bidong
Dec 31 2008, 07:29 AM
Thương con
Phạm Thành Châu
Đây là một chuyện gần như thật, xảy ra ở một nơi mà, muốn kiểm chứng, bạn chỉ việc đến đó hỏi những người địa phương. Tuy tôi không phải là nhân vật trong truyện, nhưng theo dõi suốt từ khi câu chuyện bắt đầu cho đến khi kết thúc.
Chuyện xảy ra khoảng đầu thập niên 1970, khi miền Nam chưa "sập tiệm". Năm đó, tôi tốt nghiệp ngạch đốc sự học viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hòa, được bổ nhiệm làm phó quận hành chánh quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế vài mươi cây số. Từ Huế theo quốc lộ Một ra hướng Bắc, qua cầu An Lỗ, quẹo phải vào một đường quê, lát đá từ thời Pháp thuộc, loang lổ những ổ gà. Đường quê nào cũng giống nhau, hai bên là đồng ruộng, thỉnh thoảng, bên đường có hàng tre xanh, có nhà cửa sau hàng rào hoặc quán nước bên đường. Xe chạy khoảng nửa giờ trên đường đầy ổ gà đó thì đến chợ Sịa, cũng là quận lỵ. Quận đường, cách chợ vài trăm mét, là một công thự khang trang, bề thế, có hàng rào kẽm gai, mìn bẫy chung quanh, có lính gác cẩn mật vì là thời chiến. Bên kia con lộ, đối diện với quận đường là nghĩa trang, xa hơn chút nữa, cạnh nghĩa trang là trường trung học Quảng Điền. Thời gian đó, chiến tranh Nam Bắc đến hồi ác liệt, tuy tình hình trong quận rất an ninh, yên tĩnh nhưng con cháu các làng xã quanh đấy, tham gia chiến trận trên rừng núi và tử trận, thân nhân đem về chôn trong nghĩa trang. Thỉnh thoảng có một đám tang vào nghĩa trang với những vành khăn tang trắng, với tiếng khóc tức tưởi, đau khổ, với tiếng chuông mõ, tiếng cầu kinh ê a của vị sư và những người hộ niệm, với linh xa, đan triệu... đi vòng vèo trên các lối mòn, rồi hạ huyệt ở bìa nghĩa trang. Cứ thế, những nấm mộ mọc lên ngày càng nhiều, lấn dần khoảng đất trống của trường trung học, tiến gần trường, đến độ, người nằm dưới mộ có thể nghe được lời thầy, cô giảng bài trong lớp. Rồi thỉnh thoảng lại có một vụ cải táng. Người ta bốc mộ đem về làng quê nào đó để (người quá cố) được gần cha mẹ, ông bà. Đôi khi xác người chưa phân hủy hết, nếu gặp gió mạnh, mùi hôi thối xộc vào quận, hít phải, bị chóng mặt, buồn nôn, đau đầu ngay. Thế nên, những người làm việc ở đó, lúc nào cũng có sẵn một lọ Nhị Thiên Đường để kịp bôi vào mũi.
Tôi làm việc ở quận, cuối tuần đón xe đò về thành phố Huế, cùng với các bạn (cũng là phó quận ở các quận khác) rủ nhau đi ăn tiệm, uống cà phê, xem phim, mua sách báo..., để rồi đầu tuần, dậy sớm đón xe đò về lại quận làm việc.
Một buổi sáng thứ Hai ngoài bến xe Nguyễn Hoàng, trong lúc ngồi ngó mông chờ xe đủ khách để chạy thì tôi thấy một anh chàng ngơ ngáo hỏi xe về Sịa. Tôi vui vẻ mời anh lên ngồi cạnh tôi để chuyện trò. Hóa ra đây là một thầy giáo trung học, ra Quảng Điền dạy học. Cùng lứa tuổi thanh niên nên chúng tôi dễ thân nhau. Khi xe về đến chợ Sịa, tôi mời anh ta vào quán điểm tâm.
Chợ Sịa, là quận Lỵ, cũng giống các chợ nửa quê nửa tỉnh khác, có mái ngói, có từng khu bán hàng riêng biệt, nơi bán cá, nơi bán thổ sản, nơi bán áo quần, vải vóc. Chung quanh chợ là những dãy nhà bán tạp hóa, sửa chữa nông cụ, tiệm ăn... Từ chợ, có những con đường nhỏ dẫn về các thôn làng chung quanh. Có một con đường khác dẫn ra phá Tam Giang, "Thương em anh cũng muốn vô..." là một địa danh trong văn học, ai cũng muốn đến nhìn ngắm cho biết.
