bidong
Dec 31 2008, 11:39 AM
Phiếm Luận Năm Sửu: TRÂU ƠI TA BẢO TRÂU NÀY …
Trần Đỗ Cẩm
Nhân dịp Tết Kỷ Sửu năm nay, chắc quý độc giả thân mến không ít thì nhiều cũng đã sắm sửa bánh trái, hoa quả, đồ ăn, thức uống... để cùng gia đình và bạn bè thưởng Xuân. Tuy có thể không đầy đủ lệ bộ "thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh" như khi còn ở quê nhà, nhưng "kiết cú như ai cũng rượu chè", thế nào cũng có bánh chưng, bánh tét, mứt gừng, mứt bí, hạt dưa v.v... cho ra vẻ ngày tư, ngày tết.
Nhưng dù món ăn "vật chất" có ê hề, đầy đủ bao nhiêu mà thiếu món ăn "tinh thần" là tờ báo xuân thì ngày tết cũng thiếu hẳn hương vị đậm đà, quen thuộc. Mà báo xuân không có bài Sớ Táo Quân và bài phiếm luận về con giáp cầm tinh thì chẳng khác gì mâm cơm Tết thiếu thịt kho dưa giá, mùa xuân thiếu hoa, trái đất thiếu mặt trời, đàn ông thiếu... đàn bà, nghĩa là thiếu tất cả phải không quý vị? Trong ý hướng cao đẹp đó, tác giả trân trọng cống hiến quý vị bài phiếm luận năm con Trâu, trước để hùng hồn chứng tỏ tinh thần bốn ngàn năm văn hiến "về nguồn" với hy vọng các cụ trong hội Cao Niên khỏi chê trách là ăn hotdog, hamburger nhiều nên mất gốc, sau là gửi tới quý vị một món quà tinh thần góp vui vào dịp đầu năm.
Trước khi kính mời quý vị nhàn nhã ngao du trên mình trâu, thiết tưởng cũng nên có đôi lời phi lộ, kiểu "mất lòng trước, được lòng sau" cho phải phép và nhất là tránh mọi hiểu lâm vô ý hay cố ý. Tuy mục đích trong sáng và hướng thượng của tác giả chỉ là giúp vui mọi người trong dịp xuân về khiến ai nấy đều thoải mái, vui vẻ, tươi cười như ông địa trong đoàn múa lân, nhưng biết đâu lại không có vài vị nho chùm, "hán" rộng chuyên suy bụng ta ra bụng người hiểu lầm ý hướng rất cao đẹp nói trên? Hơn nữa, trước khi vác bút ra đi, mẹ đĩ cũng hăm he rằng nếu muốn còn hàm răng để cạp "dú sữa" hay cắn "bánh dầy", bánh chưng, hãy khôn hồn mà kính nhi viễn chi, đừng để bị lôi kéo vào chốn thị phi giang hồ, gặp cảnh "trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết". Cũng cần nói thêm, "phiếm luận" nguyên là chữ viết văn hoa của nền văn chương bác học, được dịch nôm trong giới văn chương bình dân là "nói phét". Tuy "nói phét có sách, mách láo có chứng" nhưng tựu trung vẫn là nói... dóc, nên tác giả cũng không bảo đảm hay cầu chứng tại tòa những điều nêu ra trong bài phét... luận này là đúng 72 phần dầu đâu. Vì vậy, theo đúng tôn chỉ và điều lệ của trường phái "nói phét", tác giả đề nghị quý vị nam phụ lão ấu, già trẻ lớn bé chỉ nên "đọc qua rồi bỏ"; thảng hoặc có ai tưởng thật cũng không sao, nhưng nếu có phải đổ cả thóc giống ra mà ăn thì... ráng chịu.
Whew! Dài dòng như trên nhưng tóm tắt chỉ đi đến một kết luận rất rõ ràng: mục đích duy nhất của bài phiếm luận con Trâu chỉ để "trước mua vui, sau làm nghĩa". Trong tinh thần dĩ hòa vi quý, tác giả không giám hàm ý, ngụ ý hay tỏ ý nói xiên, nói xéo, nói xỏ bất cứ cá nhân, phe phái, đoàn thể nào, mà ngược lại chỉ muốn suy tôn ngưỡng mộ, bốc thơm tất cả mọi tầng lớp già trẻ trai gái để vui vẻ cả làng. Nếu chẳng may trong lúc ngẫu hứng, xuân tình dào dạt, rượu vào lời ra, vô tình có lời lẽ làm phật lòng bất cứ ai, đó là lỗi lầm của... ấn công, đầu năm đầu tháng mong quý độc giả từ bi hỉ xả, niệm tình tha thứ và bỏ quá đi cho. Để chứng tỏ thiện chí "hình nhi thượng" cao đẹp đó, tác giả thành thực cầu chúc quý độc giả thân mến của bổn báo, con cái cháu chắt, cả những người thân hay không thân, một mùa xuân như ý sở cầu, vui tươi tốt đẹp, nhất bản vạn lợi, đàn ông lúc nào cũng phương phi, vui vẻ, mạnh khỏe cầy mạnh như trâu để bà xã hài lòng; còn quý "quần bận yếm mang" thì mát mẻ, tươi trẻ, da dẻ hồng hào, nghé ngọ suốt năm.
Sau thủ tục "đầu tiên" rào trước đón sau và chúc tụng đầu xuân theo đúng Tôn Ngô binh pháp "tiên lễ hậu binh", kính mời quý vị theo mục đồng tôi cùng đi thăm họ hàng nhà Trâu.
Nhìn chung, trâu thuộc giống nhai lại như bò, do đó chúng ta thường thấy ban ngày trâu gặm cỏ hay ăn rơm cho đầy bụng, rồi tối vào chuồng nằm, thong thả "ợ" rơm cỏ từ dạ dày lên miệng để nhai lại. Trâu là bạn trung thành của nhà nông từ ngàn xưa, đã chung lưng góp sức với người để cày bừa vất vả để mang lại thóc lúa nuôi sống con người. Do đó, chọn trâu tốt giống là một trong ba điều tối quan trọng trong việc xây dựng gia đình cũng như xã hội. Nông dân Việt Nam thường nhắc:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
Trong ba việc ấy lọ là khó thay
Theo các nhà khảo cứu, Trâu là loài gia súc rất quen thuộc tại các nước Á Châu vốn lấy nghề nông làm căn bản như Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ, Thái Lan, Nam Dương v.v... Vào năm 1985, các khoa học gia ước lượng tổng cộng có chừng 130 triệu con trâu trên thế giới. Trong Anh ngữ, loại trâu Á đông được gọi là "water buffalo" hay trâu nước, mang tên khoa học "bubalus bubalis" để phân biệt với loại "bufalo" hay "trâu khô" có nhiều ở Châu Mỹ. Trâu nước là loại trâu ưa đầm mình dưới vũng bùn hay vũng nước. Thật ra, loại 'buffalo" nên gọi là giống bò rừng mới đúng vì có lông dài, thuộc loại "bison". Sách Tam Thiên Tự (ba ngàn chữ) là một cuốn sách cổ, không rõ tác giả, dạy chữ Hán (chữ Nho) cho người Việt. Sách xếp 3.000 chữ Nho và nghĩa tiếng Việt của chúng, như một bài vè, mỗi câu hai âm, khi đọc lên thì có vần cho dễ nhớ, thời trước dùng để dạy người ta học tiếng Hán có đề cập đến trâu. Trong sách có những câu vần như: "Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, cự cựa , nha răng…kết thúc với chữ cuối "Tự chữ, Từ tờ". Trong Tam thiên tự có một lỗi lầm cho tới nay vẫn còn, đó là định nghĩa chữ ngưu, như đề tài chúng ta đang đọc. Tam thiên tự viết "Ngưu trâu, Mã ngựa", nên vẫn có nhiều người dịch ngưu (buffalo) là trâu và dịch thủy ngưu(water buffalo) là trâu nước. trong khi thực ra ngưu là bò và thủy ngưu mới là trâu. Thôi thì ta cứ xem ngưu là trâu. Người Trung Hoa vẫn gọi "ngưu" là con bò, như trong sách nhà Phật có "Thập Ngưu Đồ" tức là mười bức tranh bò, nên trong đó vẽ con bò.
Trâu cũng như đa số các loài gia súc khác như chó, mèo, heo, ngựa, gà v.v... nguyên là loài vật sống nơi rừng núi hoang dã, sau này được loài người nuôi nấng dạy dỗ nên lâu ngày nên trở nên thuần thục trở thành gia súc. Hiện nay, giống như chó rừng (chó sói), mèo rừng, ngựa rừng, heo rừng v.v..., có nhiều loại trâu rừng sống nơi các đồng cỏ, nhất là tại Phi Châu. Trâu rừng sống từng đàn có khi tới hàng ngàn con để nương tựa và bảo vệ lẫn nhau chống lại các loại ác thú như hùm, beo, sư tử v.v... Vì vậy, cọp beo tuy rất hung dữ, nhất là khi đói mồi, nhưng cũng ít giám mạo hiểm xông vào bầy trâu rừng để kiểm ăn. Các loài thú lanh lẹ khác như hươu, nai, ngựa vằn v.v... thường "chạy" để trốn tránh đối thủ, còn trâu rừng chậm chạp, không chạy nhanh được nên phải hợp quần để chống lại giống sài lang. Khi bị cọp beo tấn công, bầy trâu rừng tập họp quây quần thành một vòng tròn lớn để bảo vệ những con nghé hoặc trâu già yếu ở bên trong, còn những con trâu khỏe mạnh có cặp sừng nhọn phòng thủ bên ngoài không cho địch thủ xâm nhập. Nếu cọp beo liều lĩnh tấn công, bầy trâu sẽ đồng loạt cúi thấp đầu xuống đưa một hàng rào sừng nhọn hoắt như vạt tre vót nhọn nêu địch thủ xông vào sẽ bị húc lòi ruột.
Sau này, vì trâu có sức mạnh, dễ nuôi, bản tính lại tương đối hiền hòa nên được loài người chiêu dụ, trở thành gia súc để kéo xe hay kéo cầy, giết thịt hay lấy sữa. Có thể nói ngay từ thời tiền sử khi loài người biết trồng cấy, trâu đã là loài vật sát cánh với con người trong cuộc tranh đấu với thiên nhiên để sống còn. Do đó, đối với nông dân trâu trở thành bạn hữu thân thuộc hơn cả gà, chó, ngựa, heo v.v... Theo sách khoa học, tuy gọi được gọi chung là trâu, nhưng ngoài cách phân biệt tổng quát giữa trâu rừng và trâu nhà, còn được chia thành nhiều loại, nhiều giống. Trước hết là giống trâu Arni là một loại trâu rừng sinh sống ở rừng núi bên Ấn Độ. Trâu Arni có da màu xám hay đen, to con, khỏe mạnh nên là loại trâu được gia súc hóa từ hàng ngàn năm nay. Bên Ấn Độ, ngoài trâu giống Arni, còn có rất nhiều loại khác như Murrah, Kundi, Nili, Ravi. Tại vùng Đông Nam Á, điển hình là Việt Nam và Trung Hoa, đa số các loại trâu đều thuộc về giống 'trâu đầm" (swamp buffalo) hay trâu nước gọi tắt là trâu như thường thấy ở Việt Nam, nhất là ngoài Bắc Việt. Trâu nhà Việt Nam bắt nguồn từ giống trâu rừng Arni, trông chắc nịch và mạnh khỏe như loại bò kéo xe. Vì loại trâu nhà này to con, có thể nặng từ 250 kg đến 1000 kg, nên còn được dùng để xẻ thịt. Đa số trâu nhà lại Việt Nam và Trung Hoa được dùng để kéo cầy, bừa hay trong công việc đồng áng. Trâu cũng được dùng để kéo xe, có thể đi tới 30 cây số trong một ngày với xe nặng hàng tấn. Các loại trâu nhà thông dụng gồm có: Albinoid, Shanghai, Tamarao... Bên Nam Mỹ còn có loại trâu Rosilho, trông khá giống trâu Việt Nam. Theo thống kê, trâu nhà được nuôi nhiều nhất tại các nước thuộc Á Châu. Ở Trung Hoa có vào khoảng từ 20 đến 25 triệu con; Thái Lan và Phi Luật Tân chừng 5 triệu con; Nepal khoảng 4 triệu con; lndonesia khoảng 2 đến triệu con; Việt Nam và Miến Điện chừng 2 triệu con.
Ngoài các chủng loại nêu trên, trâu còn có nhiều màu sắc khác nhau. Thông dụng nhất là loại trâu da xám sậm, chúng ta thường quen gọi là trâu đen. Có loại lông thưa, da màu xám nhạt gần như xanh như sách cổ có nói Lão Tử, giáo chủ của phái "thanh tịnh vô vi" thường cưỡi con "thanh ngưu" đi ngao du khắp thiên hạ. Trong nhạc phẩm "Ngày Trở Về" của nhạc sĩ Phạm Duy cũng có câu "... có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ". Ngoài hai loại trâu xám và trâu xanh, còn có loài trâu trắng tương đối hiếm.
Trâu trưởng thành nặng khoảng từ 250 đến 500 kg. Loài trâu rừng hoang dã lớn hơn thế rất nhiều, con cái có thể nặng 800 kg, con đực lên tới 1,2 tấn, và cao tới khoảng 1,8 m. Trâu rừng châu Á có cặp sừng dài nhất trong số các loài thú có sừng trên thế giới. Mới đây, tại Việt Nam, một bộ sừng trâu rừng lớn chưa từng thấy đã được phát hiện, ước đoán to hơn trâu rừng hiện nay rất nhiều. Ấn Độ là nước nuôi nhiều trâu nhất trên thế giới. Ở nước này người ta sử dụng sữa và thịt của trâu thay cho bò.
Nước Việt Nam có các đồng bằng phì nhiêu thuộc miền châu thổ sông Hồng Hà và Cửu Long do đó nông nghiệp tại nước ta đã được phát triển từ thời xa xưa. Con trâu vì vậy thường được coi như người bạn thân thiết và trở thành biểu tượng rất phổ thông của dân quê Việt Nam. Vì vậy, ngoài việc chia sẻ nỗi cực nhọc với nông dân trong đời sống hàng ngày, trâu còn gắn liền với phong tục, tập quán của dân Việt từ ngàn xưa, điển hình là trâu đã được dùng để mang tên một trong mười hai con giáp. Trong số những con giáp, trâu không những là con vật lớn nhất mà có lẽ còn gần gũi với chúng ta nhất đến nỗi đã trở nên một phần tử trong gia đình, đồng cam cộng khổ như trong câu ca dao sau đây:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa
Tình thân này sân đậm đến nỗi lắm khi trâu còn được coi như một người bạn tâm sự thực tình quý mến, cùng chia xẻ gian lao nhọc nhằn với nông dân ngoài đồng vào những buổi trưa hè nóng bức.
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đây ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Trong đời sống hàng ngày của dân quê, hình ảnh của con trâu quen thuộc cũng thường được nhắc nhở qua những câu tục ngữ hay ví von rất ý nhị ngụ ý khuyên răn người đời.
Đời là một cuộc cạnh tranh liên tục nên kẻ chậm chạp dễ bị thua thiệt. Muốn chiếm lợi thế trong công việc làm ăn, hình ảnh bầy trâu cùng kéo nhau xuống một vũng nước được gợi lên để khuyên mọi người hãy tích cực mau mắn để chiếm lợi thế như câu "trâu chậm uống nước đục". Nhiều khi trong cuộc tranh giành quyền hành giữa những thế lực to lớn lại gây thiệt hại lây tới những kẻ thấp cổ bé miệng vô can. Vì vậy, các cụ ta thường nói "Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết". Những người làm việc không có hệ thống hợp lý, thiếu thứ tự mạch lạc trước sau, người đời chê là "Đặt cái cầy trước con trâu". Đây là kiểu cách làm việc và lý luận của những kẻ hiện đang hô hào hợp tác với Việt Cộng để xây dựng đất nước Việt Nam. Dưới chế độ độc tài đảng trị, Việt Cộng là thủ phạm chính đang tàn phá đất nước, là trở ngại lớn nhất, vì vậy muốn tái thiết, chúng ta cần phái tiêu diệt lũ sâu bọ hại dân hại nước này trước. Để ám chỉ những ai biếng nhác, chưa làm đã muốn nghỉ, người đời có câu mỉa mai "sáng tai họ, điếc tai cầy". "Họ" là tiếng riêng của thợ cầy bảo cho trâu hiểu hãy ngưng kéo cầy. Khi muốn trâu kéo cầy trở lại, nông phu nói "vắt, vắt" để trâu đi. Những ai thường ganh tị, gièm pha, không ưa người thành công hoặc có miếng ăn miệng để hơn mình, tục ngữ mệnh danh là "Trâu cột ghét trâu ăn". Ngoài ra, chúng ta cũng thường nghe mọi người ví von: "Khỏe như trâu", "Thở như trâu", "Anh hùng chết lỗ chân trâu" v.v...
Ngoài những câu tục ngữ, ví von, ca dao cũng là kho tàng văn chương phong phú phản ảnh trung thực nếp sống của giới bình dân. Trong ca dao hay trong những dịp lễ tết quan trọng, con trâu cũng thường là đầu câu chuyện.
Ngày xưa khi thách cưới, ngoài trầu cau, nhà gái thường "thách" đàng trai nạp sính lễ thêm một con thú "bốn chân" ngụ ý nhỏ cũng phải là heo, lớn là trâu bò để làm đám cưới linh đình đãi họ hàng làng nước cho nở mày nở mặt. Nhưng chẳng may gặp phải chàng rể tương lai nghèo, không mua nổi con vật bốn chân nên đành phải bào chữa:
Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng đau gan
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng
Đôi khi, dù chàng trai đã cố gắng hết sức để đáp ứng lời thách cưới, nhưng nhiều cô gái hợm hĩnh vẫn chanh chua cho rằng mình còn cao giá hơn nhiều:
Anh về bán ruộng cây đa Bán cặp trâu già mới cưới đặng em.
"Ruộng cây đa" là ruộng ở đầu làng, địa điểm thuận tiện nhất nên rất quý hiếm và đắt giá.
Nói tới chuyện lứa đôi, dựng vợ gả chồng, các cụ ta ngày xưa thường kén chọn nàng dâu, chàng rể rất kỹ càng, nhiều khi chính các "đương sự" cũng không được tham khảo ý kiến, theo đúng quan niệm "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó". Vì "Cưới vợ xem tông, lấy chồng coi giống", chàng rể cần phải có "giống" tốt, để "cấy" một phát vào đám mạ non là kết quả trông thấy ngay. Nhưng "giống" dù có tốt mà "ruộng" cằn cỗi, nước nôi không đầy đủ thì lúa mọc làm sao được phải không quý vị? Do đó cần phải chọn lựa nàng dâu kỹ càng hơn để kiếm người "vượng phu ích tử", lắm con nhiều cái. Nhưng ngặt một cái ngày xưa "nam nữ thụ thụ bất thân", đâu có vụ ôm eo ếch, hôn hít, sờ mó, xào ướt, xào khô thả giàn như bây giờ. Mà chưa mở cuộc "thám hiểm" thì làm sao biết thửa ruộng của ai kia thuộc loại lá tre, lá vông hay lá mít? Ướt hay khô? Có mầu mỡ phì nhiêu không? Chỉ còn cách "trông mặt mà bắt hình dong", xem tướng bên ngoài mà suy đoán "phần trong" vậy! Đối với dân quê mộc mạc, họ chỉ cần đem kinh nghiệm mua trâu áp dụng vào việc chọn "nái" là trúng phóc như "Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi".
Trâu, ngoài việc trợ giúp đắc lực cho nông dân trong việc đồng áng, còn là con vật rất hữu dụng và rất có giá trị trong những dịp quan hôn tang tế. Đám cưới hoặc đình đám trong làng có "vật trâu" hay mổ bò là một đám lớn. Khi khấn vái thánh thần, hứa tạ lễ bằng trâu cũng là một dịp đền ơn quan trọng.
