Anh mang tôi đến một tiêm quần áo và mua cho tôi một bộ đồ, vài chiếc áo và chiếc cà vạt. Rồi anh cho tôi một danh sách để liên lạc. Vài ngày sau, tôi bắt đầu đi bán thiết bị công nghệ để rửa mặt tiền các tòa nhà và máy móc.
Joe ứng trước cho tôi tháng lương đầu và tôi đi thuê một căn hộ dưới tầng hầm. Tôi tìm hiểu cặn kẽ chi tiết công việc, sửa chửa cẩn thận kỹ thuật bán hàng, cố giữ một bề ngoài chu đáo và bán được nhiều hàng để xứng đáng với đồng lương.
Sau gần 1 năm cai rượu, tôi lấy được can đảm để liên lạc lại với bố mẹ tôi. Tôi tưởng là tin này sẽ làm họ mừng phát điên, nhưng tôi phải thất vọng. Họ có vui chút ít khi biết là tôi ngừng rượu và làm việc thành công, nhưng ai mà trách được việc họ còn chút hoài nghi? Cả nửa cuộc đời tôi đã nói láo với họ, điều này không phải chỉ có một cú điện thoại mà thay đổi được.
Vào khoảng thời gian này, tôi gặp Joanne, một phụ nữ nhỏ nhắn mảnh mai tóc vàng trong một nhóm giúp đỡ. Nàng không nghiện rượu mà đi cùng với người nhà cần được giúp đỡ. Ngay tối đầu, chúng tôi đã trò chuyện vui vẻ và lần thứ hai, tôi mời nàng dùng cà phê. Rồi chúng tôi gặp nhau thường xuyên. Cởi mở và niềm nở, Joanne nhìn cuộc đời rất lạc quan. Nàng chú ý nhiều và khích lệ tôi, rồi chúng tôi đính hôn.
Nhưng khi tôi nói chuyện này với một cố vấn, ông lắc đầu.
"Quyết định sai lầm, Frank, ông nói. Những người đang có thoát ra khỏi chứng nghiện không nên quyết định việc gì quan trọng sau ít nhất 1 năm."
Tôi trả lời liền :" Tôi đâu có quyết định gì quan trọng. Tôi chỉ muốn cưới vợ thôi."
Bố mẹ tôi đến dự lễ cưới và mặc dù họ hài lòng thấy đứa con trai vô tích sự bây giờ đã sống đàng hoàng, họ vẫn con có niềm hoài nghi trong lòng. Họ cho là chúng tôi chảng ở được với nhau bao lâu.
Hoàn toàn không sai. Mặc dù chúng tôi thích ở bên nhau, Joanne và tôi không thể tạo được mối dây bền chắc cho suốt cuộc đời, và dần dần chúng tôi tách rời nhau. Cuộc hôn nhân của chúng tôi tan rã chỉ sau 6 tháng.
Thất bại loại này có nguy hiểm là làm người ta quay trở lại với rượu, nhưng tôi thì không. Năm 1973, tôi rời khỏi nếp sống quay cuồng ở Toronto để có cuộc sống bình yên hơn ở Oakville.
Tôi tiếp tục dùng tài bán máy trong lãnh vực xây dựng, kiếm được tương đối khá tiền và mua xe. Tôi cũng tham gia vào hoạt động chính trị địa phương và điều khiển một nhóm thiện nguyện viên trong một kỳ bầu cử thành phố. Đảng chúng tôi thắng và tối hôm đó, tôi tình nguyện giữ quầy rượu. Một vị trí nguy hiểm, nhưng lúc đó tôi chẳng hề nghĩ tới.
Đang giữa tiệc, tôi rót rượu cho một người và ngửng lên nhìn, tôi thấy mặt ông ta quen quen. Đó là bạn rượu trước đây của tôi, Bill Orr, đã khá say rồi.
"Mày không uống sao?" ông ngạc nhiên.
Tôi kể cho ông nghe chuyện của mình. Khi tôi kể xong, ông nhìn trừng trừng vào đáy ly rượu rỗng không rồi đưa cho tôi.
"Cho tao một ly nữa lên đường, ông nói, đây là ly cuối cùng."
Tôi tưởng ông muốn nói ly cuối cùng tối hôm đó. Nhưng thực sự, Bill vừa mới tuyên bố với tôi là ông từ nay không uống rượu nữa. Ông quyết định rằng nếu tôi cai được rượu thì ông cũng cai được. Và thực sự là ông cai được.
Nhờ có hứng thú về chính trị mà tôi trở thành bạn của Tom Culligan. Chưa tới 30 tuổi, Tom đã là sư tổ về ngành bán lẻ. Một ngày kia, anh đề nghị hợp tác làm ăn với tôi. Chúng tôi làm việc chung rất ăn ý trong cuộc bầu cử, tại sao lại không làm trong thương trường? Nhưng làm việc gì bây giờ?
Câu trả lời hiện ra khi tự nhiên có một chỗ trống ở một trung tâm thương mại vùng Scarborough, rất lý tưởng để bán cà phê hạt. Vài ngày sau, chúng tôi ký hợp đồng thuê chỗ và tháng 8 năm 1975, chúng tôi mở quầy bán.
Chúng tôi vẫn chưa nghĩ tới thương hiệu và hỏi ý kiến Jack Burkholder, một tài năng tiếp thị. Tom nói chuyện với ông qua điện thoại lúc vợ ông đang coi truyền hình trong phòng khách. Ông nghe thấy một quảng cáo cho hãng bia Schaefer: "Thứ bia bạn chọn khi bạn muống uống hơn một chai."
"Đó là lời tuyên truyền rất hay !" Jack tuyên bố.
Và vợ ông nói thêm :
"Vậy tai sao không gọi hãng của các anh là Second Cup?"
Frank O'Dea còn có các thành công khác tren thương trường quốc tế, nhưng ông không bao giờ quên quá khứ của mình cũng như sự cần thiết phải giúp đỡ người trong cơn hoạn nạn. Trong các tổ chức bất vụ lợi của ông, người ta có thể kể Street Kids International, War Child Canada và Canadian Landmine Foundation, tổ chức quyên tiền để dọn sạch các bãi mìn trên thế giới. Năm 2004, để ghi công các việc làm xã hội và từ thiện của ông, ông được đưa vào Order of Canada.