Chợ Sịa nhiều tiệm ăn nhưng chỉ có một tiệm bún bò, cháo lòng là đông khách. Đông khách vì thức ăn ngon và cũng vì có người đẹp. Đó là cô dâu của chủ quán. Cô là góa phụ, lại là gái một con "trông mòn con mắt" nên nam giới thích ghé vào để hy vọng được nhìn thấy dung nhan của cô. Nhưng cô chỉ lo nấu nướng dưới bếp chứ không chịu ra gặp khách dù cha mẹ chồng khuyến khích cô tiếp xúc, chuyện trò với khách hàng để khuây khỏa nỗi buồn chồng tử trận hơn hai năm nay.
Khi vào tiệm, vừa ngồi xuống ghế là anh bạn thầy giáo đã khều tay tôi thì thầm:
"Ở đây có người đẹp".
Tôi làm bộ ngơ ngác:
"Đâu?".
"Dưới bếp"
Tôi cười:
"Mắt anh nhanh thật. Cô dâu của chủ tiệm đấy. Nhưng phải cẩn thận. Anh là thầy giáo, thôn quê khác với thành thị, tin đồn, dư luận... lan tràn nhanh lắm. Tôi vào đây cũng chỉ dám nhìn tô bún thôi. Ông phó quận tuổi trẻ, độc thân như tôi mà nhìn người đẹp thì khó làm việc lắm!".
Anh bạn thầy giáo của tôi chỉ thoáng thấy người đẹp mà đã đem lòng vương vấn. Đúng ra, chưa phải là tình yêu, nhưng anh ta vốn là một nhà thơ, tâm hồn dễ rung động, nên cô gái đó là đối tượng cho hồn thơ anh ta bay bổng lên cõi mơ màng, giúp anh ta sáng tác được rất nhiều bài thơ hay.
Mới về quận thôn quê, chỗ trọ chưa có, anh ta nói với ông hiệu trưởng xin ở tạm trong phòng thí nghiệm của trường. Ông hiệu trưởng vui lòng ngay vì khỏi lo mất đồ (trợ huấn cụ) của trường. Mấy hôm sau gặp anh ta, tôi hỏi:
"Chung quanh là nghĩa trang, anh đã gặp ma chưa?"
Anh ta cười bảo:
"Ma thì chưa gặp, nhưng thỉnh thoảng, mỗi buổi sáng có thấy người đẹp dẫn con ra thăm mộ chồng".
"Có làm quen không?".
"Không dám, chỉ đứng ở cửa sổ nhìn ra thôi. Mộ chồng cô ta cách phòng tôi chưa tới trăm mét nên thấy rõ lắm. Cô ta cũng biết tôi nhìn trộm nhưng không tỏ vẻ khó chịu, cũng không nhìn tôi. Tôi chỉ cầu chừng đó".
"Theo con mắt nhà thơ của anh, anh thấy cô ta thế nào? Tôi làm ở đây khá lâu, vào tiệm ăn đó nhiều lần, nhưng không dám nhìn cô ta nên không biết dung nhan ra sao. Chỉ mơ hồ thôi, nhưng cũng biết là đẹp".
"Cô không đẹp lắm, nhưng nỗi buồn trên gương mặt của người quả phụ, khiến người khác buồn theo. Thực khó tả, nhưng nhìn đến thì mềm lòng, vừa kính trọng vừa thương yêu, chỉ muốn nói với cô mấy lời an ủi..."