Đối với những cô gái trong làng hay kén chọn, phải "chổng mông mà gào" đến nỗi bị mắc bệnh "hoảng chưa", tuy tội nặng khó tha thứ, có thể bị "gọt đầu bôi vôi", nhưng chỉ cần nạp một con trâu cho làng xã thì cũng được tha tội. Không có trâu, chỉ còn có nước bỏ làng ra đi:
Phềnh phềnh lớn giữa lớn ra
Mẹ ơi! Con chẳng ở nhà được đâu
Ở nhà làng bắt một trâu
Cho nên con phải đâm đầu ra đi
Dân quê thuở trước thường mê tín, dị đoan, khi gặp hoạn nạn, nguy hiểm hay đi cầu thánh cầu thần cứu giúp, xin cúng trâu để đền ơn tạ lễ. Đối với những người lúc cúng vái thì hứa hẹn đủ thứ, nhưng khi tai qua nạn khỏi lại quên hết, ca dao có câu chế nhạo:
Cầu được khẩn bà một trâu
Được rồi thì có trâu đâu cho bà
Để nhắc nhở mọi người hãy nhớ tới tình tự dân tộc, đừng nên vọng ngoại hay đứng núi này trông núi nọ, kiểu như người Mỹ thường nói "the grass is greener at the other side of the fence", (bên kia hàng rào, cỏ xanh tươi hơn), dân ta có câu nhắc nhở khéo léo:
Trâu ta ăn cỏ đồng ta,
Tuy là cỏ lụt nhưng là cỏ thơm
Câu này ý nghĩa cũng tương tự như "ta về ta tắm ao ta, du trong dù đục ao nhà vân hơn". Viết đến đây, tác giả không khỏi "dở nón thán phục" các cụ ta ngày xưa, vì những câu "ví von" không những đúng phóc từ hàng ngàn năm về trước, mà chân lý còn "vượt thời gian và không gian" theo chân người Việt tỵ nạn sang mãi tận Tạp Chủng Quốc Huê Kỳ. Bằng cớ là hiện nay có thiếu gì các vị liền ông liền bà người Mỹ gốc Đại Cồ Việt, da dùng kem này kem nọ để tẩy, để cạo tối ngày nhưng vẫn vàng ủng như nghệ, mũi thì sửa lên sửa xuống hàng chục lần mà vẫn xẹp lép giống cái bánh tráng, ấy vậy mà đã quên khuấy cả "ao ta" lẫn "đồng ta". Các vị này - nếu là giống cái - chê rằng đàn ông Việt Nam thuộc loại ao đục, nước không được trong xanh đẹp đẽ như mắt mèo của mấy tên mọi Da Đỏ nên ca bài tẩu mã. "ôm cầm sang thuyền khác" theo tụi mũi lõ, bất kể tình nghĩa. Có dè đâu chỉ trong một thời gian ngắn, khi tiền hết không còn đủ để mua "drug" thì tình cũng tan, muốn quay về cùng "quốc gia dân tộc" thì đã quá muộn. Còn đối với các vị liền ông con trai cũng phải cẩn thận, vì nhiều vị tỏ ý chê cỏ "ruộng ta" là cỏ cụt không thèm cắt, trong khi chắc lưỡi hít hà, lại khen "cỏ" của mấy cô hồng mao vừa dài vừa xanh, chỉ mới nhìn sơ thôi cũng đã đủ khoái con mắt, nếu được làm "groundskeeper!' chắc là khoái tỉ lắm. Vâng, thưa quý vị, đám cỏ "xanh rợn chân trời" kia coi đã thật, rờ tay vào chắc mát rượi, êm mượt như nhung tơ thật, nhưng coi chừng, bèn dưới có nhiều "bug" lắm ạ, không khéo bị nó "cắn" có chầu mất giống ! Ngoài ra, nếu vô phúc, mả tổ táng phải "hàm chó, vó ngựa", mà vớ phải đám cỏ . . . gốc Phi Châu hay gốc Xì chuyên được bón bằng "tacos" mí lị "tamales" thì có nước mà bỏ hút. Vả lại. dính dáng đến mấy đám cỏ phải gió này, nay phải tỉa, mai xén, mốt cần bón phân ... làm lụng hùng hục tối ngày sáng đêm, còn gì thân thể? Chủ nhân lại chỉ cho đớp hamburger và hót dog cầm canh, nhớ mùi mắm tôm, mắm ruốc "quốc hồn quốc túy" chịu sao nổi? Thôi, nhân dịp đầu năm đầu tháng, tác giả xin có lời khuyên muốn cho gia đình đầm ấm, trên thuận dưới hòa thì "vợ bảo chồng vâng" cứ "ta cầy ruộng ta", cơm nhà quà vợ là xa lộ an toàn nhất, bí quyết của hạnh phúc lứa đôi đấy quý vị ạ.
Sau khi có vài lời bàn kiểu Mao Tôn Cương để lấy phước cho con cái và thay đổi không khí, nay trở lại chuyện Trâu để khỏi bị các bình luận gia văn học chê là lạc đề. Ngoài ca dao và tục ngữ, Trâu cũng còn là đề tài rất quen thuộc trong kho tàng chuyện cổ tích dân gian được nhiều người biết tới.
Đầu tiên, về sự tích con trâu, người ta kể rằng ngày xưa, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy dương gian đói khổ, loài người không có đủ lúa gạo ăn, còn súc vật như lừa, ngựa, bò, cừu ... không có đủ cỏ để gặm. Ngài bèn sai Tiên Đồng mang xuống hạ giới một bó lúa và một bó cỏ thần "gieo đâu mọc đấy" để gây giống làm thức ăn cho người và vật. Xuống tới trần gian, Tiên Đông thấy cảnh đẹp, đàn bà con gái hấp dẫn nên sao lãng nhiệm vụ, quên cả công tác được giao phó, chỉ gieo bó cỏ mà quên mất bó lúa. Do đó cỏ mọc lan tràn mà không có lúa khiến loài người vẫn thiếu thực phẩm. Ngọc Hoàng nổi giận, phạt Tiên Đồng biến thành con trâu, bắt gặm bớt cỏ để chuộc lỗi. Từ đó, loài trâu tuy phải làm việc đồng áng cực nhọc, nhưng chỉ được ăn cỏ để đền tội mê gái xưa.
Khi còn nhỏ, chắc đa số chúng ta thường được nghe kể chuyện "Thằng Bờm có cái quạt mo, phú ông xin đổi ba bò chín trâu". Quạt mo là cái quạt làm bằng mo cau khô không đáng giá là bao. Bờm là một chàng lãng tử, suốt ngày rong chơi với cây quạt mo phe phẩy. Một ông nhà giầu thấy Bờm ta lúc nào cũng có vẻ nhàn hạ bèn gạ Bờm xin đổi của cải để lấy cái quạt mo mà phú ông cho là báu vật có công dụng giúp con người bớt được những lo lắng, phiền muộn của cuộc đời. Phú ông đề nghị đổi nào "ba bò chín trâu", nào "ao sâu cá mè", nào "bè gỗ lim", "chim đồi mồi" v.và nhưng Bờm ta vẫn "sài lắc" không chịu. Cuối cùng, Bờm lại bằng lòng đổi quạt mo lấy nắm xôi của phú ông. Khi nghe chuyện này, nhiều người cho rằng thằng Bờm rất dại, vì trâu bò, ruộng vườn đáng giá hơn nắm xôi rất nhiều. Nhưng biết đâu Bờm đã rất khôn, vì giầu sang phú quý trên đời lắm khi chỉ dưa đến lo âu phiền muộn, chưa chắc đã được ung dung tự tại, an hưởng như ăn nắm xôi trong tay.
Một chuyện cổ tích cũng liên quan tới Trâu trẻ con rất ưa thích dược rất nhiều người kể nhất là vào dịp Tết Trung Thu khi ngắm trăng, đó là chuyện "Thằng Cuội ngồi gốc cây đa, bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời". Cuội là một chàng chăn trâu nổi tiếng "nói dối như Cuội", đem lòng yêu nàng Hằng Nga trên cung Quảng. Tuy thân phận nghèo hèn nhưng tình yêu chân thành của Cuội khiến cô Hằng cảm dộng và chấp nhận. Cuội được đưa lên cung Quế để đời đời chung sống với người yêu. Do đó trên mặt trăng muôn thuở in hình chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa. Sau này nhà thơ say Tản Đà chán cảnh thế gian điên đảo, đã ao ước được làm chú Cuội:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nữa rồi
Cung quế có ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
. . . . . . .
Nhưng trong số cổ tích, ý nhị và cảm động nhất có lẽ là câu chuyện tình Ngưu Lang và Chức Nữ. Tương truyền rằng ngày xưa có chàng Ngưu Lang là một mục đồng chăn trâu, vì cơ duyên nay mắn nên gặp được một nàng tiên trên trời tên là Chức Nữ. Hai người đem lòng yêu nhau nhưng trời không chấp nhận mối tình tiên tục này. Trời bắt hai người phải xa nhau bằng cách đầy Ngưu Lang ở một bờ sông Ngân Hà trên thượng giới, còn Chức Nữ ở bên kia sông để đời đời không bao giờ được gặp nhau. Tuy hai người bị cách mặt nhưng vẫn không xa lòng, lúc nào cũng nghĩ tới nhau. Tình yêu thắm thiết và chung thủy này khiến Trời cũng cảm động nên cho phép hai người mỗi năm được gặp nhau mỗi năm một lần vào tháng bảy. Vào ngày hội ngộ, nhiều con quạ chắp cánh liền nhau thành một cây cầu bắc qua sông Ngân để đôi tình nhân muôn thuở bước qua gặp nhau. Do đó cây cầu này được gọi là cầu Ô Thước tức là cầu quạ đen. Nước mắt mừng tủi của Ngưu Lang và Chức Nữ trong dịp hội ngộ hiếm có hàng năm biến thành những giọt mưa rơi xuống trần thế, gọi là mưa Ngâu, từ chữ Ngưu (Ngưu Lang) mà ra. Sau này, người đời hường dùng thành ngữ "vợ chồng Ngâu" để chỉ những đôi uyên ương yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh phải chia cách. Tưởng cũng nên biết bên Trung Hoa cũng có câu chuyện tình "đầu sông cuối sông" tương tự như chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ tuy khá hay, nhưng không thắm thiết và có ý nghĩa bằng. Đó là 4 câu thơ thường được người ta lấy ra từ bài "Trường tương tư" của Lương Ý Nương, đời Hậu Chu bên Trung Hoa:
Ngã tại Tương Giang đầu
Quân tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương Giang thủy
(Thiếp tại đầu sông Tương
Chàng ở cuối sông Tương
Nhớ nhau nhưng chẳng gặp
Cùng uống nước sông Tương)
Chuyện kể rằng chồng bà Lương Ý Nương bị sung công, đi lính thú cho vua nhà Chu. Bà Lương Ý Nương chiều chiều ra bờ sông, nhìn về hướng xa xăm, làm bài thơ này để nhớ tới người chinh phu. Thời đó phụ nữ biết đọc biết viết có thể đếm trên đầu ngón tay, đừng nó gì đến làm thơ! Nhà vua đọc được bài thơ, cảm động quá, bèn miễn quân dịch cho người chồng để trở về với gia đình. Bốn câu thơ trên thường "được" (hay "bị") đổi 2 chữ đầu ở 2 cầu. Đến nay, chưa biết ai đúng ai sai.
Trong dân gian còn có truyện Trạng Quỳnh chọi trâu khiến sứ Tàu phải thán phục, chịu thua. Nguyên nước Tàu lúc nào cũng nuôi mộng thôn tính nước ta, nhưng sau nhiều lần bị đại bại nên không giám xua quân xâm lăng như trước. Một hôm, vua Tàu sai sứ sang nước ta, giả tiếng thăm viếng nhưng kỳ thực dò xét xem nước ta có nhiều nhân tài hay không để tùy nghi hành động. Sứ Tàu đem theo một con trâu cổ rất to lớn và hung dữ rồi thách vua ta đưa trâu ra chọi thi, nếu bị thua phải triều cống nước Tàu. Vua ta thấy trâu Tàu khỏe quá nên rất lo ngại, bèn triệu Trạng Quỳnh vào cung vấn kế. Trạng Quỳnh chỉ xin vua một con nghé nhỏ, gầy đói ốm yếu để chọi với trâu Tàu. Đến ngày thi dấu, Trạng Quỳnh bỏ đói con nghé không cho bú sữa nên khi gặp trâu Tàu, con nghé xông vào bụng con trâu lớn để tìm vú mẹ. Trâu Tàu tuy to lớn nhưng chỉ quen chọi với trâu lớn, nay gặp con nghé nhỏ khát sữa cứ lủi đầu vào hai chân sau nên bỏ chạy. Trạng Quỳnh còn dọa sứ Tàu: "Trâu Tàu to lớn như vậy mà còn bị thua một con nghé nhỏ của Việt Nam, nếu đưa trâu Việt ra, chắc trâu Tàu chết mất xác". Sứ Tàu chịu phục, về tâu với vua Tàu là Việt Nam có rất nhiều nhân tài, không thể xâm lấn được.
Ai cũng biết tại Hà Nội có Hồ Tây rất lớn là thắng cảnh ngay trong thành phố. Theo cổ tích có một con trâu bằng vàng ròng dưới đáy hồ, gọi là "Trâu vàng Hồ Tây". Nguyên vào thời nhà Lý, có một nhà sư pháp thuật cao cường tên là Không Lộ. Một ngày kia, sư Không Lộ lên đường sang Trung Quốc, mang theo một cái túi nhỏ. Nhà sư xin yết kiến vua nhà Tống, để quyên một ít kim khí, chỉ cần đầy túi đem về đúc thành tượng Phật. Vua bảo quan đưa sư Không Lộ vào tận kho, chọn lựa tùy thích vàng hay đồng, miễn là chỉ đựng đầy túi thôi. Vừa bước vào cửa kho, sư Không Lộ trông thấy một con trâu to lớn, đúc toàn bằng vàng ròng đứng nghênh ngang, như muốn canh giữ kho vua. Ở gian chính giữa, có cất giữ một số kim khí hiếm quý hơn vàng, gọi là đồng đen. Sư Không Lộ bèn giở phép thuật thần thông, mở cái túi vải nhỏ ra, thâu tóm quá phân nữa số đồng đen trong kho vàng bạc của vua Tống. Vua Tống nổi giận, ra lệnh chém đầu nhà sư nước Nam nhỏ bé, sư Không Lộ vội vàng thoát ra khỏi kho báu vật, nhanh nhẹn vượt qua hoàng thành. Trở về nước, Sư Không Lộ đúc một cái chuông bằng đồng đen lấy ở Tầu về. Vào ngày lễ khánh thành chuông đồng đen, sư Không Lộ cầm chày đánh lên tiếng chuông đầu tiên, tiếng chuông vang xa, rung động đến ngàn vạn dặm. Con trâu vàng ở kho tàng vua Tống nghe tiếng chuông đồng, bỗng phóng chạy về phương Nam. Thấy con trâu vàng chạy đến, nhà sư bèn lăn chuông xuống Hồ Tây. Chuông đen rung vang một lần cuối cùng, trước khi rơi xuống nước. Con trâu vàng, theo đó, cũng nhảy xuống Hồ Tây biến mất theo chuông đáy hồ. Những người thợ rèn nước Việt đã dựng nên một ngôi đền thờ bên cạnh Hồ Tây, để nhớ ơn nhà sư Không Lộ đã dạy cho họ phương pháp đúc đồng. Vua nhà Lý đã ban sắc phong tặng sư Không Lộ biệt danh là Thần Thợ Đúc.
Trong lịch sử Việt Nam, có vị anh hùng "Cờ Lau Tập Trận" Đinh Bộ Lĩnh xuất thân từ trẻ chăn trâu. Ông là người động Hoa Lư (nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), thuở nhỏ mồ côi cha nên về quê ơ với chú. Lúc đó nước ta đang vào thời Hậu Ngô, bị nạn 12 sứ quân, mỗi người chiếm một nơi xưng hùng xưng bá. Các sứ quân đánh nhau liên miên gây ra nội loạn, dân chúng vô cùng khốn khổ, ông Đinh Bộ Lĩnh thường đi chơi với đám trẻ chăn trâu, bắt chúng khoanh tay làm kiệu và lấy bông lau làm cờ tập trận. Có lần ông cho giết cả trâu của chú để làm tiệc "khao quân". Lớn lên, ông theo sứ quân Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu (thuộc phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình). Sau đó ông nắm binh quyền, dẹp được loạn 12 sứ quân khiến nước nhà được thái bình thịnh trị, nên được dân chúng tôn là Vạn Thắng Vương. Đến năm Mậu Thìn (968), ông lên ngôi Hoàng Đế, đóng đô tại Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, có đoạn nói về vua Đinh Tiên Hoàng như sau:
Có ông Bộ Lĩnh họ Đinh,
Con quan Thứ Sử ở thành Hoa Lư,
Khác thường từ thuở còn thơ,
Rủ đoàn mục tử mở cờ bông lau ...
Trong sử sách còn có ông Đào Duy Từ thuở nhỏ cũng là mục đồng, con của Đào Tá Hán là kép hát và Bà Kim Chi là người hiếu học, nên sau được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được phong chức Nha Úy Nội Tán, tước Lộc Khê Hầu, Quan Quản nội ngoại quân cơ, Tham lý quốc chánh. Đào Duy Từ là người có công đắp xây lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc và lũy Định Bắc Trường Thành dọc theo sông Nhật Lệ tục gọi là Lũy Thầy Đồng Hới để ngăn chận quân Chúa Trịnh.
Về mặt phong tục tập quán, mỗi năm vào ngày mùng 9 tháng 8 Âm lịch hàng năm, dân Đồ Sơn lại tưng bừng bước vào một lễ hội lớn mang đậm bản sắc văn hóa và tinh thần thượng võ: Hội chọi trâu. Để có ngày hội độc đáo này, người dân Đồ Sơn không tiếc công của để đi tìm mua bằng được những trâu ưng ý từ khắp mọi nơi để về làm lễ "nhập tổng" tôn lên thành ông trâu...
Hội chọi trâu có từ bao giờ, chưa ai rõ, nhưng truyền thuyết về hội chọi trâu gắn với tục thờ thần Điểm Tước - lúc Đồ Sơn vẫn chỉ là miền đất hoang vắng đầy sình lầy, lau sậy cách đây vài trăm năm và câu ca truyền tụng vẫn còn đến bây giờ:
Dù ai buôn đâu bán đâu
Mùng Chín tháng Tám chọi trâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Mùng Chín tháng Tám thì về chọi trâu
Gần đây, dưới thời Pháp thuộc tại miền Nam có ông Nguyễn Văn Lạc, còn được gọi là Học Lạc làm bài thơ "Vịnh Con Trâu", ví bọn Việt gian bán nước giống như những con trâu to đầu nhưng đần độn, chẳng phân biệt được chính tà, những lời nói phải đối với chúng chàng khác gì "đờn khẩy tai trâu":
Mài sừng cho lắm vẫn là trâu
Ngẫm lại mà coi thực lớn đầu
Trong bụng lam nham ba lá sách
Ngoài cằm lém đém một hàm râu
Mắc mưu đốt đít quay đầu chạy
Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu
Nghé ngọ ngàn đời quen nghé ngọ
Năm cung đơn khẩy biết nghe đâu?
Khi nói trong bụng lũ trâu bò phản quốc chỉ có "lam nham ba lá sách', chắc ông Học lạc muốn ám chỉ sự ngu dốt của chúng. Người xưa quan niệm rằng sự khôn ngoan, biết phải quấy của con người đều được chứa trong bụng như các câu nói "hung trung binh giáp, chưởng thượng kinh luân" hay "binh giáp tàng hung trung". Trong bụng rỗng tuếch, chỉ có vài ba lá sách, không thể nào là người biết đạo thánh hiền được. Còn "lém đém một hàm râu" là tướng mạo của những kẻ nham hiểm, nịnh thần, đúng như câu "người trung mặt đỏ đôi tròng bạc, đứa nịnh râu đen mấy sợi còi". Trong tuồng hát bộ, những vai trung thần đều vẽ mặt đỏ, mang bộ râu rậm, dài như Quan Vân Trường. Còn vai nịnh thần, phản nghịch như Tần Cối, Tào Tháo thì râu loe hoe, hệt như mấy sợi lông ... cằm của "bác" Hồ.
Nhà chí sĩ Học Lạc cũng chê lũ Việt gian ngu si như bầy trâu "mắc mưu đốt đít quay đầu chạy". Đây là tích thời Chiến Quốc, thái tử Điền Đan nước Tề bầy "Hỏa Ngưu Trận" để đánh bại quân Yên do tướng Kỵ Kiếp cầm đầu tại thành Tức Mặc. Trong trận đánh nổi tiếng này, Điền Đan bắt hàng ngàn con trâu, cột dao nhọn vào sừng, lấy vải vẽ đủ mầu xanh đỏ khoác trên mình, sau đuôi cột những bó cỏ khô tẩm dầu. Còn quân lính nước Tề cũng mặc quần áo vẽ rồng rắn lòe loẹt, giả làm thần binh. Đến đêm, Điền Dan xua trâu ra, đốt cỏ đàng sau đuôi khiến trâu bị nóng, lồng lộn xông vào trại quân Yên. Đa số quân Yên còn đang ngủ, bừng mắt dậy thấy "thần binh" và "thần vật" đang tàn phá tơi bời nên đâm đầu bỏ chạy. Bầy trâu bị đốt đít nóng quá, bạ đâu húc đó làm doanh trại quân Yên tan hoang, binh lính lớp chết lớp bị thương hoàn toàn tan rã. Quân Tề đại thắng trận này.
Cũng nên nói, cụ Phan Văn Trị làm thêm bài thơ "Vịnh Con *** Trôi" để ví bọn Việt gian tuy dược Pháp cho giữ những chức trọng quyền cao, nhưng đây chỉ là những "xú danh". cũng hôi thối như xác con *** trôi:
Sống thời bắt thỏ, thỏ lêu rêu
Thác thả dòng sông xác nổi phều
Vằn vện sắc còn phơi lẫn đẫn
Thúi tha danh hỡi nổi lêu bêu . . . . . . . .