"Theo tôi biết, cô và chồng cô đều là học sinh trường trung học Quảng Điền nầy. Hai người yêu nhau. Tốt nghiệp trung học, cô học sư phạm ra dạy tiểu học, cậu vào trường Bộ Binh Thủ Đức, ra chuẩu úy, về cưới cô ta. "Cưới nhau xong là đi". Thỉnh thoảng chàng về thăm vợ, hoặc vợ đi thăm chồng mỗi khi chồng về hậu cứ dưỡng quân. Được gần hai năm, sinh được đứa con thì chàng tử trận. Cô nghỉ dạy, về ở nhà chồng, ôm con khóc. Trước kia cô vui tươi, yêu đời bao nhiêu thì sau đó, cô buồn bấy nhiêu. Không bao giờ thấy cô cười. Đôi mắt lúc nào cũng như đầy nước mắt. Cha mẹ chồng thương con dâu, muốn cô bước thêm bước nữa, nên thường bảo cô mang thức ăn cho khách, nhất là những khách trai trẻ, học thức, gia đình khá giả, để cô khuây khỏa và biết đâu cô gặp được người vừa ý, nhưng cô chỉ thích ở sau bếp, phụ với mẹ chồng nấu nướng thức ăn. Cô chỉ biết có đứa con và nấm mộ của chồng mà không quan tâm đến điều gì khác. Có nhiều bà ngắm nghé cô cho con trai mình, tìm cách cho đôi trẻ gặp nhau, vì thời đại nầy, khó tìm được một nàng dâu hiền lành, đoan trang, chăm chỉ làm ăn như thế. Các chàng trai, chỉ mới gặp người đẹp lần đầu đã rung động trái tim, lòng dạ nôn nao như có một sức mạnh vô hình thôi thúc, nhắc nhở khiến anh ta không thể nào quên được. Thế là anh ta thú nhận với gia đình, "nhất quyết cùng nàng nên duyên". Nhưng không hiểu sao, khi những người lớn, là cha mẹ của chàng trai gặp gia đình bên cô gái, bàn bạc chưa xong thì chàng trai xin rút lui, mà không nói lý do. Có gạn hỏi, chàng ta chỉ lắc đầu, nhất định không nói vì sao?"
Anh chàng thầy giáo thi sĩ nầy, lúc đầu chỉ ngắm trộm cô từ cửa sổ để hồn thơ thêm phong phú, lời thơ thêm đẹp, nhưng sau đó thú nhận với tôi là đã yêu cô ta rồi. Thế là sáng nào cũng vào quận rủ tôi đi điểm tâm ở tiệm ăn đó để được thấy người đẹp, dù chỉ thấp thoáng dưới bếp.
Một dịp may hiếm có đưa đến cho anh ta. Thằng bé, con cô ta bị bịnh. Sáng đó cứ bắt mẹ ẵm và khóc mãi. Bà mẹ chồng bảo rằng, ông y tá có cho thuốc uống nhưng không bớt sốt. Chàng thi sĩ thầy giáo sốt sắng giới thiệu một bác sĩ quen thân ở Huế, chuyên về bịnh trẻ con. Anh ta bảo sẽ viết một lá thư giới thiệu mẹ con cô ta với bác sĩ đó. Dùng dằng, bàn tán một lúc, cô đồng ý đón xe đò lên Huế, anh ta mượn xe gắn máy của bạn, lên Huế, chờ sẵn để đưa vào gặp bác sĩ. Anh ta kể rằng bữa đó, hai người chỉ đối đáp với nhau mấy câu bình thường, cô nói cám ơn mấy lần, nhưng anh chàng rất sung sướng vì được gần người đẹp, được nhìn rõ người đẹp mà không e ngại vì cô ta cũng không tỏ vẻ gì bất bình trước đôi mắt si tình của ân nhân.
"Anh biết, từ bữa đó, hình ảnh cô ta lúc nào cũng như hiển hiện trong trí óc tôi. Tôi ước cho con cô ta bịnh lần nữa để được dịp lên Huế, đứng gần cô, ngắm cô, dù chỉ ngắm trộm"
Đứa trẻ khỏi bịnh và chúng tôi được cô ta đích thân mang thức ăn lên mỗi khi chúng tôi vào tiệm. Cô còn cho đứa bé lên vòng tay "Chào hai bác ạ!" Gia đình bên chồng với anh ta đã trở nên thân tình. Tuy cô ít nói và không cười với chúng tôi bao giờ nhưng cũng đủ cho chàng thi sĩ sáng tác biết bao bài thơ hay, gửi đăng nhiều báo văn học có tiếng tăm ở Sàigòn.