Đọc xong hai bài thơ "Trâu, Chó" nói trên, chúng ta có cảm tưởng như các cụ đã sống lại để chửi bọn trâu chó Việt Cộng ngu dần phản dân hại nước. Thế mà ngày nay tại hải ngoại vẫn còn những bọn xôi thịt, luôn miệng hô hào hòa hợp, hòa giải, giao lưu với bè lũ hôi tanh như "con *** trôi" để kiếm ăn, chẳng khác nào "bầy tôm tép" và "lũ quạ diều" sống bám vào xác con *** trôi Cộng Sản. Sớm muộn gì con *** trôi này cũng bị trận gió dân chủ, làn sóng tự do dồi dập cho tan tành, chỉ còn mùi xú uế để lại ngàn năm. Riêng việc so sánh lũ quỉ đỏ với con Trâu thì sợ bất công cho con vật này. Tuy trong bụng chỉ có "lam nham ba lá sách" và "ngoài cằm lém đém một hàm râu", nhưng Trâu còn giúp được nông dân trong việc đồng áng, không nham hiểm và bỉ ổi hại dân hại nước như bè lũ cáo Hồ.
Đề cập tới bọn Việt Cộng tàn ác, không thể không nhắc tới lũ quỉ sứ "dầu trâu mặt ngựa" của Diêm Vương dưới âm phủ chuyên đi bắt hồn người sống trên dương gian. Nổi tiếng nhất trong dám quỉ này là hai tên phán quan, được mệnh danh là "hắc bạch vô thường" vì một tên chuyên mặc đồ đen, còn tên kia mặc đồ trắng. Hai tên phán quan này cầm cuốn sổ tử lên dương gian điểm danh những người "tới số" rồi sai hai quỉ "ngưu đầu mã diện" bắt hồn về âm phủ. Vì vậy, khi nghe tới dám quỉ "đầu trâu mặt ngựa" này, người trần ai cũng kinh sợ và chán ghét. Hiện nay tại Việt Nam, có hàng hà sa số đám quỉ đỏ đầu trâu mặt ngựa tên Việt Cộng đang ngự trị, trách nào dân chúng chẳng bị hành hạ đến tột cùng.
Cũng như Việt Nam, Trung Hoa là một xứ sống về nông nghiệp, nên cũng có khá nhiều truyện liền quan đến Trâu. Ngoài "Hỏa Ngưu Trận" thời Chiến Quốc như đã kể, trong Tam Quốc Chí còn có truyện "trâu gỗ, ngựa gỗ" của quân sư Khổng Minh dùng để đánh quân nhà Ngụy do Tư Mã Ý cầm đầu. Một trong những lần "Lục xuất Kỳ Sơn", quân Hán vì viễn chinh xa hậu cứ nên gặp trở ngại về vấn đề vận chuyển lương thực. Vì đường sá quá xa xôi lại gập ghềnh khúc khuỷu nên việc tiếp tế lương thảo cho quân lính rất khó khăn. Quân Sư Khổng Minh liền vẽ họa đồ, giao cho thợ mộc đóng hàng ngàn con trâu gỗ, ngựa gỗ có thể chạy nhảy được như trâu ngựa sống. Đàn trâu ngựa này được dùng để vận chuyển lương thực nên quân Hán đủ sức bao vây Tư Mã Ý lâu ngày. Từ trước đến nay, Tư Mã Ý chỉ cố thủ vì biết trước quân Hán không sớm thì muộn sẽ phải rút lui vì đường xa thiếu lương, nay thấy trâu ngựa gỗ tải lương đều đặn nên rất lo sợ. Ít lâu sau, Khổng Minh cố ý để quân Ngụy bắt được vài con trâu ngựa gỗ nên Tư Mã Ý cũng bắt chước tự chế ra để tải lương. Đến lúc đó, Khổng Minh ngầm cho người vặn ngược lưỡi của trâu, ngựa gỗ khiến quân Ngụy đẩy mãi mà trâu ngựa cứ đứng ỳ ra. Sau đó, quân Hán đánh tới khiến quân Ngụy phải bỏ chạy. Lúc đó, quân Hán chỉ việc vặn lưỡi lại, trâu ngựa gỗ tải đầy lương thực lại đi đứng được như thường. Trận này, quân Hán đại thắng, lại còn thu được rất nhiều lương thảo. Tư Mã Ý phải phục Không Minh là người nhà trời.
Trong truyện Tây Du Ký kể lại sự tích Đường Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh cũng có tên Ngưu Ma Vương mình người đầu trâu. Ma vương này là chồng của Thiết Phiến Công Chúa, chủ nhân của hỏa diệm sơn. Một hôm thầy trò Đường Tăng đi đến vùng hỏa diệm sơn nhưng vì thời tiết quá nóng nên không thể nào đi qua được. Đệ tử lớn của Đường Tăng là Tôn Hành Giả biết chỉ có quạt ba tiêu (tầu lá chuối) của Thiết Phiến Công Chúa mới quạt cho thời tiết dịu lại được. Nhưng công chúa nhất định không cho mượn quạt vì lúc trước, họ Tôn đã cầu Phật Di Lạc bắt Hồng Hài Nhi là con của Ngưu Ma Vương và công chúa làm đệ tử. Hồng Hài Nhi vì sinh đẻ nơi núi lửa nên lúc nào cũng di chuyển bằng xe bánh lửa (hỏa luân xa). Sau này, Hành Giả nhờ Phật giúp đỡ cũng mượn được quạt, giúp Đường Tăng vượt hỏa diệm sơn, sang đến Tây Trúc cầu được kinh Phật.
Truyện "Tiết Nhân quý Chinh Đông" cũng kể họ Tiết nguyên là con cọp trắng (bạch hổ) biến hình. Vì cơ duyên, Nhân quý ăn được mấy cái bánh hình trâu, cọp nên có sức mạnh của chín trâu ba cọp hợp lại Nhân quý có công cứu giá vua Đường Lý Thể Dân nên được phong chức nguyên soái trong cuộc chinh đông. Con của Tiết Nhân quý là Tiết Đinh San và vợ là Phàn Lê Huê sau này cũng giúp vua Đường trong cuộc chinh Tây. Tưởng cũng nên biết quân sư nhà Đường tên Từ Mậu Công là người thông về thiên văn, địa lý nhưng lại có cái mũi lớn như mũi trâu nên những người trong nhóm bạn của Đường Thế Dân như Trình Giảo Kim, Tần Thúc Bảo v.v... gọi là lão quân sư mũi trâu. Truyền thuyết Trung Hoa còn có truyện Hứa Do, Sào Phủ liên quan tới Trâu. Hứa Do được tiếng là người hiền nên một hôm được vua Nghiêu gọi đến để truyền ngôi cho. Nghe xong, Hứa Do không trả lời, chỉ lặng lẻ bỏ đi vào chốn rừng sâu, tìm tới một dòng nước để rửa tai. Lúc đó có một người chán trâu tên Sào Phủ cũng đang dẫn trâu đến cho uống nước. Sào Phủ hỏi tại sao Hứa Do lại phải rửa tai'? Hứa Do bèn kể chuyện vì đã trót nghe vua Nghiêu nói về việc truyền ngôi là những lời "dơ bẩn" nên rửa tai cho sạch. Sào Phủ nghe xong liền dắt trâu bỏ đi không cho uống nước nữa. Hứa Do hỏi lý do. Sào Phủ nói dòng nước đã bị tai Hứa Do làm bẩn, nếu để trâu uống sẽ dơ cả miệng trâu! Nghe xong truyện này, chúng ta có cảm tưởng Hứa Do là một thứ "quân tử "Tàu"' chắc đã là người hiền, mà đúng ra là người gàn vì chỉ biết "xử" không biết "xuất", lại rất ích kỷ, thiếu quyền biến, chưa xứng đáng là một kẻ sĩ. So với các hiền nhân quân tử Việt Nam như cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ, Hứa Do còn kém xa. Cụ Trạng Trình chỉ về ở ẩn, thong dong tu tập tại am Bạch Vân, không màng danh lợi, hưởng thú an nhàn với "một mai, một cuốc, một cần câu' sau khi đã trả lộc vua, đền ơn nước. Còn cụ Nguyễn Công Trứ "lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất" nhưng vẫn "phù thế giáo một vài câu thanh nghị". Lúc "rồng mây khi gặp hội ưa duyên", cụ đã "đem tất cả sở tồn làm sở dụng, trong lang miếu ra tài lương đống, ngoài biên thùy rạch mũi can tương" Chỉ khi nào "nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo" , bổn phận của kẻ sĩ giúp dân giúp nước đã chu toàn, Uy Viễn Tướng Công mới hưởng thú "thảnh thơi thơi túi rượu bầư. Biết rõ lẽ xuất xử, ngộ biến tòng quyền, tự giác nhi giác tha và dùng tài kinh bang tế thế để giúp đời mới xứng danh hiền nhân quân tử, đáng cho mọi người kính phục.
Về tôn giáo, sách nhà Phật có "Mười bức tranh trâu" (thập ngưu đồ) để dẫn giải tiến trình tu tập của chúng sinh qua mười giai đoạn, từ lúc còn bị bức màn Vô Minh che lấp cho tới khi ngộ được Phật Tánh. Bức tranh đầu tiên có tựa đề "Vị mục", khi đó con bò trong tranh màu đen tuyền, tượng trưng cho bản tánh còn dã man nên mục đồng phải chăn dắt cẩn thận. Qua nhiều giai đoạn khai hóa, tới bức tranh số mười mang tựa đề "song dẫn" (có nghĩa là "diệt") được cụ thể hóa bằng một vòng tròn trắng đơn giản. Lúc này đã đạt tới Chân Như cảnh giới nên cả bò lẫn người cùng cảnh vật đều hòa đồng vào trạng thái "Chân không" chẳng có bò, chẳng có mục đồng và cũng chẳng còn đời.
Tới đây chúng ta đã "phiếm" qua nhiều đề tài, cũng như trải qua lắm giai đoạn với trâu là "nhân vật" chính. Bây giờ để thay đổi không khí cho vui nhà vui cửa trong dịp Tết, và thể theo lời yêu cầu của giới "quần bận, yểm mang" ưa xin xâm hái lộc, tưởng cũng nên bàn qua về mục tướng số, vận mạng trong năm con Trâu. Đầu năm đầu tháng, có lẽ cũng nên biết qua vận hên, xổ xui trong năm mới để còn "tùy cơ ứng biến".
Mục tử vi Tây Phương có Kim Ngưu (Taurus) là một trong mười hai chòm sao của vòng Hoàng Đạo (Zodiac), tương tự như mười hai con giáp trong âm lịch. Điều khác nhau là chu kỳ (giáp một vòng) của Hoàng Đạo là một năm trong khi chu kỳ của con giáp là mười hai năm, nghĩa là cứ mười hai năm mới trở lại con giáp cũ. Nếu nhìn lên bầu trời về hướng đông vào một đêm quang đãng, Kim Ngưu là một chòm sao nhỏ hơi mờ, trông giống hình con bò rừng (bison). Nếu lấy chòm sao Orion (Hiệp Sĩ) với những sao rất sáng và dễ nhận như Betelgeuse, Rigel làm chuẩn, chòm Kim Ngưu nằm ngay bên trên, đối diện với Sirus là ngôi sao thuộc loại sáng nhất trên bầu trời. Những người sinh vào khoảng từ 20-4 đến 19-5 đều mang tuổi Kim Ngưu. Khi đánh bạc, dân Kim Ngưu đều thuộc họ "Paul húc" nên chơi rất bạo.
Qua tử vi, bói toán Đông Phương, chẳng cằn phải là thầy bói ... mò chính cống, ai cũng biết số phần của giới đàn ông không những chẳng khá mà còn có thể coi là "hẩm hiu'. Như thường lệ và theo định luật chắc như đinh đóng cột của cuộc đời, vào bất cứ năm nào, dưới sự cai trị của bất cứ con giáp nào, số phận của bọn "đần ông chúng ta" (tác giả xác định và xác nhận chiến tuyến từ đây) lúc nào cũng đen đủi vì chẳng bao giờ chống lại được chủ nhân của những cái... đen như mõm chó! Thân phận chúng ta hẩm hiu đến nỗi cho tới giờ phút này, quý vị nào nào chưa là "liệt sĩ", còn "ngóc đầu, ngóc cổ" lên được để cầm cự với giới quần hồng đã là khá lắm rồi. Cho đến năm con Trâu năm nay, vì "định mạng đã an bài", trâu được sinh ra đời để "kéo cầy trả nợ" nên số phận của các đấng mày râu lại càng bi đát. Từ ngày sống kiếp lang thang tị nạn, chúng ta đã được phép "cày" thả cửa. "cày" miết, "cày mút mùa... lệ thủy", "cày ngày không đủ, tranh thủ cày đêm" đến hai ba job, không nhìn thấy ánh sáng mặt trời để trả nợ. Nào là nợ cơm áo, nợ tiền nhà, tiền xe, tiền bà xã "kề-đít ca", tiền bảo hiểm, tiền điện nước v.v... và nhất là nợ đời! Năm nay vì cầm tinh con Trâu nên cái ách êm ái và dễ thương trên cổ lại càng phây phây, đó là chưa kể mỗi ngày một thêm "nặng ký", do đó các đấng mày râu hãy coi chừng: không khéo sẽ bị tẩu hỏa nhập ma khi còn phải "cày" thêm cái mảnh đất xéo "nhất thốn thổ"! Riêng với các vị mày râu sồn sồn, thường về thăm quê hương dưới dạng "Việt Kiều yêu nước" để sắm tuồng "trâu già ăn mạ non" cùng các kiều nữ bia ôm, cà phê ôm … bần đạo vì lòng nhân đạo khuyên hãy coi chừng. Đi đêm lâu ngày sẽ gặp ma. Ngoài bọn ma cô ma cậu đội nón tai bèo, chân đi dép râu lột hết đô la mồ hôi nước mắt, còn có thể bị ma "AIDS", nguyên gốc Thái Lan, Đại Hàn nó nhập khiến đời tàn trong hang lạnh luôn, ấy là chưa kể vô phúc bị bà xã vồ được sẽ mất cả chì lẫn chài, chỉ còn đường bị gậy!
bidong
Dec 31 2008, 11:40 AM
Đọc đến đây, trong lúc các "đấng mày râu, rầu thúi ruột", chắc các vị khác phái đang nhe hàm răng ngà ngọc cười hinh hích mà kháo nhau rằng: "Ê! Bọn đàn ông đã xui xẻo tận mạng như vậy, chắc sổ chúng mình năm nay sẽ vô cùng hên, có thể thừa thắng xông lên dễ dàng". Nói như vậy không những vừa tàn nhẫn, vừa vô nhân dạo mà còn rất... đúng! Đàn bà nói là trời nói, đâu có bao giờ sai, chỉ thiếu... chính xác thôi! Vậy năm nay, số mạng các vị thuộc phái nữ sẽ rất hanh thông là đúng rồi, nhưng hên tới mức nào? Dù tác giả có bị các bạn đồng... hội đồng thuyền buộc tội "đâm sau lưng chiến sĩ', hay nghiêm khắc khiển trách là "thờ bà", nhưng vì lương tâm nghề nghiệp cũng phải nói thật, nói ngay, nói thẳng, không thể áp lực của "nhu quyền" mà bẻ cong ngòi bút "bic". Trong năm con trâu này, liền bà con gái tha hồ lên nước xỏ mũi đàn ông cũng như mặc tình múa gậy vườn hoang đến độ "cơm no, trâu cưỡi". Ruộng nương của quý vị sẽ được trâu cầy bừa, "take care" cẩn thận không bị mốc meo đâu mà sợ. Con trâu già của quý vị, ngoài việc chăm chỉ làm việc đồng áng, cày bừa đúng cữ lúc ruộng ướt cũng như ruộng khô, mà khi cao hứng, quý vị còn có quyền thơ thới hân hoan "lật ngược thế cờ", nhong nhong cưỡi trâu... mệt nghỉ? Riêng đối với các vị nữ nhi choai choai "vú sừng trâu" đến tuổi muốn chồng, tác giả có lời khuyên nên chọn lựa cẩn thận, cần theo đúng câu châm ngôn "trâu ta ăn cỏ đồng ta...". Nếu cứ vọng ngoại, nhìn qua hàng rào, ham mấy tên mũi lõ mắt xanh, cuộc đời chẳng mấy lúc sẽ uổng phí và tàn tạ như đóa "hoa nhài cắm bãi phân trâu".
Qua phần tử vi đẩu số, khi năm Mậu Tý chấm dứt thì năm Kỷ Sửu bắt đầu, từ lúc Giao Thừa đêm Chúa Nhật 25 tháng 1 năm 2009 cho đến nửa đêm thứ Bảy ngày 13 tháng 2 năm 2010. Theo ngũ hành can chi, Kỷ Sửu năm nay thuộc hành hỏa, amng Tích Lịch Hỏa, thuộc hào Âm, có can Kỷ thuộc mạng Thổ và chi Sửu cũng thuộc mạng Thổ, do đó được gọi là "Can Chi Tương Hòa". Nếu coi Can Chi là Trời và Đất, thì người tuổi Kỷ Sửu hay trong năm Kỷ Sửu, mọi chuyện tương đối thuận lợi vì trời đất giao hòa, vật chất và tinh thần đều thăng tiến và vững chắc.
Theo các thầy bói chính gốc, người tuổi Sửu thường là những người có đầy đủ những phẩm chất tốt, họ được biết đến bởi tính cách cần cù, chăm chỉ. Họ cũng là những người kiên định, mạnh mẽ, thực tế, và có ý chí vững vàng trong cuộc sống. Những ai sinh vào năm Sửu thường nhẫn nại, có khả năng chịu đựng cao, và nhờ đó có thể vượt qua được bao sóng gió cuộc đời. Nhưng có đôi khi tính cương quyết khiến họ trở nên bướng bỉnh, cứng nhắc bởi lẽ một khi đã quyết định thực hiện điều gì, họ khó có thể thay đổi mục tiêu của mình.
Anh em nhà Sửu là những người trung thành, tin vào đạo lý truyền thống, và luôn gìn giữ chuẩn mực. Thực vậy, an toàn là một trong tiêu chí sống quan trọng của họ. Nói chung, họ không thuộc týp người ưa mạo hiểm, chỉ làm những gì quen thuộc vạch ra sẵn cho mình. Chính vì lẽ đó mà họ thường hay quay lại guồng sống ưa thích để tìm đến niềm khuây khỏa và yên bình trong tâm hồn.
Người tuổi Sửu thường hướng về thiên nhiên. Nếu sống nơi thôn quê, họ thích nhà mình có vườn tược bao quanh. Đối với họ, gia đình là lẽ sống, là nguồn yêu thương, đó không chỉ đơn giản là nơi đi chốn về mà còn là nơi mà họ cảm thấy dễ chịu và được xoa dịu nhất. Màu tím là màu đặc trưng cho người tuổi Sửu.
Về mặt nghề nghiệp, người tuổi Sửu có ý thức và đáng tin cậy, người tuổi Sửu thường có đôi vai to rộng, luôn sẵn sàng gánh vác trách nhiệm về mình. Họ luôn được cấp trên tin tưởng vì tính chu đáo và hiệu quả trong công việc được giao. Người tuổi Sửu làm việc độc lập sẽ tốt hơn khi làm theo nhóm. Dù có vẻ không màng đến danh lợi, chỉ biết cặm cụi làm việc, nhưng bao công sức họ bỏ ra sẽ được đền đáp, vì thế mà sớm muộn gì họ cũng vươn lên vị trí dẫn đầu trong công việc.
Sang phần tình cảm, tuổi Sửu không phải là cung mệnh tách biệt, rụt rè nhất trong 12 con giáp, chỉ vì họ muốn được riêng một mình. Thông thường, những người này thường có một nhóm bạn, tuy không nhiều nhưng là những người bạn trung thành, thân tín. Trong chuyện tình cảm, họ không phải là người lụy vì tình hay quá đa sầu đa cảm, nhưng họ yêu một cách sâu sắc. Một khi dành hết trái tim cho ai, họ sẽ chung thủy, ít khi nào thay đổi.
Kính thưa quý độc giả, bài "phét luận" về năm con Trâu đến đây cũng đã khá dài. Bữa tiệc vui vẻ, linh đình đến đâu cũng phải tàn, huống chi một bài viết... vô duyên, dở ẹc như bài này lại càng nên chấm dứt sớm cho được việc chính phủ. Vậy xin hẹn gặp lại vào năm con Cọp. Trước khi ngừng bút để cùng mẹ đĩ thơ thới "vui xuân kẻo hết xuân đi", tác giả thành thực cầu chúc quý vị cùng bửu quyến vạn sự như ý, thăng quan tiến chức, làm ăn buôn bán phát tài và nhất là quanh năm mạnh khỏe như... trâu. Hy vọng trong tương lai không xa lũ quỉ đỏ đầu trâu mặt ngựa Việt Cộng về chầu Diêm Chúa, đất nước Việt Nam thực sự có tự do dân chủ. Khi đó, chúng ta sẽ có dịp ăn Tết tại quê nhà, nâng ly chén chú chén anh, sống những ngày tháng êm đềm nơi quê cha đất tồ, ngồi mình trâu nhàn nhã trên bờ đê, tai nghe tiếng sáo diều vi vu trong những buổi trưa hè.
Cung Chúc Tân Xuân Kỷ Sửu Trần Đỗ Cẩm Austin Texas 2009 Nhưng dù món ăn "vật chất" có ê hề, đầy đủ bao nhiêu mà thiếu món ăn "tinh thần" là tờ báo xuân thì ngày tết cũng thiếu hẳn hương vị đậm đà, quen thuộc. Mà báo xuân không có bài Sớ Táo Quân và bài phiếm luận về con giáp cầm tinh thì chẳng khác gì mâm cơm Tết thiếu thịt kho dưa giá, mùa xuân thiếu hoa, trái đất thiếu mặt trời, đàn ông thiếu... đàn bà, nghĩa là thiếu tất cả phải không quí vị? Trong ý hướng cao đẹp đó, tác giả trân trọng cống hiến quí vị bài phiếm luận năm con Trâu, trước để hùng hồn chứng tỏ tinh thần bốn ngàn năm văn hiến "về nguồn" với hy vọng các cụ trong hội Cao Niên khỏi chê trách là ăn hotdog, hamburger nhiều nên mất gốc, sau là gửi tới quí vị một món quà tinh thần góp vui vào dịp đầu năm.
Trước khi kính mời quý vị nhàn nhã ngao du trên mình trâu, thiết tưởng cũng nên có đôi lời phi lộ, kiểu "mất lòng trước, được lòng sau" cho phải phép và nhất là tránh mọi hiểu lâm vô ý hay cố ý. Tuy mục đích trong sáng và hướng thượng của tác giả chỉ là giúp vui mọi người trong dịp xuân về khiến ai nấy đều thoải mái, vui vẻ, tươi cười như ông địa trong đoàn múa lân, nhưng biết đâu lại không có vài vị nho chùm, "hán" rộng chuyên suy bụng ta ra bụng người hiểu lầm ý hướng rất cao đẹp nói trên? Hơn nữa, trước khi vác bút ra đi, mẹ đĩ cũng hăm he rằng nếu muốn còn hàm răng để cạp "dú sữa" hay cắn "bánh dầy", bánh chưng, hãy khôn hồn mà kính nhi viễn chi, đừng để bị lôi kéo vào chốn thị phi giang hồ, gặp cảnh "trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết". Cũng cần nói thêm, "phiếm luận" nguyên là chữ viết văn hoa của nền văn chương bác học, được dịch nôm trong giới văn chương bình dân là "nói phét". Tuy "nói phét có sách, mách láo có chứng" nhưng tựu trung vẫn là nói... dóc, nên tác giả cũng không bảo đảm hay cầu chứng tại tòa những điều nêu ra trong bài phét... luận này là đúng 72 phần dầu đâu. Vì vậy, theo đúng tôn chỉ và điều lệ của trường phái "nói phét", tác giả đề nghị quý vị nam phụ lão ấu, già trẻ lớn bé chỉ nên "đọc qua rồi bỏ"; thảng hoặc có ai tưởng thật cũng không sao, nhưng nếu có phải đổ cả thóc giống ra mà ăn thì... ráng chịu.
Whew! Dài dòng như trên nhưng tóm tắt chỉ đi đến một kết luận rất rõ ràng: Mục đích duy nhất của bài phiếm luận con Trâu chỉ để "trước mua vui, sau làm nghĩa". Trong tinh thần dĩ hòa vi quí, tác giả không giám hàm ý, ngụ ý hay tỏ ý nói xiên, nói xéo, nói xỏ bất cứ cá nhân, phe phái, đoàn thể nào, mà ngược lại chỉ muốn suy tôn ngưỡng mộ, bốc thơm tất cả mọi tầng lớp già trẻ trai gái để vui vẻ cả làng. Nếu chẳng may trong lúc ngẫu hứng, xuân tình dào dạt, rượu vào lời ra, vô tình có lời lẽ làm phật lòng bất cứ ai, đó là lỗi lầm của... ấn công, đầu năm đầu tháng mong quí độc giả từ bi hỉ xả, niệm tình tha thứ và bỏ quá đi cho. Để chứng tỏ thiện chí "hình nhi thượng" cao đẹp đó, tác giả thành thực cầu chúc quý độc giả thân mến của bổn báo, con cái cháu chắt, cả những người thân hay không thân, một mùa xuân như ý sở cầu, vui tươi tốt đẹp, nhất bản vạn lợi, đàn ông lúc nào cũng phương phi, vui vẻ, mạnh khỏe cầy mạnh như trâu để bà xã hài lòng; còn quí "quần bận yếm mang" thì mát mẻ, tươi trẻ, da dẻ hồng hào, nghé ngọ suốt năm.
Sau thủ tục "đầu tiên" rào trước đón sau và chúc tụng đầu xuân theo đúng Tôn Ngô binh pháp "tiên lễ hậu binh", kính mời quý vị theo mục đồng tôi cùng đi thăm họ hàng nhà Trâu.
Nhìn chung, trâu thuộc giống nhai lại như bò, do đó chúng ta thường thấy ban ngày trâu gặm cỏ hay ăn rơm cho đầy bụng, rồi tối vào chuồng nằm, thong thả "ợ" rơm cỏ từ dạ dày lên miệng để nhai lại. Trâu là bạn trung thành của nhà nông từ ngàn xưa, đã chung lưng góp sức với người để cày bừa vất vả để mang lại thóc lúa nuôi sống con người. Do đó, chọn trâu tốt giống là một trong ba điều tối quan trọng trong việc xây dựng gia đình cũng như xã hội. Nông dân Việt Nam thường nhắc:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
Trong ba việc ấy lọ là khó thay
Theo các nhà khảo cứu, Trâu là loài gia súc rất quen thuộc tại các nước Á Châu vốn lấy nghề nông làm căn bản như Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ, Thái Lan, Nam Dương v.v... Vào năm 1985, các khoa học gia ước lượng tổng cộng có chừng 130 triệu con trâu trên thế giới. Trong Anh ngữ, loại trâu Á đông được gọi là "water buffalo" hay trâu nước, mang tên khoa học "bubalus bubalis" để phân biệt với loại "bufalo" hay "trâu khô" có nhiều ở Châu Mỹ. Trâu nước là loại trâu ưa đầm mình dưới vũng bùn hay vũng nước. Thật ra, loại 'buffalo" nên gọi là giống bò rừng mới đúng vì có lông dài, thuộc loại "bison". Sách Tam Thiên Tự (ba ngàn chữ) là một cuốn sách cổ, không rõ tác giả, dạy chữ Hán (chữ Nho) cho người Việt. Sách xếp 3.000 chữ Nho và nghĩa tiếng Việt của chúng, như một bài vè, mỗi câu hai âm, khi đọc lên thì có vần cho dễ nhớ, thời trước dùng để dạy người ta học tiếng Hán có đề cập đến trâu. Trong sách có những câu vần như: "Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, cự cựa , nha răng… kết thúc với chữ cuối "Tự chữ, Từ tờ". Trong Tam thiên tự có một lỗi lầm cho tới nay vẫn còn, đó là định nghĩa chữ ngưu, như đề tài chúng ta đang đọc. Tam thiên tự viết "Ngưu trâu, Mã ngựa", nên vẫn có nhiều người dịch ngưu (buffalo) là trâu và dịch thủy ngưu(water buffalo) là trâu nước. trong khi thực ra ngưu là bò và thủy ngưu mới là trâu. Thôi thì ta cứ xem ngưu là trâu. Người Trung Hoa vẫn gọi "ngưu" là con bò, như trong sách nhà Phật có "Thập Ngưu Đồ" tức là mười bức tranh bò, nên trong đó vẽ con bò.
Trâu cũng như đa số các loài gia súc khác như chó, mèo, heo, ngựa, gà v.v... nguyên là loài vật sống nơi rừng núi hoang dã, sau này được loài người nuôi nấng dạy dỗ nên lâu ngày nên trở nên thuần thục trở thành gia súc. Hiện nay, giống như chó rừng (chó sói), mèo rừng, ngựa rừng, heo rừng v.v..., có nhiều loại trâu rừng sống nơi các đồng cỏ, nhất là tại Phi Châu. Trâu rừng sống từng đàn có khi tới hàng ngàn con để nương tựa và bảo vệ lẫn nhau chống lại các loại ác thú như hùm, beo, sư tử v.v... Vì vậy, cọp beo tuy rất hung dữ, nhất là khi đói mồi, nhưng cũng ít giám mạo hiểm xông vào bầy trâu rừng để kiểm ăn. Các loài thú lanh lẹ khác như hươu, nai, ngựa vằn v.v... thường "chạy" để trốn tránh đối thủ, còn trâu rừng chậm chạp, không chạy nhanh được nên phải hợp quần để chống lại giống sài lang. Khi bị cọp beo tấn công, bầy trâu rừng tập họp quây quần thành một vòng tròn lớn để bảo vệ những con nghé hoặc trâu già yếu ở bên trong, còn những con trâu khỏe mạnh có cặp sừng nhọn phòng thủ bên ngoài không cho địch thủ xâm nhập. Nếu cọp beo liều lĩnh tấn công, bầy trâu sẽ đồng loạt cúi thấp đầu xuống đưa một hàng rào sừng nhọn hoắt như vạt tre vót nhọn nêu địch thủ xông vào sẽ bị húc lòi ruột.
Sau này, vì trâu có sức mạnh, dễ nuôi, bản tính lại tương đối hiền hòa nên được loài người chiêu dụ, trở thành gia súc để kéo xe hay kéo cầy, giết thịt hay lấy sữa. Có thể nói ngay từ thời tiền sử khi loài người biết trồng cấy, trâu đã là loài vật sát cánh với con người trong cuộc tranh đấu với thiên nhiên để sống còn. Do đó, đối với nông dân trâu trở thành bạn hữu thân thuộc hơn cả gà, chó, ngựa, heo v.v... Theo sách khoa học, tuy gọi được gọi chung là trâu, nhưng ngoài cách phân biệt tổng quát giữa trâu rừng và trâu nhà, còn được chia thành nhiều loại, nhiều giống. Trước hết là giống trâu Arni là một loại trâu rừng sinh sống ở rừng núi bên Ấn Độ. Trâu Arni có da màu xám hay đen, to con, khỏe mạnh nên là loại trâu được gia súc hóa từ hàng ngàn năm nay. Bên Ấn Độ, ngoài trâu giống Arni, còn có rất nhiều loại khác như Murrah, Kundi, Nili, Ravi. Tại vùng Đông Nam Á, điển hình là Việt Nam và Trung Hoa, đa số các loại trâu đều thuộc về giống 'trâu đầm" (swamp buffalo) hay trâu nước gọi tắt là trâu như thường thấy ở Việt Nam, nhất là ngoài Bắc Việt. Trâu nhà Việt Nam bắt nguồn từ giống trâu rừng Arni, trông chắc nịch và mạnh khỏe như loại bò kéo xe. Vì loại trâu nhà này to con, có thể nặng từ 250 kg đến 1000 kg, nên còn được dùng để xẻ thịt. Đa số trâu nhà lại Việt Nam và Trung Hoa được dùng để kéo cầy, bừa hay trong công việc đồng áng. Trâu cũng được dùng để kéo xe, có thể đi tới 30 cây số trong một ngày với xe nặng hàng tấn. Các loại trâu nhà thông dụng gồm có: Albinoid, Shanghai, Tamarao... Bên Nam Mỹ còn có loại trâu Rosilho, trông khá giống trâu Việt Nam. Theo thống kê, trâu nhà được nuôi nhiều nhất tại các nước thuộc Á Châu. Ở Trung Hoa có vào khoảng từ 20 đến 25 triệu con; Thái Lan và Phi Luật Tân chừng 5 triệu con; Nepal khoảng 4 triệu con; lndonesia khoảng 2 đến triệu con; Việt Nam và Miến Điện chừng 2 triệu con.
Ngoài các chủng loại nêu trên, trâu còn có nhiều màu sắc khác nhau. Thông dụng nhất là loại trâu da xám sậm, chúng ta thường quen gọi là trâu đen. Có loại lông thưa, da màu xám nhạt gần như xanh như sách cổ có nói Lão Tử, giáo chủ của phái "thanh tịnh vô vi" thường cưỡi con "thanh ngưu" đi ngao du khắp thiên hạ. Trong nhạc phẩm "Ngày Trở Về" của nhạc sĩ Phạm Duy cũng có câu "... có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ". Ngoài hai loại trâu xám và trâu xanh, còn có loài trâu trắng tương đối hiếm.
Trâu trưởng thành nặng khoảng từ 250 đến 500 kg. Loài trâu rừng hoang dã lớn hơn thế rất nhiều, con cái có thể nặng 800 kg, con đực lên tới 1,2 tấn, và cao tới khoảng 1,8 m. Trâu rừng Châu Á có cặp sừng dài nhất trong số các loài thú có sừng trên thế giới. Mới đây, tại Việt Nam, một bộ sừng trâu rừng lớn chưa từng thấy đã được phát hiện, ước đoán to hơn trâu rừng hiện nay rất nhiều. Ấn Độ là nước nuôi nhiều trâu nhất trên thế giới. Ở nước này người ta sử dụng sữa và thịt của trâu thay cho bò.
Nước Việt Nam có các đồng bằng phì nhiêu thuộc miền châu thổ sông Hồng Hà và Cửu Long do đó nông nghiệp tại nước ta đã được phát triển từ thời xa xưa. Con trâu vì vậy thường được coi như người bạn thân thiết và trở thành biểu tượng rất phổ thông của dân quê Việt Nam. Vì vậy, ngoài việc chia sẻ nỗi cực nhọc với nông dân trong đời sống hàng ngày, trâu còn gắn liền với phong tục, tập quán của dân Việt từ ngàn xưa, điển hình là trâu đã được dùng để mang tên một trong mười hai con giáp. Trong số những con giáp, trâu không những là con vật lớn nhất mà có lẽ còn gần gũi với chúng ta nhất đến nỗi đã trở nên một phần tử trong gia đình, đồng cam cộng khổ như trong câu ca dao sau đây:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa
Tình thân này sân đậm đến nỗi lắm khi trâu còn được coi như một người bạn tâm sự thực tình quí mến, cùng chia xẻ gian lao nhọc nhằn với nông dân ngoài đồng vào những buổi trưa hè nóng bức.
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đây ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Trong đời sống hàng ngày của dân quê, hình ảnh của con trâu quen thuộc cũng thường được nhắc nhở qua những câu tục ngữ hay ví von rất ý nhị ngụ ý khuyên răn người đời.
Đời là một cuộc cạnh tranh liên tục nên kẻ chậm chạp dễ bị thua thiệt. Muốn chiếm lợi thế trong công việc làm ăn, hình ảnh bầy trâu cùng kéo nhau xuống một vũng nước được gợi lên để khuyên mọi người hãy tích cực mau mắn để chiếm lợi thế như câu "trâu chậm uống nước đục". Nhiều khi trong cuộc tranh giành quyền hành giữa những thế lực to lớn lại gây thiệt hại lây tới những kẻ thấp cổ bé miệng vô can. Vì vậy, các cụ ta thường nói "Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết". Những người làm việc không có hệ thống hợp lý, thiếu thứ tự mạch lạc trước sau, người đời chê là "Đặt cái cầy trước con trâu". Đây là kiểu cách làm việc và lý luận của những kẻ hiện đang hô hào hợp tác với Việt Cộng để xây dựng đất nước Việt Nam. Dưới chế độ độc tài đảng trị, Việt Cộng là thủ phạm chính đang tàn phá đất nước, là trở ngại lớn nhất, vì vậy muốn tái thiết, chúng ta cần phái tiêu diệt lũ sâu bọ hại dân hại nước này trước. Để ám chỉ những ai biếng nhác, chưa làm đã muốn nghỉ, người đời có câu mỉa mai "sáng tai họ, điếc tai cầy". "Họ" là tiếng riêng của thợ cầy bảo cho trâu hiểu hãy ngưng kéo cầy. Khi muốn trâu kéo cầy trở lại, nông phu nói "vắt, vắt" để trâu đi. Những ai thường ganh tị, gièm pha, không ưa người thành công hoặc có miếng ăn miệng để hơn mình, tục ngữ mệnh danh là "Trâu cột ghét trâu ăn". Ngoài ra, chúng ta cũng thường nghe mọi người ví von: "Khỏe như trâu", "Thở như trâu", "Anh hùng chết lỗ chân trâu" v.v...
Ngoài những câu tục ngữ, ví von, ca dao cũng là kho tàng văn chương phong phú phản ảnh trung thực nếp sống của giới bình dân. Trong ca dao hay trong những dịp lễ tết quan trọng, con trâu cũng thường là đầu câu chuyện.
Ngày xưa khi thách cưới, ngoài trầu cau, nhà gái thường "thách" đàng trai nạp sính lễ thêm một con thú "bốn chân" ngụ ý nhỏ cũng phải là heo, lớn là trâu bò để làm đám cưới linh đình đãi họ hàng làng nước cho nở mày nở mặt. Nhưng chẳng may gặp phải chàng rể tương lai nghèo, không mua nổi con vật bốn chân nên đành phải bào chữa:
Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng đau gan
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng
Đôi khi, dù chàng trai đã cố gắng hết sức để đáp ứng lời thách cưới, nhưng nhiều cô gái hợm hĩnh vẫn chanh chua cho rằng mình còn cao giá hơn nhiều:
Anh về bán ruộng cây đa
Bán cặp trâu già mới cưới đặng em.
"Ruộng cây đa" là ruộng ở đầu làng, địa điểm thuận tiện nhất nên rất quý hiếm và đắt giá.
Nói tới chuyện lứa đôi, dựng vợ gả chồng, các cụ ta ngày xưa thường kén chọn nàng dâu, chàng rể rất kỹ càng, nhiều khi chính các "đương sự" cũng không được tham khảo ý kiến, theo đúng quan niệm "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó". Vì "Cưới vợ xem tông, lấy chồng coi giống", chàng rể cần phải có "giống" tốt, để "cấy" một phát vào đám mạ non là kết quả trông thấy ngay. Nhưng "giống" dù có tốt mà "ruộng" cằn cỗi, nước nôi không đầy đủ thì lúa mọc làm sao được phải không quí vị? Do đó cần phải chọn lựa nàng dâu kỹ càng hơn để kiếm người "vượng phu ích tử", lắm con nhiều cái. Nhưng ngặt một cái ngày xưa "nam nữ thụ thụ bất thân", đâu có vụ ôm eo ếch, hôn hít, sờ mó, xào ướt, xào khô thả giàn như bây giờ. Mà chưa mở cuộc "thám hiểm" thì làm sao biết thửa ruộng của ai kia thuộc loại lá tre, lá vông hay lá mít? Ướt hay khô? Có mầu mỡ phì nhiêu không? Chỉ còn cách "trông mặt mà bắt hình dong", xem tướng bên ngoài mà suy đoán "phần trong" vậy! Đối với dân quê mộc mạc, họ chỉ cần đem kinh nghiệm mua trâu áp dụng vào việc chọn "nái" là trúng phóc như "Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi".
Trâu, ngoài việc trợ giúp đắc lực cho nông dân trong việc đồng áng, còn là con vật rất hữu dụng và rất có giá trị trong những dịp quan hôn tang tế. Đám cưới hoặc đình đám trong làng có "vật trâu" hay mổ bò là một đám lớn. Khi khấn vái thánh thần, hứa tạ lễ bằng trâu cũng là một dịp đền ơn quan trọng.
Đối với những cô gái trong làng hay kén chọn, phải "chổng mông mà gào" đến nỗi bị mắc bệnh "hoảng chưa", tuy tội nặng khó tha thứ, có thể bị "gọt đầu bôi vôi", nhưng chỉ cần nạp một con trâu cho làng xã thì cũng được tha tội. Không có trâu, chỉ còn có nước bỏ làng ra đi:
Phềnh phềnh lớn giữa lớn ra
Mẹ ơi! Con chẳng ở nhà được đâu
Ở nhà làng bắt một trâu
Cho nên con phải đâm đầu ra đi
Dân quê thuở trước thường mê tín, dị đoan, khi gặp hoạn nạn, nguy hiểm hay đi cầu thánh cầu thần cứu giúp, xin cúng trâu để đền ơn tạ lễ. Đối với những người lúc cúng vái thì hứa hẹn đủ thứ, nhưng khi tai qua nạn khỏi lại quên hết, ca dao có câu chế nhạo:
Cầu được khẩn bà một trâu
Được rồi thì có trâu đâu cho bà
Để nhắc nhở mọi người hãy nhớ tới tình tự dân tộc, đừng nên vọng ngoại hay đứng núi này trông núi nọ, kiểu như người Mỹ thường nói "the grass is greener at the other side of the fence" (bên kia hàng rào, cỏ xanh tươi hơn), dân ta có câu nhắc nhở khéo léo:
Trâu ta ăn cỏ đồng ta,
Tuy là cỏ lụt nhưng là cỏ thơm
Câu này ý nghĩa cũng tương tự như "ta về ta tắm ao ta, du trong dù đục ao nhà vân hơn". Viết đến đây, tác giả không khỏi "dở nón thán phục" các cụ ta ngày xưa, vì những câu "ví von" không những đúng phóc từ hàng ngàn năm về trước, mà chân lý còn "vượt thời gian và không gian" theo chân người Việt tị nạn sang mãi tận Tạp Chủng Quốc Huê Kỳ. Bằng cớ là hiện nay có thiếu gì các vị liền ông liền bà người Mỹ gốc Đại Cồ Việt, da dùng kem này kem nọ để tẩy, để cạo tối ngày nhưng vẫn vàng ủng như nghệ, mũi thì sửa lên sửa xuống hàng chục lần mà vẫn xẹp lép giống cái bánh tráng, ấy vậy mà đã quên khuấy cả "ao ta" lẫn "đồng ta". Các vị này - nếu là giống cái - chê rằng đàn ông Việt Nam thuộc loại ao đục, nước không được trong xanh đẹp đẽ như mắt mèo của mấy tên mọi Da Đỏ nên ca bài tẩu mã. "ôm cầm sang thuyền khác" theo tụi mũi lõ, bất kể tình nghĩa. Có dè đâu chỉ trong một thời gian ngắn, khi tiền hết không còn đủ để mua "drug" thì tình cũng tan, muốn quay về cùng "quốc gia dân tộc" thì đã quá muộn. Còn đối với các vị liền ông con trai cũng phải cẩn thận, vì nhiều vị tỏ ý chê cỏ "ruộng ta" là cỏ cụt không thèm cắt, trong khi chắc lưỡi hít hà, lại khen "cỏ" của mấy cô hồng mao vừa dài vừa xanh, chỉ mới nhìn sơ thôi cũng đã đủ khoái con mắt, nếu được làm "groundskeeper!' chắc là khoái tỉ lắm. Vâng, thưa quí vị, đám cỏ "xanh rợn chân trời" kia coi đã thật, rờ tay vào chắc mát rượi, êm mượt như nhung tơ thật, nhưng coi chừng, bèn dưới có nhiều "bug" lắm ạ, không khéo bị nó "cắn" có chầu mất giống ! Ngoài ra, nếu vô phúc, mả tổ táng phải "hàm chó, vó ngựa", mà vớ phải đám cỏ . . . gốc Phi Châu hay gốc Xì chuyên được bón bằng "tacos" mí lị "tamales" thì có nước mà bỏ hút. Vả lại. dính dáng đến mấy đám cỏ phải gió này, nay phải tỉa, mai xén, mốt cần bón phân ... làm lụng hùng hục tối ngày sáng đêm, còn gì thân thể? Chủ nhân lại chỉ cho đớp hamburger và hót dog cầm canh, nhớ mùi mắm tôm, mắm ruốc "quốc hồn quốc túy" chịu sao nổi? Thôi, nhân dịp đầu năm đầu tháng, tác giả xin có lời khuyên muốn cho gia đình đầm ấm, trên thuận dưới hòa thì "vợ bảo chồng vâng" cứ "ta cầy ruộng ta", cơm nhà quà vợ là xa lộ an toàn nhất, bí quyết của hạnh phúc lứa đôi đấy quí vị ạ.