Một hôm, vào buổi chiều, (lúc đã hết giờ học), tôi thả bộ ra trường học thăm chàng thi sĩ thầy giáo nầy. Chúng tôi bắt ghế ra hành lang ngồi uống trà trò chuyện. Anh chàng kể tôi nghe một chuyện để hỏi ý kiến tôi. Tôi biết là chuyện về cô gái góa nầy và tuy tôi chẳng biết gì về tình yêu, về vợ con nhưng cũng sốt sắng lắng nghe. Hóa ra anh ta tỏ tình với cô gái. Anh ta kể: "Tôi không viết thư mà chỉ cắt những bài thơ tôi sáng tác, đã đăng báo, nói về cô, về những ước mong được cô chấp nhận tình cảm của tôi. Tôi để những bài thơ đó dưới lư hương trước mộ chồng cô. Sáng đó, dẫn con ra thăm mộ, lúc thắp nhang, cô thấy những bài thơ đó, lúc đầu có vẻ ngạc nhiên, nhưng sau đó, biết tôi là tác giả nên cô ngồi xuống bên mộ, ôm con vào lòng, yên lặng đọc từng bài thơ một. Đọc xong, cô ngồi thẫn thờ một lúc rồi bỗng nhiên cô ôm mộ bia chồng khóc nức nở. Đứa bé không hiểu gì cũng ôm mẹ khóc theo. Hình ảnh cô và con ngồi khóc bên mộ chồng vào buổi sáng vắng vẻ, lạnh lẽo và đầy sương mù hôm đó khiến tôi chỉ muốn chạy ra, quì xuống chân cô mà xin lỗi cô vì đã làm phiền lòng cô. Sau khi bớt khóc, cô đem những bài thơ của tôi đốt trước mộ chồng. Cô muốn chồng đọc những bài thơ đó, như là cách méc với chồng rằng có người tỏ tình với cô. Cô dẫn con quay về mà không nhìn tôi. Tôi biết anh ngạc nhiên vì cả tuần nay tôi không vô rủ anh đến tiệm đó điểm tâm nữa. Tôi hối hận và mắc cỡ nên sợ cô".
Anh ta móc bóp, lấy ra một mảnh giấy nhỏ gấp làm tư, đưa tôi:
"Sáng nay, cô dẫn con ra thăm mộ. Lúc đứng lên, cô quay về hướng tôi đang đứng nép sau cửa sổ nhìn ra. Cô mở xách tay, lấy ra một tờ giấy, xếp lại, để dưới chân lư hương. Tôi hiểu ngay, chờ cô đi được một quãng, tôi làm như vô tình đi ra, ngang mộ chồng cô, tôi cúi xuống, lấy mảnh giấy rồi tiếp tục đi theo hướng cô, mục đích cho cô thấy tôi đã nhận mảnh giấy rồi. Cô hơi nghiêng đầu nhìn về phía sau rồi đi thẳng. Anh xem mảnh giấy nầy và cho tôi biết, ý cô muốn nói gì?"
Tôi đọc mảnh giấy. Chỉ có một dòng: "Em chỉ mong anh thương con em...".
Tôi nói: "Tôi suy nghĩ như thế nầy. Anh có tỏ với cô bao nhiêu lời thương yêu thiết tha cũng không bằng một lời hứa là sẽ săn sóc, bảo bọc đứa con của cô, cùng cô nuôi nấng nó nên người. Nếu anh hứa, cô sẽ nhận lời anh. Có thể cô không yêu anh, nhưng cô hiểu vong linh chồng, muốn có một người nào đó, thay chồng cô mà lo cho đứa con. Những người chết trận, một cái chết bất đắc kỳ tử, không chuẩn bị trước để ra đi vào cõi đời khác nên linh hồn cứ vấn vương, quanh quẩn bên người thân với những vướng mắc, lưu luyến, lo toan chưa giải quyết. Có thể anh mạnh miệng hứa với cô ta để đạt mục đích, nhưng thật lòng hay không thì chỉ người chết mới biết được. Chuyện nầy không đơn giản như một bài thơ, rung động trong chốc lát mà nó đòi hỏi thiện chí và tình yêu chân thật gần như suốt đời anh...".
Anh ta sáng mắt lên: "Một người con của Tổ Quốc đã hy sinh ngoài chiến trường để đồng bào, trong đó có tôi, được sống yên bình, thì bổn phận người còn sống là phải thay anh ta nuôi nấng đứa bé. Nuôi dưỡng, thương yêu như con ruột trong gia đình thì tôi sẵn sàng, đâu cần phải có tình yêu của mẹ nó. Nhưng theo lời anh nói, thì linh hồn chồng cô chưa siêu thoát, có thể anh ta nổi ghen, theo phá những người theo đuổi vợ anh ta. Biết đâu vì thế mà những anh chàng trước đây ngắm nghé cô ta, sau đó bỏ cuộc mà không cho biết lý do... Tôi phải gặp trực tiếp với cô ta mới nói được nhiều".
bidong
Dec 31 2008, 07:30 AM
Tuần sau, cũng buổi chiều, tôi ra uống trà với anh ta và được nghe kể tiếp:
"Tôi viết mấy giòng xin được gặp cô ta và đặt dưới lư hương. Thứ Bảy vừa rồi, cô ta bảo với mẹ chồng là đứa bé hơi sốt. Mẹ chồng cô hiểu ý, sốt sắng nhờ tôi giúp. Tôi lại mượn xe gắn máy lên Huế. Lần nầy, chờ cô xuống xe đi một quãng, tôi chở hai mẹ con cô sau xe, đưa vào một tiệm ăn. Trong lúc ăn uống tôi nói ý định đưa cô về thăm gia đình tôi, coi như chuyện tình cờ tôi đưa mẹ con cô giáo đồng nghiệp, nhờ tôi đưa lên Huế chữa bịnh cho con. Cô ngần ngừ một lúc rồi đồng ý. Nhà tôi ở gần Đập Đá. Ba mẹ tôi vui vẻ đón chào hai người khách dễ mến, mời ăn cơm trưa với gia đình. Sau đó tôi đưa ra bến xe, nhưng ngừng ở một quãng xa, sợ người khác thấy". Kể đến đấy, anh ta hỏi tôi:
"Anh có biết, tối hôm qua, có lính tráng đóng quân gần đây không?".
"Hầu như tối nào cũng có lính đi kích chung quanh đây. Khi nằm chỗ nầy, khi phục chỗ kia. Mưa gió bão bùng gì họ cũng đi. Bộ anh thấy lính hay gặp ma?"
Anh ta không giữ được bình tĩnh:
"Tối hôm qua, vào khoảng mười hai giờ khuya, tôi đang nằm đọc sách thì nghe tiếng chân đi ngoài hành lang, từ phòng hiệu trưởng tiến về phòng thí nghiệm là phòng tôi đang nằm, đến trước cửa phòng tôi thì dừng lại, có tiếng gõ cửa, gõ nhẹ nhưng tôi nghe được. Tôi đứng lên, tiến về phía cửa, nép một bên, yên lặng chờ. Lại tiếng gõ, rõ ràng ngay bên tai tôi. Tôi không mở cửa hay lên tiếng vì sợ nguy hiểm. Rồi tiếng chân xa dần, vòng ra phía sau trường, tức hướng nghĩa trang. Tôi tắt đèn, hé cửa sổ, nhìn ra ngoài. Trời đêm tối om, chỉ lờ mờ những nấm mộ nhấp nhô, mơ hồ dưới ánh sao đêm. Đột nhiên tôi giật mình, lạnh toát người khi nghe như từ xa vọng lại một câu nói: "Đừng chọc ghẹo vợ tôi...". Trong đêm vắng, hình như từ hướng nghĩa địa vọng lại, giọng nói ngọng nghịu, như của người bịnh, đớ lưỡi, thều thào rất khó nghe. Tôi nghĩ đến chồng cô ta và tưởng tượng như chồng cô ra khỏi mồ, đến phòng tôi, đứng đó một lúc, rồi đi về mộ, nằm xuống, hai mắt khép lại, hai tay để trên bụng theo tư thế lúc khâm liệm. Bao nhiêu năm trôi qua, anh ta nằm trong mộ, âm thầm tích lũy, dồn nén tình yêu thương vợ con, để rồi kêu lên một câu đau đớn, tuyệt vọng hơn là một lời cảnh cáo, hăm dọa...".
Nghe kể, tôi cũng ớn lạnh, nhưng trấn an anh ta:
"Có thể có anh chàng sĩ quan nào đó trồng cây si cô nàng, nay thấy anh xáp vô thì nhát ma cho anh sợ. Để tôi hỏi trong chi khu (lực lượng quân sự lo về an ninh trong quận), tối hôm qua, đơn vị nào đi kích thì biết ngay anh chàng sĩ quan đó. Không sao đâu. Tôi sẽ để anh gặp chàng sĩ quan kia để thông cảm nhau. Tạm thời anh đừng vào tiệm cô ta".
Anh ta phản đối:
"Không vào tiệm thì được, nhưng tôi vẫn tiến hành chuyện hôn nhân. Mới gặp lần đầu mà mẹ tôi đã có cảm tình với cô ta rồi. Tôi kể về cuộc đời cô ta và thú nhận đã yêu cô ta với mẹ tôi. Mẹ tôi sốt sắng lắm, dự định vài hôm nữa sẽ về đây gặp gia đình hai bên của cô ta để lo chuyện cưới hỏi. Tôi không lùi bước đâu!"
Tôi hỏi bên chi khu thì được biết, tối đó không đơn vị nào đi kích cả. Một tháng sau, thiệp mời dự tiệc cưới được anh ta gửi đến các đồng nghiệp, bạn bè, bà con bên nhà gái, các cấp chính quyền địa phương. Nhưng đến gần ngày cưới thì anh ta lại gặp một chuyện rùng rợn khác.
Một buổi sáng, anh ta vào quận gặp tôi: "Khi hôm tôi ngủ ở nhà cô vợ tương lai của tôi".