Sau khi có vài lời bàn kiểu Mao Tôn Cương để lấy phước cho con cái và thay đổi không khí, nay trở lại chuyện Trâu để khỏi bị các bình luận gia văn học chê là lạc đề. Ngoài ca dao và tục ngữ, Trâu cũng còn là đề tài rất quen thuộc trong kho tàng chuyện cổ tích dân gian được nhiều người biết tới.
Đầu tiên, về sự tích con trâu, người ta kể rằng ngày xưa, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy dương gian đói khổ, loài người không có đủ lúa gạo ăn, còn súc vật như lừa, ngựa, bò, cừu ... không có đủ cỏ để gặm. Ngài bèn sai Tiên Đồng mang xuống hạ giới một bó lúa và một bó cỏ thần "gieo đâu mọc đấy" để gây giống làm thức ăn cho người và vật. Xuống tới trần gian, Tiên Đông thấy cảnh đẹp, đàn bà con gái hấp dẫn nên sao lãng nhiệm vụ, quên cả công tác được giao phó, chỉ gieo bó cỏ mà quên mất bó lúa. Do đó cỏ mọc lan tràn mà không có lúa khiến loài người vẫn thiếu thực phẩm. Ngọc Hoàng nổi giận, phạt Tiên Đồng biến thành con trâu, bắt gặm bớt cỏ để chuộc lỗi. Từ đó, loài trâu tuy phải làm việc đồng áng cực nhọc, nhưng chỉ được ăn cỏ để đền tội mê gái xưa.
Khi còn nhỏ, chắc đa số chúng ta thường được nghe kể chuyện "Thằng Bờm có cái quạt mo, phú ông xin đổi ba bò chín trâu". Quạt mo là cái quạt làm bằng mo cau khô không đáng giá là bao. Bờm là một chàng lãng tử, suốt ngày rong chơi với cây quạt mo phe phẩy. Một ông nhà giầu thấy Bờm ta lúc nào cũng có vẻ nhàn hạ bèn gạ Bờm xin đổi của cải để lấy cái quạt mo mà phú ông cho là báu vật có công dụng giúp con người bớt được những lo lắng, phiền muộn của cuộc đời. Phú ông đề nghị đổi nào "ba bò chín trâu", nào "ao sâu cá mè", nào "bè gỗ lim", "chim đồi mồi" v.và nhưng Bờm ta vẫn "sài lắc" không chịu. Cuối cùng, Bờm lại bằng lòng đổi quạt mo lấy nắm xôi của phú ông. Khi nghe chuyện này, nhiều người cho rằng thằng Bờm rất dại, vì trâu bò, ruộng vườn đáng giá hơn nắm xôi rất nhiều. Nhưng biết đâu Bờm đã rất khôn, vì giầu sang phú quí trên đời lắm khi chỉ dưa đến lo âu phiền muộn, chưa chắc đã được ung dung tự tại, an hưởng như ăn nắm xôi trong tay.
Một chuyện cổ tích cũng liên quan tới Trâu trẻ con rất ưa thích dược rất nhiều người kể nhất là vào dịp Tết Trung Thu khi ngắm trăng, đó là chuyện "Thằng Cuội ngồi gốc cây đa, bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời". Cuội là một chàng chăn trâu nổi tiếng "nói dối như Cuội", đem lòng yêu nàng Hằng Nga trên cung Quảng. Tuy thân phận nghèo hèn nhưng tình yêu chân thành của Cuội khiến cô Hằng cảm dộng và chấp nhận. Cuội được đưa lên cung Quế để đời đời chung sống với người yêu. Do đó trên mặt trăng muôn thuở in hình chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa. Sau này nhà thơ say Tản Đà chán cảnh thế gian điên đảo, đã ao ước được làm chú Cuội:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nữa rồi Cung quế có ai ngồi đó chửa Cành đa xin chị nhắc lên chơi . . . . . . .
Nhưng trong số cổ tích, ý nhị và cảm động nhất có lẽ là câu chuyện tình Ngưu Lang và Chức Nữ. Tương truyền rằng ngày xưa có chàng Ngưu Lang là một mục đồng chăn trâu, vì cơ duyên nay mắn nên gặp được một nàng tiên trên trời tên là Chức Nữ. Hai người đem lòng yêu nhau nhưng trời không chấp nhận mối tình tiên tục này. Trời bắt hai người phải xa nhau bằng cách đầy Ngưu Lang ở một bờ sông Ngân Hà trên thượng giới, còn Chức Nữ ở bên kia sông để đời đời không bao giờ được gặp nhau. Tuy hai người bị cách mặt nhưng vẫn không xa lòng, lúc nào cũng nghĩ tới nhau. Tình yêu thắm thiết và chung thủy này khiến Trời cũng cảm động nên cho phép hai người mỗi năm được gặp nhau mỗi năm một lần vào tháng bảy. Vào ngày hội ngộ, nhiều con quạ chắp cánh liền nhau thành một cây cầu bắc qua sông Ngân để đôi tình nhân muôn thuở bước qua gặp nhau. Do đó cây cầu này được gọi là cầu Ô Thước tức là cầu quạ đen. Nước mắt mừng tủi của Ngưu Lang và Chức Nữ trong dịp hội ngộ hiếm có hàng năm biến thành những giọt mưa rơi xuống trần thế, gọi là mưa Ngâu, từ chữ Ngưu (Ngưu Lang) mà ra. Sau này, người đời hường dùng thành ngữ "vợ chồng Ngâu" để chỉ những đôi uyên ương yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh phải chia cách. Tưởng cũng nên biết bên Trung Hoa cũng có câu chuyện tình "đầu sông cuối sông" tương tự như chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ tuy khá hay, nhưng không thắm thiết và có ý nghĩa bằng. Đó là 4 câu thơ thường được người ta lấy ra từ bài "Trường tương tư" của Lương Ý Nương, đời Hậu Chu bên Trung Hoa:
Ngã tại Tương Giang đầu Quân tại Tương Giang vĩ Tương tư bất tương kiến Đồng ẩm Tương Giang thủy (Thiếp tại đầu sông Tương Chàng ở cuối sông Tương Nhớ nhau nhưng chẳng gặp Cùng uống nước sông Tương)
Chuyện kể rằng chồng bà Lương Ý Nương bị sung công, đi lính thú cho vua nhà Chu. Bà Lương Ý Nương chiều chiều ra bờ sông, nhìn về hướng xa xăm, làm bài thơ này để nhớ tới người chinh phu. Thời đó phụ nữ biết đọc biết viết có thể đếm trên đầu ngón tay, đừng nó gì đến làm thơ! Nhà vua đọc được bài thơ, cảm động quá, bèn miễn quân dịch cho người chồng để trở về với gia đình. Bốn câu thơ trên thường "được" (hay "bị") đổi 2 chữ đầu ở 2 cầu. Đến nay, chưa biết ai đúng ai sai.
Trong dân gian còn có truyện Trạng Quỳnh chọi trâu khiến sứ Tàu phải thán phục, chịu thua. Nguyên nước Tàu lúc nào cũng nuôi mộng thôn tính nước ta, nhưng sau nhiều lần bị đại bại nên không giám xua quân xâm lăng như trước. Một hôm, vua Tàu sai sứ sang nước ta, giả tiếng thăm viếng nhưng kỳ thực dò xét xem nước ta có nhiều nhân tài hay không để tùy nghi hành động. Sứ Tàu đem theo một con trâu cổ rất to lớn và hung dữ rồi thách vua ta đưa trâu ra chọi thi, nếu bị thua phải triều cống nước Tàu. Vua ta thấy trâu Tàu khỏe quá nên rất lo ngại, bèn triệu Trạng Quỳnh vào cung vấn kế. Trạng Quỳnh chỉ xin vua một con nghé nhỏ, gầy đói ốm yếu để chọi với trâu Tàu. Đến ngày thi dấu, Trạng Quỳnh bỏ đói con nghé không cho bú sữa nên khi gặp trâu Tàu, con nghé xông vào bụng con trâu lớn để tìm vú mẹ. Trâu Tàu tuy to lớn nhưng chỉ quen chọi với trâu lớn, nay gặp con nghé nhỏ khát sữa cứ lủi đầu vào hai chân sau nên bỏ chạy. Trạng Quỳnh còn dọa sứ Tàu: "Trâu Tàu to lớn như vậy mà còn bị thua một con nghé nhỏ của Việt Nam, nếu đưa trâu Việt ra, chắc trâu Tàu chết mất xác". Sứ Tàu chịu phục, về tâu với vua Tàu là Việt Nam có rất nhiều nhân tài, không thể xâm lấn được.
Ai cũng biết tại Hà Nội có Hồ Tây rất lớn là thắng cảnh ngay trong thành phố. Theo cổ tích có một con trâu bằng vàng ròng dưới đáy hồ, gọi là "Trâu vàng Hồ Tây". Nguyên vào thời nhà Lý, có một nhà sư pháp thuật cao cường tên là Không Lộ. Một ngày kia, sư Không Lộ lên đường sang Trung Quốc, mang theo một cái túi nhỏ. Nhà sư xin yết kiến vua nhà Tống, để quyên một ít kim khí, chỉ cần đầy túi đem về đúc thành tượng Phật. Vua bảo quan đưa sư Không Lộ vào tận kho, chọn lựa tùy thích vàng hay đồng, miễn là chỉ đựng đầy túi thôi. Vừa bước vào cửa kho, sư Không Lộ trông thấy một con trâu to lớn, đúc toàn bằng vàng ròng đứng nghênh ngang, như muốn canh giữ kho vua. Ở gian chính giữa, có cất giữ một số kim khí hiếm quý hơn vàng, gọi là đồng đen. Sư Không Lộ bèn giở phép thuật thần thông, mở cái túi vải nhỏ ra, thâu tóm quá phân nữa số đồng đen trong kho vàng bạc của vua Tống. Vua Tống nổi giận, ra lệnh chém đầu nhà sư nước Nam nhỏ bé, sư Không Lộ vội vàng thoát ra khỏi kho báu vật, nhanh nhẹn vượt qua hoàng thành. Trở về nước, Sư Không Lộ đúc một cái chuông bằng đồng đen lấy ở Tầu về. Vào ngày lễ khánh thành chuông đồng đen, sư Không Lộ cầm chày đánh lên tiếng chuông đầu tiên, tiếng chuông vang xa, rung động đến ngàn vạn dặm. Con trâu vàng ở kho tàng vua Tống nghe tiếng chuông đồng, bỗng phóng chạy về phương Nam. Thấy con trâu vàng chạy đến, nhà sư bèn lăn chuông xuống Hồ Tây. Chuông đen rung vang một lần cuối cùng, trước khi rơi xuống nước. Con trâu vàng, theo đó, cũng nhảy xuống Hồ Tây biến mất theo chuông đáy hồ. Những người thợ rèn nước Việt đã dựng nên một ngôi đền thờ bên cạnh Hồ Tây, để nhớ ơn nhà sư Không Lộ đã dạy cho họ phương pháp đúc đồng. Vua nhà Lý đã ban sắc phong tặng sư Không Lộ biệt danh là Thần Thợ Đúc.
Trong lịch sử Việt Nam, có vị anh hùng "Cờ Lau Tập Trận" Đinh Bộ Lĩnh xuất thân từ trẻ chăn trâu. Ông là người động Hoa Lư (nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), thuở nhỏ mồ côi cha nên về quê ơ với chú. Lúc đó nước ta đang vào thời Hậu Ngô, bị nạn 12 sứ quân, mỗi người chiếm một nơi xưng hùng xưng bá. Các sứ quân đánh nhau liên miên gây ra nội loạn, dân chúng vô cùng khốn khổ, ông Đinh Bộ Lĩnh thường đi chơi với đám trẻ chăn trâu, bắt chúng khoanh tay làm kiệu và lấy bông lau làm cờ tập trận. Có lần ông cho giết cả trâu của chú để làm tiệc "khao quân". Lớn lên, ông theo sứ quân Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu (thuộc phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình). Sau đó ông nắm binh quyền, dẹp được loạn 12 sứ quân khiến nước nhà được thái bình thịnh trị, nên được dân chúng tôn là Vạn Thắng Vương. Đến năm Mậu Thìn (968), ông lên ngôi Hoàng Đế, đóng đô tại Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, có đoạn nói về vua Đinh Tiên Hoàng như sau:
Có ông Bộ Lĩnh họ Đinh, Con quan Thứ Sử ở thành Hoa Lư, Khác thường từ thuở còn thơ, Rủ đoàn mục tử mở cờ bông lau ...
Trong sử sách còn có ông Đào Duy Từ thuở nhỏ cũng là mục đồng, con của Đào Tá Hán là kép hát và Bà Kim Chi là người hiếu học, nên sau được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được phong chức Nha Úy Nội Tán, tước Lộc Khê Hầu, Quan Quản nội ngoại quân cơ, Tham lý quốc chánh. Đào Duy Từ là người có công đắp xây lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc và lũy Định Bắc Trường Thành dọc theo sông Nhật Lệ tục gọi là Lũy Thầy Đồng Hới để ngăn chận quân Chúa Trịnh.
Về mặt phong tục tập quán, mỗi năm vào ngày mùng 9 tháng 8 Âm lịch hàng năm, dân Đồ Sơn lại tưng bừng bước vào một lễ hội lớn mang đậm bản sắc văn hóa và tinh thần thượng võ: Hội chọi trâu. Để có ngày hội độc đáo này, người dân Đồ Sơn không tiếc công của để đi tìm mua bằng được những trâu ưng ý từ khắp mọi nơi để về làm lễ "nhập tổng" tôn lên thành ông trâu...
Hội chọi trâu có từ bao giờ, chưa ai rõ, nhưng truyền thuyết về hội chọi trâu gắn với tục thờ thần Điểm Tước - lúc Đồ Sơn vẫn chỉ là miền đất hoang vắng đầy sình lầy, lau sậy cách đây vài trăm năm và câu ca truyền tụng vẫn còn đến bây giờ:
Dù ai buôn đâu bán đâu Mùng Chín tháng Tám chọi trâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Mùng Chín tháng Tám thì về chọi trâu
Gần đây, dưới thời Pháp thuộc tại miền Nam có ông Nguyễn Văn Lạc, còn được gọi là Học Lạc làm bài thơ "Vịnh Con Trâu", ví bọn Việt gian bán nước giống như những con trâu to đầu nhưng đần độn, chẳng phân biệt được chính tà, những lời nói phải đối với chúng chàng khác gì "đờn khẩy tai trâu":
Mài sừng cho lắm vẫn là trâu Ngẫm lại mà coi thực lớn đầu Trong bụng lam nham ba lá sách Ngoài cằm lém đém một hàm râu Mắc mưu đốt đít quay đầu chạy Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu Nghé ngọ ngàn đời quen nghé ngọ Năm cung đơn khẩy biết nghe đâu?
Khi nói trong bụng lũ trâu bò phản quốc chỉ có "lam nham ba lá sách', chắc ông Học lạc muốn ám chỉ sự ngu dốt của chúng. Người xưa quan niệm rằng sự khôn ngoan, biết phải quấy của con người đều được chứa trong bụng như các câu nói "hung trung binh giáp, chưởng thượng kinh luân" hay "binh giáp tàng hung trung". Trong bụng rỗng tuếch, chỉ có vài ba lá sách, không thể nào là người biết đạo thánh hiền được. Còn "lém đém một hàm râu" là tướng mạo của những kẻ nham hiểm, nịnh thần, đúng như câu "người trung mặt đỏ đôi tròng bạc, đứa nịnh râu đen mấy sợi còi". Trong tuồng hát bộ, những vai trung thần đều vẽ mặt đỏ, mang bộ râu rậm, dài như Quan Vân Trường. Còn vai nịnh thần, phản nghịch như Tần Cối, Tào Tháo thì râu loe hoe, hệt như mấy sợi lông ... cằm của "bác" Hồ.
Nhà chí sĩ Học Lạc cũng chê lũ Việt gian ngu si như bầy trâu "mắc mưu đốt đít quay đầu chạy". Đây là tích thời Chiến Quốc, thái tử Điền Đan nước Tề bầy "Hỏa Ngưu Trận" để đánh bại quân Yên do tướng Kỵ Kiếp cầm đầu tại thành Tức Mặc. Trong trận đánh nổi tiếng này, Điền Đan bắt hàng ngàn con trâu, cột dao nhọn vào sừng, lấy vải vẽ đủ mầu xanh đỏ khoác trên mình, sau đuôi cột những bó cỏ khô tẩm dầu. Còn quân lính nước Tề cũng mặc quần áo vẽ rồng rắn lòe loẹt, giả làm thần binh. Đến đêm, Điền Dan xua trâu ra, đốt cỏ đàng sau đuôi khiến trâu bị nóng, lồng lộn xông vào trại quân Yên. Đa số quân Yên còn đang ngủ, bừng mắt dậy thấy "thần binh" và "thần vật" đang tàn phá tơi bời nên đâm đầu bỏ chạy. Bầy trâu bị đốt đít nóng quá, bạ đâu húc đó làm doanh trại quân Yên tan hoang, binh lính lớp chết lớp bị thương hoàn toàn tan rã. Quân Tề đại thắng trận này.
Cũng nên nói, cụ Phan Văn Trị làm thêm bài thơ "Vịnh Con *** Trôi" để ví bọn Việt gian tuy dược Pháp cho giữ những chức trọng quyền cao, nhưng đây chỉ là những "xú danh". cũng hôi thối như xác con *** trôi:
Sống thời bắt thỏ, thỏ lêu rêu Thác thả dòng sông xác nổi phều Vằn vện sắc còn phơi lẫn đẫn Thúi tha danh hỡi nổi lêu bêu . . . . . . . .
Đọc xong hai bài thơ "Trâu, Chó" nói trên, chúng ta có cảm tưởng như các cụ đã sống lại để chửi bọn trâu chó Việt Cộng ngu dần phản dân hại nước. Thế mà ngày nay tại hải ngoại vẫn còn những bọn xôi thịt, luôn miệng hô hào hòa hợp, hòa giải, giao lưu với bè lũ hôi tanh như "con *** trôi" để kiếm ăn, chẳng khác nào "bầy tôm tép" và "lũ quạ diều" sống bám vào xác con *** trôi Cộng Sản. Sớm muộn gì con *** trôi này cũng bị trận gió dân chủ, làn sóng tự do dồi dập cho tan tành, chỉ còn mùi xú uế để lại ngàn năm. Riêng việc so sánh lũ quỉ đỏ với con Trâu thì sợ bất công cho con vật này. Tuy trong bụng chỉ có "lam nham ba lá sách" và "ngoài cằm lém đém một hàm râu", nhưng Trâu còn giúp được nông dân trong việc đồng áng, không nham hiểm và bỉ ổi hại dân hại nước như bè lũ cáo Hồ.
Đề cập tới bọn Việt Cộng tàn ác, không thể không nhắc tới lũ quỉ sứ "dầu trâu mặt ngựa" của Diêm Vương dưới âm phủ chuyên đi bắt hồn người sống trên dương gian. Nổi tiếng nhất trong dám quỉ này là hai tên phán quan, được mệnh danh là "hắc bạch vô thường" vì một tên chuyên mặc đồ đen, còn tên kia mặc đồ trắng. Hai tên phán quan này cầm cuốn sổ tử lên dương gian điểm danh những người "tới số" rồi sai hai quỉ "ngưu đầu mã diện" bắt hồn về âm phủ. Vì vậy, khi nghe tới dám quỉ "đầu trâu mặt ngựa" này, người trần ai cũng kinh sợ và chán ghét. Hiện nay tại Việt Nam, có hàng hà sa số đám quỉ đỏ đầu trâu mặt ngựa tên Việt Cộng đang ngự trị, trách nào dân chúng chẳng bị hành hạ đến tột cùng.