Tôi cười vì ngạc nhiên: "Chưa cho chúng tôi ăn cưới mà đã gửi rể sớm vậy?"
Anh ta lắc đầu: "Sợ chết khiếp! Tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện gửi rể."
"Lại chuyện ma chứ gì? Có người gõ cửa nữa phải không?"
Anh ta vẫn lắc đầu: "Hơn ma một bậc. Lúc khuya rồi, tôi chạy bán sống bán chết từ ngoài trường về tiệm cô ta. Có lẽ tối nay, tôi phải ngủ nhờ trong quận với anh vài đêm. Tôi đã tìm được nhà để thuê rồi, nhưng người chủ chưa dọn ra. Phải mươi hôm nữa, sơn quét, trang hoàng xong, rước dâu về đó luôn".
Tôi tò mò: "Chuyện ma ra sao? Không ngán sao mà vẫn tiếp tục làm đám cưới?".
Anh ta trầm ngâm: "Chuyện như thế nầy. Tối hôm qua, tôi vẫn còn ngủ ngoài trường, trong phòng thí nghiệm. Lúc đó hơn mười một giờ. Tôi nằm sấp trên giường, cắm cúi viết bài thơ từ trong quả tim đang yêu tuông ra những lời nồng nàn, say đắm. Anh biết là tôi làm thơ về người đẹp sắp là vợ tôi chứ gì? Cây đèn hoa kỳ (đèn dầu hôi) tôi để trên bàn, cạnh đầu giường. Lúc đầu tôi nghe một tiếng kẹt nhỏ ở cửa sổ, tôi cho là gió làm cửa đập vào nhau nên không lưu tâm. Một lúc sau, một tiếng động lớn hơn, tôi quay nhìn cánh cửa, thấy như cửa được mở rộng ra, nhưng chẳng thấy gì. Tôi cúi xuống, tiếp tục bài thơ dang dở. Tất cả vẫn yên lặng. Khoảng nửa giờ sau đó, tôi nghe tiếng tằng hắng ở cửa sổ, tôi quay nhìn, thấy một anh lính, đúng ra, một sĩ quan vì trên cổ áo có gắn hai bông mai. Anh ta mặc đồ tác chiến màu xanh ô liu, đội nón sắt, vành nón ngang tầm lông mày, đôi mắt nhìn tôi đăm đăm, không lộ vẻ buồn, vui hay dọa nạt. Tôi đoán anh ta dẫn lính đi kích, thấy phòng tôi có đèn sáng nên mở cửa sổ nhìn vào. Anh ta không cao lắm nên chỉ nửa người hiện ra trên song cửa. Tôi giơ tay lên, ra dấu chào anh ta rồi tiếp tục viết tiếp mấy giòng thơ. Nhưng giòng thơ bị tắt nghẽn vì tôi mang máng, như có gặp anh ta vài lần đâu đó. Ngay cái bảng tên "Hai" trên túi áo, tôi cũng thấy vài lần, nhưng không biết chắc là ai. Tôi nhắm mắt, nhíu mày, cố moi trí nhớ xem anh ta là ai? Khi tôi mở mắt ra thì bài thơ dở dang đó bị bóng tối che bớt một phần. Tôi quay nhìn. Thì ra anh ta đang chăm chú đọc bài thơ, đầu anh ta che mất ánh đèn. Mặt anh ta, gần sát mặt tôi, vành nón sắt như muốn chạm vào đầu tôi. Tôi nhìn anh ta định nói lời chào, nhưng sao mặt anh ta lại từ từ thay đổi một cách kỳ lạ? Lúc nãy mặt anh ta bình thường, giờ đây, dưới cái nón sắt đen ngòm bỗng trở thành méo mó, vặn vẹo khiến cho đôi mắt, miệng và mũi nằm như lộn chỗ. Tôi thét lên một tiếng kinh hoàng, bật ngửa người ra xa, suýt ngất đi. Anh biết sao không? Đầu anh ta thì sát mặt tôi nhưng thân hình anh ta vẫn mắt kẹt ngoài song cửa sổ. Nghĩa là đầu anh ta rời khỏi mình khoảng ba mét. Chẳng thấy cần cổ đâu? Tôi vung tay đập mạnh vào mặt anh ta, (nhưng chỉ đập vào khoảng không), rồi tung cửa chạy băng ra ngoài, miệng kêu to: "Đừng bắn. Tôi là thầy Toàn đây. Đừng bắn! Tôi là thầy Toàn đây...". Vì tôi sợ lính đi kích tưởng tôi là địch, bắn lầm. Tôi nhắm mắt chạy bừa, băng qua các nấm mộ. Đôi khi chân bị vướng những cây nhỏ hay gì đó, tôi lại càng hoảng, tưởng như mấy con ma dưới mộ thò tay lên níu chân tôi lại. Tôi chạy một mạch đến tiệm ăn đó, đập cửa và kêu lên để trong nhà biết là tôi, ra mở cửa. Cả nhà vẫn còn thức, lo dọn dẹp trong tiệm và chuẩn bị vật thực cho ngày mai. Tôi kể lại mọi chuyện. Ai cũng lộ vẻ kinh dị, riêng cô con dâu vẫn bình tĩnh, đi thắp nhang trên bàn thờ. Tôi lại càng sợ hơn nữa khi nhìn lên hình chồng cô ta trên bàn thờ. Gương mặt với bảng tên đúng là của anh ta. Anh ta hiện hồn lên gặp tôi với quân phục tác chiến, có lẽ anh ta đã mặc lúc tử trận. Cha mẹ chồng cô ta lộ vẻ phân vân, định hỏi tôi điều gì đấy nhưng còn đang lựa lời thì cô ta đã xin phép ông bà được gặp riêng tôi. Cô kéo tôi ra hiên nhà, phía sau, thì thầm: "Đó là hồn chồng em hiện về...". Nói đến đấy, cô khóc: "Chồng em chưa siêu thoát vì cứ vương vấn vợ con. Nhiều người muốn tiến đến với em đều bị chồng em hiện về, khi thì trong giấc ngủ, khi thì nửa đêm, đứng bên cạnh giường nói: "Đừng chọc ghẹo vợ tôi...". Thế là ai cũng sợ, không dám tiến tới, không dám gặp em nữa. Em biết chắc, trước sau gì chồng em cũng hiện ra nhát anh. Anh càng yêu em, ảnh càng nhát nhiều lần, cho đến khi anh sợ, rút lui mới thôi. Bây giờ, sự việc đã như vậy rồi, quyết định là ở anh chứ em không dám có ý kiến. Tình cảm của em dành cho anh rất nhiều vì biết anh thương con em, lo lắng cho nó. Em nghĩ, vong linh chồng em cũng mong chừng đó thôi. Nếu anh sợ, anh có thể về thưa ba mạ anh cho ngưng lễ cưới. Sáng mai anh về Huế, còn em thì đi báo cho mọi người tiệc cưới sẽ tạm ngưng, nghĩa là sẽ không có lễ cưới và chúng ta ai đi đường nấy. Em rất đau khổ khi khuyên anh không nên tiếp xúc với em. Em không muốn anh vừa yêu em lại vừa sợ. Vì nếu không dứt khoát, vong linh chồng em càng làm dữ hơn nữa. Đời em coi như thêm một lần dang dở. Em không buồn đâu. Anh yên tâm, đừng áy náy về việc từ hôn nầy, em đã biết trước, đã chuẩn bị tư tưởng trước rồi". Nói xong, cô khóc nức nở. Tôi cầm tay cô ta, nói lớn như muốn cha mẹ chồng cô cùng nghe: "Bây giờ em vô thắp nhang, khấn vong linh chồng em, hiện ra bóp cổ cho anh chết, thử xem anh có lùi bước không? Yêu em, thương con em, anh sẵn sàng đối mặt với mọi nguy hiểm, sá gì chuyện bị nhát ma. Chồng em có thể nhát anh bao nhiêu lần cũng được, anh sợ, nhưng cái sợ đó không thắng được tình anh thương yêu mẹ con em. Anh vẫn tiến hành việc hôn nhân với em. Hay là em muốn từ chối lời cầu hôn của anh?" Cô yên lặng lắng nghe rồi lắc đầu và ngước nhìn tôi, mắt long lanh như muốn cười: "Cám ơn anh. Em mừng quá. Để em vào báo cho con biết là có người nhận lời cùng mẹ thương con, lo cho con. Con ngủ rồi, nhưng nó hiểu. Em chỉ xin một điều. Trước ngày cưới một tuần, anh để yên cho em và mẹ chồng em được rảnh rang vào chùa làm lễ cầu siêu cho chồng em. Mẹ và các anh chị của em sẽ lo mọi chuyện về đám cưới. Anh đừng bận tâm ".
Sau lễ cưới, hai người dẫn thằng bé lên Đà Lạt hưởng tuần trăng mật.