Cũng như Việt Nam, Trung Hoa là một xứ sống về nông nghiệp, nên cũng có khá nhiều truyện liền quan đến Trâu. Ngoài "Hỏa Ngưu Trận" thời Chiến Quốc như đã kể, trong Tam Quốc Chí còn có truyện "trâu gỗ, ngựa gỗ" của quân sư Khổng Minh dùng để đánh quân nhà Ngụy do Tư Mã Ý cầm đầu. Một trong những lần "Lục xuất Kỳ Sơn", quân Hán vì viễn chinh xa hậu cứ nên gặp trở ngại về vấn đề vận chuyển lương thực. Vì đường sá quá xa xôi lại gập ghềnh khúc khuỷu nên việc tiếp tế lương thảo cho quân lính rất khó khăn. Quân Sư Khổng Minh liền vẽ họa đồ, giao cho thợ mộc đóng hàng ngàn con trâu gỗ, ngựa gỗ có thể chạy nhảy được như trâu ngựa sống. Đàn trâu ngựa này được dùng để vận chuyển lương thực nên quân Hán đủ sức bao vây Tư Mã Ý lâu ngày. Từ trước đến nay, Tư Mã Ý chỉ cố thủ vì biết trước quân Hán không sớm thì muộn sẽ phải rút lui vì đường xa thiếu lương, nay thấy trâu ngựa gỗ tải lương đều đặn nên rất lo sợ. Ít lâu sau, Khổng Minh cố ý để quân Ngụy bắt được vài con trâu ngựa gỗ nên Tư Mã Ý cũng bắt chước tự chế ra để tải lương. Đến lúc đó, Khổng Minh ngầm cho người vặn ngược lưỡi của trâu, ngựa gỗ khiến quân Ngụy đẩy mãi mà trâu ngựa cứ đứng ỳ ra. Sau đó, quân Hán đánh tới khiến quân Ngụy phải bỏ chạy. Lúc đó, quân Hán chỉ việc vặn lưỡi lại, trâu ngựa gỗ tải đầy lương thực lại đi đứng được như thường. Trận này, quân Hán đại thắng, lại còn thu được rất nhiều lương thảo. Tư Mã Ý phải phục Không Minh là người nhà trời.
Trong truyện Tây Du Ký kể lại sự tích Đường Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh cũng có tên Ngưu Ma Vương mình người đầu trâu. Ma vương này là chồng của Thiết Phiến Công Chúa, chủ nhân của hỏa diệm sơn. Một hôm thầy trò Đường Tăng đi đến vùng hỏa diệm sơn nhưng vì thời tiết quá nóng nên không thể nào đi qua được. Đệ tử lớn của Đường Tăng là Tôn Hành Giả biết chỉ có quạt ba tiêu (tầu lá chuối) của Thiết Phiến Công Chúa mới quạt cho thời tiết dịu lại được. Nhưng công chúa nhất định không cho mượn quạt vì lúc trước, họ Tôn đã cầu Phật Di Lạc bắt Hồng Hài Nhi là con của Ngưu Ma Vương và công chúa làm đệ tử. Hồng Hài Nhi vì sinh đẻ nơi núi lửa nên lúc nào cũng di chuyển bằng xe bánh lửa (hỏa luân xa). Sau này, Hành Giả nhờ Phật giúp đỡ cũng mượn được quạt, giúp Đường Tăng vượt hỏa diệm sơn, sang đến Tây Trúc cầu được kinh Phật.
Truyện "Tiết Nhân Quý Chinh Đông" cũng kể họ Tiết nguyên là con cọp trắng (bạch hổ) biến hình. Vì cơ duyên, Nhân Quý ăn được mấy cái bánh hình trâu, cọp nên có sức mạnh của chín trâu ba cọp hợp lại Nhân Quý có công cứu giá vua Đường Lý Thể Dân nên được phong chức nguyên soái trong cuộc chinh đông. Con của Tiết Nhân Quý là Tiết Đinh San và vợ là Phàn Lê Huê sau này cũng giúp vua Đường trong cuộc chinh Tây. Tưởng cũng nên biết quân sư nhà Đường tên Từ Mậu Công là người thông về thiên văn, địa lý nhưng lại có cái mũi lớn như mũi trâu nên những người trong nhóm bạn của Đường Thế Dân như Trình Giảo Kim, Tần Thúc Bảo v.v... gọi là lão quân sư mũi trâu. Truyền thuyết Trung Hoa còn có truyện Hứa Do, Sào Phủ liên quan tới Trâu. Hứa Do được tiếng là người hiền nên một hôm được vua Nghiêu gọi đến để truyền ngôi cho. Nghe xong, Hứa Do không trả lời, chỉ lặng lẻ bỏ đi vào chốn rừng sâu, tìm tới một dòng nước để rửa tai. Lúc đó có một người chán trâu tên Sào Phủ cũng đang dẫn trâu đến cho uống nước. Sào Phủ hỏi tại sao Hứa Do lại phải rửa tai? Hứa Do bèn kể chuyện vì đã trót nghe vua Nghiêu nói về việc truyền ngôi là những lời "dơ bẩn" nên rửa tai cho sạch. Sào Phủ nghe xong liền dắt trâu bỏ đi không cho uống nước nữa. Hứa Do hỏi lý do. Sào Phủ nói dòng nước đã bị tai Hứa Do làm bẩn, nếu để trâu uống sẽ dơ cả miệng trâu! Nghe xong truyện này, chúng ta có cảm tưởng Hứa Do là một thứ "quân tử "Tàu"' chắc đã là người hiền, mà đúng ra là người gàn vì chỉ biết "xử" không biết "xuất", lại rất ích kỷ, thiếu quyền biến, chưa xứng đáng là một kẻ sĩ. So với các hiền nhân quân tử Việt Nam như cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ, Hứa Do còn kém xa. Cụ Trạng Trình chỉ về ở ẩn, thong dong tu tập tại am Bạch Vân, không màng danh lợi, hưởng thú an nhàn với "một mai, một cuốc, một cần câu' sau khi đã trả lộc vua, đền ơn nước. Còn cụ Nguyễn Công Trứ "lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất" nhưng vẫn "phù thế giáo một vài câu thanh nghị". Lúc "rồng mây khi gặp hội ưa duyên", cụ đã "đem tất cả sở tồn làm sở dụng, trong lang miếu ra tài lương đống, ngoài biên thùy rạch mũi can tương" Chỉ khi nào "nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo" , bổn phận của kẻ sĩ giúp dân giúp nước đã chu toàn, Uy Viễn Tướng Công mới hưởng thú "thảnh thơi thơi túi rượu bầư. Biết rõ lẽ xuất xử, ngộ biến tòng quyền, tự giác nhi giác tha và dùng tài kinh bang tế thế để giúp đời mới xứng danh hiền nhân quân tử, đáng cho mọi người kính phục.
Về tôn giáo, sách nhà Phật có "Mười bức tranh trâu" (thập ngưu đồ) để dẫn giải tiến trình tu tập của chúng sinh qua mười giai đoạn, từ lúc còn bị bức màn Vô Minh che lấp cho tới khi ngộ được Phật Tánh. Bức tranh đầu tiên có tựa đề "Vị mục", khi đó con bò trong tranh màu đen tuyền, tượng trưng cho bản tánh còn dã man nên mục đồng phải chăn dắt cẩn thận. Qua nhiều giai đoạn khai hóa, tới bức tranh số mười mang tựa đề "song dẫn" (có nghĩa là "diệt") được cụ thể hóa bằng một vòng tròn trắng đơn giản. Lúc này đã đạt tới Chân Như cảnh giới nên cả bò lẫn người cùng cảnh vật đều hòa đồng vào trạng thái "Chân không" chẳng có bò, chẳng có mục đồng và cũng chẳng còn đời.
Tới đây chúng ta đã "phiếm" qua nhiều đề tài, cũng như trải qua lắm giai đoạn với trâu là "nhân vật" chính. Bây giờ để thay đổi không khí cho vui nhà vui cửa trong dịp Tết, và thể theo lời yêu cầu của giới "quần bận, yểm mang" ưa xin xâm hái lộc, tưởng cũng nên bàn qua về mục tướng số, vận mạng trong năm con Trâu. Đầu năm đầu tháng, có lẽ cũng nên biết qua vận hên, xổ xui trong năm mới để còn "tùy cơ ứng biến".
Mục tử vi Tây Phương có Kim Ngưu (Taurus) là một trong mười hai chòm sao của vòng Hoàng Đạo (Zodiac), tương tự như mười hai con giáp trong âm lịch. Điều khác nhau là chu kỳ (giáp một vòng) của Hoàng Đạo là một năm trong khi chu kỳ của con giáp là mười hai năm, nghĩa là cứ mười hai năm mới trở lại con giáp cũ. Nếu nhìn lên bầu trời về hướng đông vào một đêm quang đãng, Kim Ngưu là một chòm sao nhỏ hơi mờ, trông giống hình con bò rừng (bison). Nếu lấy chòm sao Orion (Hiệp Sĩ) với những sao rất sáng và dễ nhận như Betelgeuse, Rigel làm chuẩn, chòm Kim Ngưu nằm ngay bên trên, đối diện với Sirus là ngôi sao thuộc loại sáng nhất trên bầu trời. Những người sinh vào khoảng từ 20-4 đến 19-5 đều mang tuổi Kim Ngưu. Khi đánh bạc, dân Kim Ngưu đều thuộc họ "Paul húc" nên chơi rất bạo.
Qua tử vi, bói toán Đông Phương, chẳng cằn phải là thầy bói ... mò chính cống, ai cũng biết số phần của giới đàn ông không những chẳng khá mà còn có thể coi là "hẩm hiu'. Như thường lệ và theo định luật chắc như đinh đóng cột của cuộc đời, vào bất cứ năm nào, dưới sự cai trị của bất cứ con giáp nào, số phận của bọn "đần ông chúng ta" (tác giả xác định và xác nhận chiến tuyến từ đây) lúc nào cũng đen đủi vì chẳng bao giờ chống lại được chủ nhân của những cái... đen như mõm chó! Thân phận chúng ta hẩm hiu đến nỗi cho tới giờ phút này, quí vị nào nào chưa là "liệt sĩ", còn "ngóc đầu, ngóc cổ" lên được để cầm cự với giới quần hồng đã là khá lắm rồi. Cho đến năm con Trâu năm nay, vì "định mạng đã an bài", trâu được sinh ra đời để "kéo cầy trả nợ" nên số phận của các đấng mày râu lại càng bi đát. Từ ngày sống kiếp lang thang tị nạn, chúng ta đã được phép "cày" thả cửa. "cày" miết, "cày mút mùa... lệ thủy", "cày ngày không đủ, tranh thủ cày đêm" đến hai ba job, không nhìn thấy ánh sáng mặt trời để trả nợ. Nào là nợ cơm áo, nợ tiền nhà, tiền xe, tiền bà xã "kề-đít ca", tiền bảo hiểm, tiền điện nước v.v... và nhất là nợ đời! Năm nay vì cầm tinh con Trâu nên cái ách êm ái và dễ thương trên cổ lại càng phây phây, đó là chưa kể mỗi ngày một thêm "nặng ký", do đó các đấng mày râu hãy coi chừng: không khéo sẽ bị tẩu hỏa nhập ma khi còn phải "cày" thêm cái mảnh đất xéo "nhất thốn thổ"! Riêng với các vị mày râu sồn sồn, thường về thăm quê hương dưới dạng "Việt Kiều yêu nước" để sắm tuồng "trâu già ăn mạ non" cùng các kiều nữ bia ôm, cà phê ôm … bần đạo vì lòng nhân đạo khuyên hãy coi chừng. Đi đêm lâu ngày sẽ gặp ma. Ngoài bọn ma cô ma cậu đội nón tai bèo, chân đi dép râu lột hết đô la mồ hôi nước mắt, còn có thể bị ma "AIDS", nguyên gốc Thái Lan, Đại Hàn nó nhập khiến đời tàn trong hang lạnh luôn, ấy là chưa kể vô phúc bị bà xã vồ được sẽ mất cả chì lẫn chài, chỉ còn đường bị gậy!
Đọc đến đây, trong lúc các "đấng mày râu, rầu thúi ruột", chắc các vị khác phái đang nhe hàm răng ngà ngọc cười hinh hích mà kháo nhau rằng: "Ê! Bọn đàn ông đã xui xẻo tận mạng như vậy, chắc sổ chúng mình năm nay sẽ vô cùng hên, có thể thừa thắng xông lên dễ dàng". Nói như vậy không những vừa tàn nhẫn, vừa vô nhân dạo mà còn rất... đúng! Đàn bà nói là trời nói, đâu có bao giờ sai, chỉ thiếu... chính xác thôi! Vậy năm nay, số mạng các vị thuộc phái nữ sẽ rất hanh thông là đúng rồi, nhưng hên tới mức nào? Dù tác giả có bị các bạn đồng... hội đồng thuyền buộc tội "đâm sau lưng chiến sĩ', hay nghiêm khắc khiển trách là "thờ bà", nhưng vì lương tâm nghề nghiệp cũng phải nói thật, nói ngay, nói thẳng, không thể áp lực của "nhu quyền" mà bẻ cong ngòi bút "bic". Trong năm con trâu này, liền bà con gái tha hồ lên nước xỏ mũi đàn ông cũng như mặc tình múa gậy vườn hoang đến độ "cơm no, trâu cưỡi". Ruộng nương của quí vị sẽ được trâu cầy bừa, "take care" cẩn thận không bị mốc meo đâu mà sợ. Con trâu già của quí vị, ngoài việc chăm chỉ làm việc đồng áng, cày bừa đúng cữ lúc ruộng ướt cũng như ruộng khô, mà khi cao hứng, quí vị còn có quyền thơ thới hân hoan "lật ngược thế cờ", nhong nhong cưỡi trâu... mệt nghỉ? Riêng đối với các vị nữ nhi choai choai "vú sừng trâu" đến tuổi muốn chồng, tác giả có lời khuyên nên chọn lựa cẩn thận, cần theo đúng câu châm ngôn "trâu ta ăn cỏ đồng ta...". Nếu cứ vọng ngoại, nhìn qua hàng rào, ham mấy tên mũi lõ mắt xanh, cuộc đời chẳng mấy lúc sẽ uổng phí và tàn tạ như đóa "hoa nhài cắm bãi phân trâu".
Qua phần tử vi đẩu số, khi năm Mậu Tý chấm dứt thì năm Kỷ Sửu bắt đầu, từ lúc Giao Thừa đêm Chúa Nhật 25 tháng 1 năm 2009 cho đến nửa đêm thứ Bảy ngày 13 tháng 2 năm 2010. Theo ngũ hành can chi, Kỷ Sửu năm nay thuộc hành hỏa, amng Tích Lịch Hỏa, thuộc hào Âm, có can Kỷ thuộc mạng Thổ và chi Sửu cũng thuộc mạng Thổ, do đó được gọi là "Can Chi Tương Hòa". Nếu coi Can Chi là Trời và Đất, thì người tuổi Kỷ Sửu hay trong năm Kỷ Sửu, mọi chuyện tương đối thuận lợi vì trời đất giao hòa, vật chất và tinh thần đều thăng tiến và vững ch
bidong
Dec 31 2008, 11:42 AM
Qua phần tử vi đẩu số, khi năm Mậu Tý chấm dứt thì năm Kỷ Sửu bắt đầu, từ lúc Giao Thừa đêm Chúa Nhật 25 tháng 1 năm 2009 cho đến nửa đêm thứ Bảy ngày 13 tháng 2 năm 2010. Theo ngũ hành can chi, Kỷ Sửu năm nay thuộc hành hỏa, amng Tích Lịch Hỏa, thuộc hào Âm, có can Kỷ thuộc mạng Thổ và chi Sửu cũng thuộc mạng Thổ, do đó được gọi là "Can Chi Tương Hòa". Nếu coi Can Chi là Trời và Đất, thì người tuổi Kỷ Sửu hay trong năm Kỷ Sửu, mọi chuyện tương đối thuận lợi vì trời đất giao hòa, vật chất và tinh thần đều thăng tiến và vững chắc.
Theo các thầy bói chính gốc, người tuổi Sửu thường là những người có đầy đủ những phẩm chất tốt, họ được biết đến bởi tính cách cần cù, chăm chỉ. Họ cũng là những người kiên định, mạnh mẽ, thực tế, và có ý chí vững vàng trong cuộc sống. Những ai sinh vào năm Sửu thường nhẫn nại, có khả năng chịu đựng cao, và nhờ đó có thể vượt qua được bao sóng gió cuộc đời. Nhưng có đôi khi tính cương quyết khiến họ trở nên bướng bỉnh, cứng nhắc bởi lẽ một khi đã quyết định thực hiện điều gì, họ khó có thể thay đổi mục tiêu của mình.
Anh em nhà Sửu là những người trung thành, tin vào đạo lý truyền thống, và luôn gìn giữ chuẩn mực. Thực vậy, an toàn là một trong tiêu chí sống quan trọng của họ. Nói chung, họ không thuộc týp người ưa mạo hiểm, chỉ làm những gì quen thuộc vạch ra sẵn cho mình. Chính vì lẽ đó mà họ thường hay quay lại guồng sống ưa thích để tìm đến niềm khuây khỏa và yên bình trong tâm hồn.
Người tuổi Sửu thường hướng về thiên nhiên. Nếu sống nơi thôn quê, họ thích nhà mình có vườn tược bao quanh. Đối với họ, gia đình là lẽ sống, là nguồn yêu thương, đó không chỉ đơn giản là nơi đi chốn về mà còn là nơi mà họ cảm thấy dễ chịu và được xoa dịu nhất. Màu tím là màu đặc trưng cho người tuổi Sửu.
Về mặt nghề nghiệp,người tuổi Sửu có ý thức và đáng tin cậy, người tuổi Sửu thường có đôi vai to rộng, luôn sẵn sàng gánh vác trách nhiệm về mình. Họ luôn được cấp trên tin tưởng vì tính chu đáo và hiệu quả trong công việc được giao. Người tuổi Sửu làm việc độc lập sẽ tốt hơn khi làm theo nhóm. Dù có vẻ không màng đến danh lợi, chỉ biết cặm cụi làm việc, nhưng bao công sức họ bỏ ra sẽ được đền đáp, vì thế mà sớm muộn gì họ cũng vươn lên vị trí dẫn đầu trong công việc.
Sang phần tình cảm, tuổi Sửu không phải là cung mệnh tách biệt, rụt rè nhất trong 12 con giáp, chỉ vì họ muốn được riêng một mình. Thông thường, những người này thường có một nhóm bạn, tuy không nhiều nhưng là những người bạn trung thành, thân tín. Trong chuyện tình cảm, họ không phải là người lụy vì tình hay quá đa sầu đa cảm, nhưng họ yêu một cách sâu sắc. Một khi dành hết trái tim cho ai, họ sẽ chung thủy, ít khi nào thay đổi.
Kính thưa quí độc giả, bài "phét luận" về năm con Trâu đến đây cũng đã khá dài. Bữa tiệc vui vẻ, linh đình đến đâu cũng phải tàn, huống chi một bài viết... vô duyên, dở ẹc như bài này lại càng nên chấm dứt sớm cho được việc chính phủ. Vậy xin hẹn gặp lại vào năm con Cọp. Trước khi ngừng bút để cùng mẹ đĩ thơ thới "vui xuân kẻo hết xuân đi", tác giả thành thực cầu chúc quí vị cùng bửu quyến vạn sự như ý, thăng quan tiến chức, làm ăn buôn bán phát tài và nhất là quanh năm mạnh khỏe như... trâu. Hy vọng trong tương lai không xa lũ quỉ đỏ đầu trâu mặt ngựa Việt Cộng về chầu Diêm Chúa, đất nước Việt Nam thực sự có tự do dân chủ. Khi đó, chúng ta sẽ có dịp ăn Tết tại quê nhà, nâng ly chén chú chén anh, sống những ngày tháng êm đềm nơi quê cha đất tồ, ngồi mình trâu nhàn nhã trên bờ đê, tai nghe tiếng sáo diều vi vu trong những buổi trưa hè.
Cung Chúc Tân Xuân Kỷ Sửu
Trần Đỗ Cẩm
Austin Texas 2009
bidong
Jan 1 2009, 11:13 AM
Lại khóc lại cười với Trâu
Chẳng bao lâu lại đến Tết con Trâu.
Lạ thật, sao con Trâu lại đi ngay sau con Chuột? Một anh “nhỏ bằng cái nhắt”, khôn lỏi, “chúa thằn lằn” về khoản mẹo vặt và lừa đảo, lúc luồn sâu lúc leo cao, lúc nào cũng thập thò, gây đủ điều tai hại, mà sinh sản cực nhanh, càng bí mật vụng trộm càng đẻ nhiều, nên bị xếp vào loại lưu manh chúa tể. Tiếp theo ngay là một bác to đùng, ngu trung, to đầu mà dại. Cũng “có sừng có sỏ” rất oai, mà bị cái “thằng người” khôn ngoan nó “vặt”nó “dziệt” (1) , lúc sang phải, lúc sang trái, chỉ bằng một sợi dây thừng xỏ mũi. Rồi ta ngộ ra một điều: hai con giáp này xếp liền nhau là phải, bên cạnh anh ngu trung y như rằng xuất hiện lũ lưu manh, lợi dụng, khai thác (mà các nhà chính trị vẫn gọi là bọn cơ hội). Hai thứ này cộng sinh.