Vào cuối năm dương lịch, tôi và một số thầy cô dạy trường Quảng Điền được cặp vợ chồng mới nầy mời đến nhà dự bữa cơm thân mật. Nhà hơi chật nên bàn ăn được đặt ngoài hiên. Ngoài trời mưa lất phất, tuy hơi lạnh nhưng có chút rượu sưởi ấm nên mọi người vui vẻ thưởng thức các món ăn do cô chủ nhà trổ tài nấu nướng. Chúng tôi mời mẹ con cô chủ nhà cùng ngồi vào bàn bên cạnh chồng.
Trong lúc thấm rượu, tôi hỏi gia chủ: "Sao? Còn bị ma nhát nữa không?" Chuyện ma nhát anh ta, như tôi đã kể ở phần trên, nếu anh ta bảo: "Tất cả những gì anh nghe được đều do tôi phịa ra" thì tôi cũng chịu thua, không thể xác nhận được với mọi người, vì ma là sản phẩm gần như vô hình, chỉ duy nhất người gặp ma với con ma đó biết mà thôi. Thầy giáo yêu một người đàn bà, cưới làm vợ là bình thường, làm gì có ma chen vào? Thế nên, mọi người ngạc nhiên nhìn tôi và anh ta với nhiều thắc mắc. Tôi vắn tắt cho khách mời hiểu: "Ông thầy nầy yêu người đẹp góa chồng, nhưng hình như người chồng quá cố không muốn ai chọc ghẹo, tỏ tình với vợ mình nên thường hiện lên nhát ma để cản trở ý định của mấy anh chàng si tình. Thầy Toàn cũng bị ma nhát, có sợ ma nhưng quyết tâm tiến đến với người đẹp, vì thế mà mà hôm nay chúng ta mới được đôi bạn nầy mời đến dùng cơm". Một người hỏi "Ma nhát anh ra sao? Kể lại cho tụi nầy nghe với. Chẳng ai biết chuyện đó?". Anh chàng thầy giáo thi sĩ chỉ tay qua cô vợ: "Trước ngày cưới thì tôi bị ma nhát thật, nhưng sau ngày cưới, hoàn toàn không còn ma quỉ gì nữa. Thú thật tôi không biết lý do. Muốn biết vì sao thì xin hỏi cô chủ nhà của tôi đây".
Chị chủ nhà ngưng đũa, mỉm cười, giọng nhỏ nhẹ:
"Chỉ có em hiểu được chồng em. Từ ngày tử trận, vong linh chồng em chưa được siêu thoát vì còn vương vấn vợ con. Thương vợ thì ít nhưng thương con thì nhiều. Chồng em biết rõ mình không thể bắt vợ ở vậy thờ chồng suốt đời mà chỉ cần người nào đó lấy em làm vợ phải thương con ảnh, lo lắng, thương yêu, đùm bọc con ảnh".
Tôi hỏi: "Biết vậy sao còn ghen tương? Chàng nào ngấm nghé người đẹp thì ông ta hiện hồn nhát ma, khiến ai cũng sợ, rút lui có trật tự!".
Cô lại cười: "ảnh nhát ma đâu có phải vì ghen".
Mọi người ngạc nhiên: "Không ghen sao lại nói: "Đừng chọc ghẹo vợ tôi"? Thầy Toàn dự định cưới chị, hồn ma anh ta lại càng làm dữ? Tụi tôi mà là thầy Toàn, bị dọa như vậy chắc chắn mất tinh thần, hết dám yêu chị. Hơn nữa, thầy Toàn đã hứa là sẽ thương yêu, bảo bọc thằng bé, hồn anh ta lại nhát ma càng rùng rợn hơn nữa?"
Cô vẫn nhỏ nhẹ: "Đã hứa thương yêu con ảnh, nhưng phải là người có tư cách, bản lĩnh, nhất là phải cương quyết, hứa là phải làm. Người hèn nhát, chỉ mới dọa đã sợ thì không thể tin cậy được. Khi em nghe anh Toàn kể lại chuyện chồng em nhát ma mấy lần mà anh Toàn vẫn không đổi ý là em biết vong linh chồng em yên tâm rồi".
Thấy cô chủ nhà vui vẻ, chúng tôi vừa cười vừa hỏi: "Hôm đám cưới, anh ta có đến chúc mừng "Trăm năm hạnh phúc không?"
Chị ta nghiêng người ôm con, tựa má vào đầu thằng bé và nói: "Đã có người lo cho vợ con ảnh, nên ảnh đã đi luôn rồi. Đã siêu thoát rồi. Em biết chắc như vậy".
Phạm Thành Châu