Ai chẳng thuộc mấy câu Ca dao về con Trâu:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cày cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công ?
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Thật là một bài ca nhân ái. Người và vật đã biết dựa nhau mà sống, bởi hiểu rằng “trong lẽ phải, có người có ta”! Ông chủ mà thương đày tớ, sẻ chia quyền lợi với nhau như một kiểu “nhà nước phúc lợi” ở mấy nước văn minh ! Hơi văn rõ ra một giọng đàm phán, thuyết phục để có đồng thuận, chứ không lấy nghĩa vụ ra mà áp đặt.
Nhưng sự đời đâu chỉ có thế.
Đây, một bài ca dao khác về con Trâu:
Ngày thường mày ở với tao
Đến khi mày yếu thì tao tuyệt tình
Thịt mày nấu cháo nuôi binh
Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa
Sừng mày tao tiện con cờ
Cán dao, cán mác, lược thưa, lược dày…(2)
Một phác họa sao mà sâu cay. Khi sống đã cống hiến hết mình cho chủ. Yếu sức rồi bị giết đã đành, nhưng từng mảnh xác vẫn phải được mài giũa để trang sức cho chủ. “Nuôi binh, dao, mác…” là phục vụ chiến tranh. “Chùa, tụng kinh…” là vẻ thánh thiện tôn giáo. “Trống” chiêng lễ hội, “lược thưa lược dày…” là phục vụ văn hóa và đời sống. Ôi, vắt kiệt nhau đến thế là cùng. Tôi cứ ngậm miệng mà cười : Sao kiếp Trâu lại có thể nhiều vinh quang đến thế? Vậy mà khi chụp ảnh Trâu nghệ thuật thì người ta cứ bỏ cái Ách ra, để cho Trâu “toét miệng” ra cười, quên cả cái Ách như một “sắc phục” không thể thiếu của loài trâu.
Nghĩ đến con Trâu, có lúc thì thương, thì bùi ngùi, có khi thì ơn, thì phục, có khi lại giận, lại trách, lại ghét trâu điên, ghét thói trâu buộc ghét trâu ăn, lại tàn nhẫn bảo ngu thì đáng đời, gảy đàn vào tai cũng phí …
Thế rồi lại khóc, lại cười với Trâu mà làm Câu đối Tết.
--------------------------------------------------------------------------------
(1) Lệnh điều khiển trâu (vùng trung du Bắc bộ) : vặt = sang phải, dziệt = sang trái.
(2) Từ cổ gọi là lược thưa và lược bí. Có thể tham khảo thêm ở link của Hà Phương Hoài
bidong
Jan 1 2009, 11:18 AM
Chuyện Con Trâu Và Chính Sách
“Trước Sau Như Một”
(Tặng quý vị tuổi Sửu)
Lẽ ra bài viết này có tên là “Chuyện Những Người Đẻ Gần Nhà Thương Từ Dũ”, lấy ý từ việc các bà sau khi sanh đẻ xong, chẳng hiểu vì lý do gì, bà nào cũng khản cả tiếng. Tuy nhiên, một ông bạn rất “golden friend” của tôi đề nghị với tôi rằng chuyện các bà đi đẻ mà khan tiếng, khô cổ họng là chuyện...đâu còn có đó, nó như một thứ chân lý bất biến, có thể gác lại kỳ sau cũng được, chẳng có muộn màng gì. Chuyện “sát sườn” nhất của phe ta sống trên xứ Cờ Hoa này cần phải đề cập là chuyện mọi người đều phải cày bừa như trâu. Vì thế, nên viết một tí gì đó dính dáng đến con trâu mới là hợp với...”tình hình chung của phe ta hiện sống trên xứ Mỹ”. Tôi nghe bùi tai nên cũng ráng sức già “làm một quả” về con vật rất thân thương ấy đã ảnh hưởng đến đời sống của phe ta ra sao.
Trước hết, tôi phải khẳng định rằng bài viết này không phải là một bài “khảo kíu” về con trâu như những bài viết của các bậc “thông kim bác cổ”, mỗi năm bàn về một con vật trong 12 con giáp theo cái kiểu “năm Trâu nói về Trâu” như chúng ta đã từng đọc nhiều lần trong quá khứ. Tôi không đủ khả năng và sở học để làm chuyện đó. Mặt khác, chúng ta hiện đang sống trong những ngày tháng “lắm trò khỉ”, chẳng có một tí liên hệ gì đến “con Trâu”. Cho nên, tôi chỉ kể ở đây những chuyện vui, buồn có liên quan đến tuổi Sửu và con Trâu.
Quý vị có đồng ý với tôi rằng tất cả chúng ta, dù tuổi thật là Tý, Sửu, Dần, Mão...gì cũng vậy, nhưng khi sang xứ Mỹ này sinh sống thì đều mang chung một tuổi : Đó là tuổi Sửu. Tuổi Sửu là tuổi con trâu. Tại sao tôi dám quả quyết ai cũng mang tuổi con trâu ? Lý do là mọi người đều phải làm việc quần quật, đầu tắt mặt tối mới đủ trả tiền Bills (dĩ nhiên ngoại trừ một thiểu số vì đau ốm tàn tật hưởng SSI hay quý vị không thích đi mần mà chỉ thích hưởng ”oen phe”). Trong đời sống hàng ngày của chúng ta trên xứ sở này, cái thứ bills ấy nó tấn công ta theo lối đánh biển người, xung phong ồ ạt chứ không theo lối du kích chiến, đánh lén rồi bỏ chạy. Vì thế, trong một gia đình, chồng đi làm, vợ cũng phải đi làm mới mong trang trải nổi. Do đó, đi đến đâu tôi cũng nghe bà con đồng hương ta than cùng một giọng điệu: Cày Như Trâu.
Người ta thường nói “ngu như bò” -vì con bò có “sách” mà nó không biết (chịu) đọc- Không ai nói “cày như bò” mà lại nói “cày như trâu”. Có lẽ vì trâu khỏe hơn, làm việc dai sức và có hiệu quả hơn. Cái khác biệt căn bản giữa trâu và bò là ngoài sắc da của trâu (màu đen) và bò (màu vàng) ra, ở con trâu không có giải yếm lòng thòng nơi cổ như bò. Đối với các con em chúng ta sinh ra trên xứ Mỹ này có một thiệt thòi là chúng chẳng mấy khi được trông thấy tận mắt con trâu. Ở quê nhà, trâu là một con vật rất gần gũi với chúng ta. Ngay từ lớp Đồng Ấu, chúng ta đã thuộc lòng bài “Ai bảo chăn trâu là khổ. Không, chăn trâu sướng lắm chứ. Ngồi bên mình trâu...” với hình ảnh một cậu bé ngồi trên mình trâu thổi sáo, chung quanh là đồng ruộng với trời, mây, nước bao la. Lớn lên một chút, chúng ta say mê chuyện Phong Thần diễn nghĩa, trong đó chàng Tôn Tẩn cưỡi trâu xung trận, hóa nhiều phép lạ đánh lũ tà ma. Hình như, bóng dáng con trâu đã đi vào văn chương, nhất là văn chương bình dân, nhiều hơn con bò hay một vài con vật gia cầm khác. Ngoài ra, những câu tục ngữ, ví von, nhắc nhở, được loan truyền trong dân gian đều có hình ảnh con trâu như “Trâu buộc ghét trâu ăn”; “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”; “Lạc nhà nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu” vv...và vv...
Có một câu chuyện tiếu lâm mang tựa đề “Ông Quan Thanh Liêm” dính dáng đến con trâu như sau :
“Một ông quan Huyện nọ, suốt thời gian tại chức nổi tiếng là thanh liêm và đức độ. Ông không hề tơ hào đồng xu cắc bạc nào của dân chúng. Ông về hưu sống thanh bạch trong sự cảm mến cũng như luyến tiếc của mọi người. Một hôm, đến ngày giổ thân phụ ông, ông ngạc nhiên thấy bà vợ đi chợ mua nào heo, gà và nhiều món đắt tiền khác để làm giỗ rất linh đình, vượt quá sự tưởng tượng của ông. Ông hỏi vợ :
- Nè bà, tôi hỏi thật bà điều này. Bà lấy tiền đâu ra mà làm giỗ linh đình thế ?
Bà vợ trả lời :
- Chẳng dấu gì ông, thời ông còn tại chức, có người đến hỏi ông tuổi gì. Tôi thực tình nói ông tuổi Tý. Tôi tưởng họ hỏi cho biết hoặc để coi tử vi, bói toán gì đó cho ông đó thôi. Ai ngờ đâu một tuần sau họ đem đến biếu một con chuột làm toàn bằng vàng y. Tôi biết tính ông nên không dám nói cho ông hay. Bây giờ, đến ngày giỗ mà nhà không còn tiền, tôi đành phải xẻo bớt một mẩu nhỏ con chuột bán đi mới có tiền mua heo, gà... làm giỗ.
Ông quan nghe bà vợ nói xong, vỗ đùi đánh đét một cái rồi nói :
- Trời đất, tiếc nhỉ. Sao hồi đó bà không nói tôi tuổi Sửu !”
Tôi hoàn toàn mù tịt về tử vi nên không hiểu tại sao tuổi Sửu bao giờ cũng tốt đối với các bà, các cô. Đó là lý do cô nào tuổi Dần cũng thường nói mình tuổi Sửu. Hai tuổi này kề nhau, cách nhau chỉ một năm nên yếu tố thời gian hầu như không làm thay đổi gì mấy trên khuôn mặt của các cô, các bà thì tội gì không nói mình có một tí “Trâu’ vào cho đỡ phải mang tiếng là...dữ như Cọp cái (?).Mầy ông thầy tử vi, tướng số đều nói rằng đàn bà con gái tuổi Dần thường thường có một cuộc sống lứa đôi không được xuôi chèo mát mái, hạnh phúc hay đổ vỡ. Con trai đi hỏi vợ mà nghe nàng dâu tương lai tuổi Dần cũng rất e ngại, không dám hùng dũng tiến tới trừ trường hợp bị thần ái tình đánh...trúng tim. Nói thế không có nghĩa là các cô tuổi Dần đều phòng không chiếc bóng đành chịu cảnh lạnh lẽo bóng trăng soi cả đâu. Đó là chuyện các cô từ tuổi Dần đổi sang tuổi Sửu.
Sau đây là chuyện vui liên quan đến con Trâu trong binh chủng TQLC của tôi ngày trước. Lính TQLC thường được dân chúng gọi là lính Trâu Điên. Thật ra, Tiểu Đoàn Trâu Điên là Tiểu Đoàn 2/TQLC. Đơn vị này hồi năm 1965 đã đánh tan một Trung Đoàn VC ở Bình Định và cái danh xưng Trâu Điên là do chính Việt Cộng gán cho vì chúng thấy lính TQLC đánh giặc chẳng khác gì con trâu điên. Mặc nhiên, hai chữ Trâu Điên đã tượng trưng cho lính TQLC.
Tôi còn nhớ, khoảng mùa hè năm 1969 Tiểu Đoàn Trâu Điên hành quân ở Chương Thiện được về hậu cứ nghỉ dưỡng quân. Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Trậu Điên lúc bấy giờ là Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc (biệt danh là Robert Lửa, cựu SVSQVB/K.16/ĐL). Anh từ hậu cứ ở Thủ Đức về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn họp Tham Mưu. Sau bưổi họp, anh Phúc tạt qua phòng Tâm Lý Chiến thăm tôi và đưa cho tôi một tấm ảnh (loại ảnh ghép) chụp một con trâu đang gặm cỏ trên một cánh đồng (cánh đồng cỏ trong ảnh là bộ phận kín của phụ nữ). Tấm ảnh trông rất tức cười. Quan tư Robert lửa Nguyễn Xuân Phúc nói với tôi :
- Trong số báo Sóng Thần sắp tới (Binh chủng TQLC chúng tôi có ấn hành đặc san Sóng Thần, hai tháng ra một số) tôi đề nghị Phòng TLC đưa ra một câu hỏi, tôi sẽ trao giải thưởng 5,000 đồng cho Cọp biển nào trả lời đúng câu hỏi và nếu người đáp đúng thuộc Tiểu Đoàn Trâu điên thì sẽ có thêm 7 ngày pháp đặc biệt nữa.
Tôi hỏi anh Phúc :
- Câu hỏi như thế nào ?
Anh Phúc trả lời, tay chỉ vào cái huy hiệu vẽ con trâu điên bên cánh tay áo của anh :
- Tại sao cái huy hiệu vẽ con trâu điên của Tiểu Đoàn 2/TQLC hàm răng trâu nhe ra và cái mũi của nó thì hếch lên ?
Tôi nói :
- Câu hỏi này có vẻ hấp dẫn độc giả đấy.
Anh Phúc cười ha hả :
- Đó là lý do tôi tặng cho phòng TLC/Sư Đoàn và báo Sóng Thần tấm ảnh con trâu đang gặm cỏ này.
Rồi anh nói tiếp :
- Anh nên nhớ rằng con trâu nhe răng ra và mũi nó hếch lên, không phải là nó đang cười đâu. Nó đang ngửi...đấy. Anh cứ nhìn con trâu đực theo ngửi...đít con trâu cái thì sẽ trả lời đúng ngay boong câu hỏi thôi.
Chưa bao giờ tôi được một trận cười khoái trá đến như thế. Câu hỏi được đăng lên báo theo lời yêu cầu của quan tư Nguyễn Xuân Phúc. Những ngày sau đó, đi đến bất cứ đơn vị nào trong Binh Chủng tôi cũng đều nghe các chàng lính TQLC nhà ta bàn tán câu hỏi trên. Tôi nhớ hình như chẳng có ai đáp đúng câu hỏi.
Nhắc đến con trâu mà không nói qua về những ngày tháng sống trong ngục tù Cộng Sản ở ngoài Bắc như Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Vĩnh Phú vv...thì quả thực là một thiếu sót lớn lao. Bất cứ ai đã từng trải qua thời gian đói khổ cùng cực tận đáy sâu của kiếp người đó đều không thể nào quên. Tôi sẽ không đề cập ở đây những vị trước kia giữ những chức vụ lớn lao, lên xe xuống ngựa, đi đâu cũng có tiền hô hậu ủng, khi vào tù lại phải đi chăn trâu. Chuyện đó quá bình thường, bởi vì ở trong các trại tù mà Cộng Sản thiết lập trên miền Bắc để hành hạ thành phần Quân, Cán, Chính của miền Nam, phe ta đã phải làm bất cứ công việc khổ sai nào. Trong một chừng mực nào đó, được giao cho nhiệm vụ đi chăn trâu có thể nói là “sướng” hơn, đỡ vất vả hơn các công việc khác như cày ruộng, trồng sắn (khoai mì), lên rừng lấy gỗ, phát rẫy trồng bắp vv...Tuy nhiên, vấn đề kinh hãi nhất mà người tù phải chịu đựng triền miên năm này sang năm khác là : Đói.
Tôi vẫn tin rằng, không có bất cứ một sinh vật nào trên trái đất này gọi là con người mà có một cuộc sống với sự dinh dưỡng tệ hại và vô cùng thê thảm như những người tù cải phe ta đã trải qua trong thời gian đó. Khẩu phần ăn hàng ngày của người tù chỉ là vài củ khoai mì, khoai lang, chén bắp hoặc vài chục miếng sắn sát lát (khoai mì xắt lát phơi khô) với nước muối. Độ 5, 6 tháng gì đó thì trại cho làm thịt một con trâu. Phe ta nghe nói có làm trâu thì biết rằng hôm ấy sẽ được một chén thịt trâu, có thêm một chút thịt bồi dưỡng vào cái dạ dày muôn năm lép kẹp của mình. Thật ra, trong xã hội Cộng Sản, con trâu là sức kéo, không ai khơi khơi giết trâu xẻ thịt. Con nào bị làm thịt là con trâu đã già, hết sử dụng được người ta mới đem bán. Con trâu xấu số được dẫn về trại, thành phần nhân sự phe ta phục vụ nhà bếp có nhiệm vụ dẫn trâu ra suối xẻ thịt.
Tôi còn nhớ anh bạn tôi tên Trạch (bạn bè gọi anh là Jimmy ca Trạch) kể lại, anh được tăng cường cho toán nhà bếp đi làm thịt trâu. Anh lợi dụng lúc xẻ thịt, cắt lấy cái mũi và bộ phận sinh dục con trâu (trâu cái) gói trong lá chuối rồi đem dấu ở một hốc đá. Sáng hôm sau anh Trạch cùng với người bạn vác dao lên rừng đốn bương, một loại tre rất lớn và cao chỉ mọc ở vùng thượng du Bắc Việt. (Cũng cần nói rõ trong khoảng thời gian này, tù cải tạo phe ta còn bị quản chế bởi bộ đội Việt Cộng. Các trại giam tù cải tạo được thiết lập trong rừng sâu, bốn bên là núi cao, khó lòng trốn thoát. Có một vài người trốn nhưng cuối cùng vẫn bị bắt lại chỉ vài ngày sau đó. Bộ đội canh giữ tù cải tạo cho tù phe ta tự do vác dao lên rừng đốn bương về nạp cho trại, miễn là đủ chỉ tiêu quy định. Họ không cần đi theo canh giữ kỹ lưỡng như thời gian sau này lúc chuyển sang Bộ Nội Vụ quản lý, đám công an áo vàng canh giữ rất chặt chẽ). Anh Trạch đi đến chỗ anh đã dấu thịt, đem theo hai món ấy lên rừng thanh toán. Người bạn đi cùng năn nỉ anh Trạch xin cái mũi trâu.Anh Trạch thấy cái mũi trâu thịt có vẻ ít hơn cái bộ phận sinh dục kia nên không ngần ngại cho bạn ngay. Đến địa điểm đốn bương, công việc trước tiên là anh Trạch xắt cái bộ phận ấy ra thành từng lát nhỏ, bỏ vào lon gô rồi nổi lửa nấu. Anh để cái lon gô ấy trên đống lửa rồi đi tìm bương đốn. Độ hơn nửa giờ sau, anh trở lại thăm chừng lon gô. Anh mở nắp ra, lon gô đã đã cạn hết nước. Thịt đã chín. Anh lấy ra một miếng bỏ vào mồm nhai. Anh kể lại :
- Trời ơi, nó dai lắm các cụ a. Dai hơn cao su nữa đấy. Tôi có cảm tưởng là tôi nhai nó, nó nhai lại tôi. Khổ một nỗi là răng cỏ tôi cũng trệu trạo hết rồi.
Tôi hỏi anh :
- Thế rồi anh làm sao ?
- Thì tôi lại xắt nhỏ ra nữa và tiếp tục đổ nước vào nấu tiếp. Ấy thế mà cho đến lúc đốn bương xong, trước khi kéo về trại, tôi lại nhai thử, cũng chẳng ăn thua gì. Tôi tiếc công tiếc của nên nuốt trọng một tí cho cái dạ dày “có chuyện phải làm” chứ cũng đành phải đổ đi thôi.
Rồi anh kể tiếp :
- Các cụ biết không, còn cái mũi trâu tôi cho ông bạn tôi thì buổi tối hôm ấy về trại, tôi hỏi anh ta thanh toán ra sao, anh ta cười hô hố bảo rằng cái mũi trâu, thịt rất mềm chứ không dai như cái “của nợ” kia !
Tôi nhận thấy rằng thời gian ở tù dưới sự quản chế của đám bộ đội, tuy cũng đói đấy nhưng phe ta còn có thể “cải thiện” được chút đỉnh như hái mớ rau tàu bay, rau má, bắt chuột, rắn, ếch nhái, đào khoai mì mọc hoang ở trong rừng để cho cái bao tử khỏi kêu gào chứ khi chuyển sang bọn công an quản lý thì vô phương cải thiện. Trại cho gì ăn nấy, phe ta đi một bước cũng có công an vác súng theo canh giữ. Do đó, cái đói của người tù cải tạo trong thời gian này phải nói là vô cùng thê thảm. Trại giam do công an quản lý mà tôi “cư ngụ” lúc chuyển từ trại ở Hoàng Liên Sơn sang năm 1977 là trại Vĩnh Quang, Vĩnh Phú. Ở đây, cứ ba tháng một lần, mỗi người tù được viết thư về gia đình yêu cầu thân nhân có thể gửi quà (3 kí) tiếp tế theo đường Bưu Điện. Có lẽ Việt Cộng thấy số tử vong của tù ngày càng gia tăng do thiếu dinh dưỡng và thuốc men nên mới có quy định cho tù cải tạo nhận quà tiếp tế của gia đình như đã nói trên.
Đói khổ thì đã đành rồi nhưng còn đau khổ hơn nữa là thỉnh thoảng phe ta phải “lên lớp” để học tập chính sách của Đảng và nhà nước. Đám cán ngố lúc nào cũng một giọng điệu nhưng câu nói trên đầu môi chót lưỡi của bất cứ tên nào khi nói với đám tù cải tạo vẫn luôn luôn là câu : “Chính sách của Đảng và Nhà Nước đối với các anh luôn luôn Trước Sau Như Một.”
Mỗi năm bọn tôi chỉ được ăn thịt trâu hay heo khoảng hai lần vào dịp lễ Quốc Khánh và Tết Nguyên Đán. Khi nào được ăn trâu hay heo thì Việt Cộng gọi là “ăn tươi”. Cũng vẫn những con trâu ốm yếu, chỉ còn da bọc xương được lùa vào nhà bếp. Tôi quan sát thấy những con trâu ấy rất tinh khôn. Chúng biết số phận chúng nên khi vừa dẫn đến cửa nhà bếp thì, có con trì lại không chịu bước, có con thì chảy nước mắt...
Giết trâu, xẻ thịt xong rồi, bộ da của trâu mấy ngày sau đó sẽ trở thành một thứ “thực phẩm cao cấp” dùng để bồi dưỡng cho tù cải tạo phe ta. Các bộ da trâu ấy được thui cho hết lông rồi cho ngâm trong hồ nước một ngày đêm, sau đó xắt ra từng miếng cỡ bằng đốt ngón tay. Tất cả cho vào chảo, bỏ thêm muối nấu thành một thứ thực phẩm mà tôi không biết nên gọi tên là gì cho chính xác. Số lượng da trâu nói trên không đủ phát cho toàn trại nên chỉ dùng để bồi dưỡng cho đội nào lao động xuất sắc, vượt mức chỉ tiêu.
Một hôm, đi lao động về, anh trực buồng đội tôi cho biết hôm nay đội được bồi dưỡng da trâu. Anh đi xuống nhà bếp lãnh da trâu về chia cho anh em trong đội. Mỗi người được khoảng 8 đến 10 miếng da trâu cỡ ngón tay út và một ít nước màu vàng vàng quánh lại sền sệt như hồ dán đựng trong cái chén đá. Có thêm 10 miếng da trâu, tôi biết rằng cái bụng của tôi hôm ấy sẽ “vững vàng” hơn thường lệ. Tuy thế, không bao giờ tôi có thể quên được cái cảm giác lạ lùng kỳ cục, vừa lợm giọng vừa gây gây khi bỏ vào miệng nhai miếng da trâu đầu tiên trong đời. Tôi nhớ rất rõ, nó có cái mùi vị của “A Dao”, chất mà người ta trộn chung với vôi để quét tường. Dĩ nhiên, không cách nào tôi nhai nổi miếng da trâu ấy vì nó dai quá. Nhai nó y hệt như ta nhai cao su vậy. Tôi không có chọn lựa nào khác hơn là đành phải nuốt trọng thôi và cái hình dáng của nó lúc đi vào bao tử thế nào thì khi được thải ra ngoài, nó vẫn giữ nguyên như thế. Chính kinh nghiệm này đã dẫn đến việc đặt tên cho món ăn cực kỳ kinh hãi nói trên.
Một lần, bọn tôi lại cũng được bồi dưỡng da trâu. Chúng tôi, bốn thằng ngồi chung một bàn. Trước mặt là bốn chén da trâu. Ông bạn tên Vượng đưa ra ý kiến :
- Tôi đề nghị ai đặt cho món da trâu này một cái tên hay nhất, mang nhiều ý nghĩa nhất thì lần lãnh quà tới của tôi, tôi sẽ đãi một chầu.
Một thằng nói :
- Tôi đặt tên món này là “quai guốc”
- Không hợp lý lắm. Tôi đặt cho nó cái tên “cao su” là đúng nhất vì dai quá, không nhai nổi
Ý kiến của một thằng khác :
- Tôi nghĩ nên đặt tên cho nó là “A Dao” vì nó có khác gì A dao đâu.
Lúc bấy giờ, ông bạn Vượng của tôi mới thủng thỉnh nói :
- Tôi có ý kiến thế này. Như các bạn đã biết, chúng ta thường nghe nói rằng chính sách của Đảng và nhà nước đối với tù cải tạo chúng mình là “Trước Sau Như Một”, nghĩa là trước tàn ác, dã man và lừa gạt thế nào thì sau cũng tàn ác, dã man và lừa gạt như vậy. Tôi thấy cái món da trâu này cũng y hệt như rứa. Nghĩa là các bạn không nhai nổi nó mà chỉ có nuốt trọng vào bao tử thôi. Hôm sau các bạn đi đồng, món da trâu vẫn giữ nguyên hình dạng như lúc các bạn nuốt vào.Vì vậy, tôi đề nghị đặt tên cho món da trâu được trại “ưu ái” bồi dưỡng cho chúng ta là món ăn “Trước Sau Như Một”.
Gọi món ăn da trâu là món “Trước Sau Như Một” như đã nói ở trên, tôi tin rằng không ai có thể đặt cho món ăn ấy cái tên nào vừa hay và đầy đủ ý nghĩa hơn lại vừa có tính cách mỉa mai, phỉ báng cái chế độ Cộng Sản đã đối xử tàn ác, dã man các Quân, Cán, Chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bị chúng lừa gạt vào tù lao động khổ sai gần hai thập niên sau ngày 30-04-1975.
Huỳnh Văn Phú
HoaHamTieu
Jan 2 2009, 12:26 AM
Cám ơn Bidong. Tác giả Hùynh văn Phú nói phét chuyện con trâu nghe hay quá

Xin phép cho tui nói phét vài câu
QUOTE
món da trâu vẫn giữ nguyên hình dạng như lúc các bạn nuốt vào.Vì vậy, tôi đề nghị đặt tên cho món da trâu được trại “ưu ái” bồi dưỡng cho chúng ta là món ăn “Trước Sau Như Một”.
Tui đề nghị trong tương lai nếu có chàng Dê nào mún tuy?nh tò, có thể ưu ái nói với nàng:
- Tấm lòng của anh đối với em như "Da Trâu", Trước Sau Như Một không bao giờ thay đổi !
(Hùi nào giờ tui tưởng câu "Trước sau như một" chỉ là để tả mí người có thân hình bằng phẳng thui chứ

)
DoxuanNguyen
Feb 13 2009, 08:47 PM
Năm Sửu Nói chuyện Trâu
(Kỷ Sửu từ 26-01-2009 đến 13-02-2010)
(Trich dẫn trong tác phẩm Tìm Hiểu Cuộc Đời của Nguyễn-Phú-Thứ)
Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ
Sau khi năm Mậu Tý chấm dứt, thì đến năm Kỷ Sửu được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm chủ nhựt , 25-01-2009 để cầm tinh đến 24 giờ đêm thứ bảy 13-02-2010. Năm Kỷ Sửu này cũng thuộc hành Hỏa và mạng Tích Lịch Hỏa tức Lửa Sấm Sét, năm này thuộc Âm, có can Kỷ thuộc mạng Thổ và có chi Sửu thuộc mạng Thổ. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, thì năm này "Can tương hòa Chi" Bởi vì, Can = Thổ và Chi = Thổ. Trường hợp này, giống như các năm Kỷ Mùi (1919-1979-2039-2099) có Can Chi tương hòa lại có cùng mạng Thổ giống như năm Kỷ Sửu này hoặc là các năm Nhâm Tý (1912-1972-2032-2092) có Can Chi tương hòa đều có cùng mạng Thủy. Vì vậy, người hay năm Kỷ Sửu này xem như tổng quát rất thuận lợi, bởi vì Trời Đất được giao hòa nhau, không khác trong nhà có đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc vậy, cho nên có thể nói là năm được thăng tiến từ vật chất đến tinh thần được vững chắc trong sự nghiệp tương lai. Được biết năm Sửu vừa qua là năm Đinh Sửu thuộc hành Thủy, nhằm ngày thứ sáu, 07-02-1997 đến 27-01-1998.
Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm thứ 61 của đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2009 = 4646, rồi đem chia cho 60 thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp thứ 77 và số dư 26 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp thứ78 bắt đầu từ năm 1984 cho đến năm 2043. Do vậy, năm Kỷ Sửu 2009 này là năm thứ 26 của Vận Niên Lục Giáp 78.
Năm Sửu tức Trâu cũng là Ngưu, cho nên trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xả hội hằng ngày, từ đó mới có những từ ngữ liên quan, xin trích dẫn như sau :
Sửu là con Trâu đứng hạng thứ 2 của 12 con vật trong Thập Nhị Địa Chi, vì lớn con kình càng, lại còn mang cặp sừng trên đầu nên không thể sánh bằng con Chuột lanh lợi nhỏ con đến trước.
Giờ Sửu = là giờ từ 01 giờ đến đúng 03 giờ sáng hôm sau.
Tháng Sửu = là tháng Chạp của năm âm lịch.
Hoàng Ngưu = Hỏa Ngưu = con Bò.
Thủy Ngưu = Con Trâu.
Ngưu Dương = Trâu Dê.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy cây cỏ mang tên Ngưu, xin trích dẫn như sau :
Ngưu hoàng = Vật vàng vàng mà cứng ở trong cái mật con Bò, người ta dùng để làm thuốc trị phong đàm.
Hắc Sửu = là loại cây bìm bìm lông, hột nó đen, dùng để làm thuốc trị hạ nhiệt.
Ngưu bàng tử = Hột cây muồng hoè để làm thuốc trị ghẻ.
Ngưu tất = Rễ cỏ xước dùng để làm thuốc trị chứng bịnh đau gân cốt.
Khiên Ngưu = Loại dây hắc sửu, dùng để làm thuốc trị hạ nhiệt.v.v.
Đặc biệt, có những Ca Dao, Tục Ngữ và Thành Ngữ, xin trích dẫn như sau :
Trâu Bò ở với nhau, quen chuồng quen chỏi ( cây chắn ngang ở cửa chuồng)
Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều
Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia, không vợ đời nào có con.
Người ta con trước con sau,
Thân anh không vợ như cau không buồng.
Cau không buồng như tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm anh ơi!
Người ta đi đón về đôi,
Thân anh đi lẻ về loi một mình.
Mất Trâu thì lại mua Trâu,
Những quân cướp nó có giàu hơn ai.
Trâu Bò được ngày phá đổ,
Con cháu được ngày giổ ông.
Nhịn thuốc mua Trâu,
Nhịn trầu mua ruộng.
Muốn giàu, nuôi Trâu cái,
Muôn lụn bại, nuôi Bồ Câu... (Ca Dao).
Trâu chậm uống nước đục.
Trâu ngơ ăn cỏ héo.
Trâu lành không ai mà cả (trả giá để mua).
Trâu ngả lắm kẻ cầm dao.
Trâu đạp cũng chết, Voi đạp cũng chết.
Trâu hay ác thì Trâu vạt sừng.
Trâu bịnh cũng bằng Bò khoẻ.
Trâu toi thì Bò ngả.
Trâu lấm vẩy quàng.
Trâu trắng đi đâu mất mùa đến đấy.
Trai mười bảy, bẻ gãy sừng Trâu.
Thân Trâu lo, thân Bò liệu.
Có ăn có chọi mới gọi là Trâu.
Thở hơn Trâu hạ địa (Trâu bịnh lâu ngày).
Mua Trâu vẽ bóng.
Máu đâu, Trâu đó.
Không có Trâu, bắt Bò thế, (đi đẩm).
Thà chết vũng chân Trâu, hơn chết khi dĩa đèn.
Tham bong bóng bỏ bọng Trâu.
Thật thà lái Trâu.
Thở như Trâu Bò mới vực (tập kéo xe hay cày bừa)
Trâu Bò húc nhau Ruồi Muổi chết.
Trâu cày, Ngựa cởi.
Trâu chết chẳng khỏi rơm.
Trâu chết mặc Trâu, Bò chết mặc Bò.
Trâu cột ghét Trâu ăn.
Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy.
Trâu già đâu nệ dao phay.
Trâu nghiến hàm, Bò bạch thiệt (lưỡi trắng).
Trâu tìm cột, cột chẳng tìm Trâu.
Dắt Trâu chui qua ống.
Ngưu tầm Ngưu, Mã tầm Mã.
Thọ hóa thanh Ngưu.
(Cây lâu năm hoá thành Trâu xanh)... v.v. (Thành Ngữ).
Miếng trầu là đầu cậu chuyện,
Con Trâu là đầu cơ nghiệp... v.v (Tục Ngữ).
Xuyên qua Ca Dao, Tục Ngữ và Thành Ngữ có liên quan đến Trâu đã dẫn ở trên kia, chúng ta không thể ngừng ở đây, mà còn thấy rất nhiều sách viết về những huyền thoại Trâu, xin trích dẫn để quý bà con đồng hương nhàn lãm như sau :
Trâu là gia súc, loài nhai lại, trên đầu có cặp sừng hình vòng cung, nó chính là người bạn chân thành của những nhà nông từ xa xưa, đã từng đổ mồ hôi, sót con mắt trên luống cày hay bừa trên thửa ruộng, để cho có những hạt lúa, nương khoai nuôi dưỡng gia đình tộc Việt chúng ta. Ngày nay, nhờ cơ giới hóa có máy cày thay Trâu, nên Trâu bớt cơ cực như ngày xưa. Đối với thời xưa, dân tộc mình xem Trâu là một trong ba việc hàng đầu căn bản cho gia đình và xả hội cần phải sắm, cho nên trong dân gian thường nhắc nhở như sau :
Tậu Trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy lọ là khó thay!
Ngoài ra, đất nước chúng ta là nông nghiệp, cho nên trong dân gian cũng thường nhắc đến Chồng cày, Vợ cấy, con Trâu đi bừa trên đồng ruộng. Đó chính là hình ảnh thân quen của những nông gia, có đời sống rất chất phát, cần cù lại êm đềm và hạnh phúc trong sự phân công giữa người và Trâu, xin trích dẫn như sau đây:
Rủ nhau đi cấy, đi cày,
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu,
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con Trâu đi bừa.
hoặc là :
Trâu ơi, ta bảo Trâu cày,
Trâu ra ngoài ruộng, Trâu cày với ta,
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, Trâu đấy ai mà quản công,
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng Trâu ăn.
Khi viết về cái Cày và con Trâu, tôi lại nhớ trong ngạn ngữ (Proverbe) Pháp cũng có câu như sau : Mettre la charrue devant les bœufs (Đặt cái cày trước con Trâu). Ý nói, bất cứ việc gì chúng ta đừng bao giờ làm việc trái đời, ví như đặt cày cái trước con Trâu, thì không thể thực hiện để thành công được.
Trong dân gian mình có những huyền thoại tương truyền về Trâu, xin trích dẫn như sau:
Tại sao Trâu ăn cỏ !
Thuở xưa, Ngọc Hoàng sai một vị Bồ Tát xuống trần gian mang theo 1 bao hạt giống lúa và 1 bao cỏ để phổ độ chúng sanh. Trước khi xuống trần, Ngọc Hoàng đã tỉ mỉ căn dặn, đến trần gian phải gieo rắc bao hạt giống lúa trước để dân có dư giả mà ăn, còn bao cỏ thì gieo sau để nuôi thú vật. Nhưng khi vị Bồ Tát đến trần gian, thấy phong cảnh khác lạ, nên mãi mê xem mà quên lời căn dặn của Ngọc Hoàng, để rồi gieo bao cỏ trước và bao hạt giống lúa sau. Từ đó, cỏ không cần trồng cũng mọc tràn lan khắp mọi nơi, các thú vật ăn không bao giờ hết vì quá dư thừa và không làm sao diệt cỏ hết được. Còn lúa phải gieo trồng rất cực khổ và khó khăn mới có ăn, bởi vì bị cỏ mọc lấn áp làm lúa phát triển chậm hơn cỏ. Bởi lỗi ấy của vị Bố Tát, làm cho người trần gian trồng lúa rất khó nhọc mới có ăn và cỏ thì mọc tự nhiên quá nhiều, cho nên Ngọc Hoàng mới đày vị Bồ Tát này xuống trần gian hóa thành con Trâu để giúp người trần gian cày bừa trồng lúa và ăn cỏ, chừng nào hết cỏ sẽ được tha thứ cùng phục hồi địa vị cũ, nhưng ăn hoài vẫn không bao giờ hết cỏ được, nên Trâu chưa thoát kiếp. Do lý do trên, nên Trâu thường đi cày bừa giúp nông gia và ăn cỏ.
Trong dân gian xem Trâu là vị Bồ Tát, có tánh tình hiền, nên ít ăn thịt hơn Bò là thế.
Tại sao Trâu chỉ có một hàm Răng !
Cũng tương truyền thuở xưa rằng : Các loài thú vật bốn cẳng như : Chó, Mèo, Trâu, Cọp ...v.v thì có được hai hàm răng, duy chỉ có con Ngựa dù cũng có 4 cẳng, nhưng chỉ có một hàm răng. Bửa nọ, Ngựa được mời đi dự tiệc, Ngựa nghĩ rằng mình chỉ có một hàm răng ăn rất chậm, nên đi hỏi Chó, Mèo, Cọp ... để mượn hàm răng, thì Chó, Mèo, Cọp ... cũng được mời ăn tiệc, chỉ còn Trâu cũng được mời ăn tiệc, nhưng không muốn đi vì lười, phần làm việc cực nhọc nên thân thể ê ẩm, nên không đi dự tiệc, cho nên Trâu được Ngựa đến năn nỉ và than thân trách phận vì số không có hai hàm răng, rồi hứa chỉ mượn tạm hàm răng của Trâu đi ăn tiệc xong sẽ trả lại liền, còn đền ơn đáp nghĩa cho Trâu. Trâu nghe bùi tai, động lòng nên gỡ cho Ngựa mượn. Sau khi dự tiệc xong, Ngựa thấy có hai hàm răng ăn rất mau và lại ngon miệng, nên động lòng tham, không giữ gìn lời hứa, bèn trốn lánh Trâu để giựt luôn hàm răng. Một hôm Trâu gặp được Ngựa đòi lại hàm răng và mắng chửi Ngựa thậm tệ, Ngựa phóng nước đại chạy trốn mất dạng, Trâu rượt theo một hồi không bắt kịp Ngựa, vì thân thể nặng nề nên rất chậm chạp. Từ đó, Trâu dành nuốt hận cho đến ngày nay, chỉ có một hàm răng, trong khi Ngựa lại có hai hàm răng.
Đó là, nguyên do Trâu ăn cỏ, chỉ có một hàm răng và cày bừa giúp nhà nông trồng lúa. Đây là một trong những tương truyền trong dân gian để răng đời đáng quý !
Tại saoTrâu không biết nói tiếng người và có cái sẹo như nốt ruồi dưới cổ !
Thuở xa xưa, Trâu cùng nói được tiếng với người, nhờ vậy người dùng lời nói để sai khiến Trâu, cho nên bọn mục đồng (chăn Trâu) không thể dùng roi để đánh đập Trâu hay không cho Trâu ăn cỏ đầy đủ, vì sợ Trâu mét chủ. Nhờ vậy, người cùng vật quấn quít và thương mến nhau. Có một gia đình nông dân nọ, có nuôi một con Trâu và mướn một cậu bé để chăn Trâu, thời gian sau nó bỏ bê chăn Trâu, vì mê lo đánh đáo cùng bọn chăn Trâu khác, nhưng sợ Trâu đi ăn lúa, nên nó cột Trâu lại một chỗ không cho ăn uống, cho nên Trâu bị đói, bụng xếp ve, để qua mắt chủ, nó lấy mo cau áp vào bụng Trâu rồi trét bùn bên ngoài. Cứ thế, ngày ngày nó dẫn Trâu về chuồng, người chủ thấy bụng Trâu no tròn thì hài lòng và yên bụng tưởng rằng nó lo cho Trâu cẩn thận chu đáo, có ngờ đâu Trâu thì bị đói cả ngày, không như các ngày vừa qua, chỉ bỏ Trâu đói vài giờ, cho nên Trâu định mét chủ, nhưng Trâu bị nó khôn ngoan, lanh lợi dùng lời lấn áp Trâu, không cho Trâu có dịp nói với chủ. Sáng họm sau, người chủ vắt Trâu đi cày, Trâu đi không nổi vì đói, nên bị chủ quát : "Mau lên đồ lười". Trâu trả lời : "Không phải lười vì đói" Chủ nói :Ngày nào nó cũng cho mầy ăn một bụng no nê mà đói nỗi gì?. Trâu thố lộ : "Nó chỉ lo mê đánh đáo, rồi nói láo cho tôi ăn no, no gì mà no trong mo cau ngoài đất sét". Người chủ vội vàng kiểm chứng thấy sự thật, khi lột mo cau trét bùn dưới bụng Trâu và đánh cậu bé chăn Trâu một trận nên thân. Từ đó, ngày nào Trâu cũng được ăn no và tắm rửa chu đáo. Riêng cậu bé chăn Trâu, ba bốn ngày hôm sau chỗ bị đánh vẫn còn sưng, cậu bé ngồi khóc trên bờ ruộng, bỗng một ông lão hiện ra hỏi han nguyên do bị đánh, cậu bé trình bày sự thật và ông lão rút trong người ra một nén nhang, rồi đốt lên dí vào cổ con Trâu, làm cho Trâu đau điếng, kêu khan cả cổ, tiếng nói dần dần biến mất, sau cùng khi nào muốn nói, Trâu chỉ phát ra được tiếng "nghé...ọ". Riêng ở chổ bị thương, sau đó trở thành một cái sẹo như nốt ruồi. Từ đó, Trâu sanh ra đều không nói được tiếng người và đều mang cái nốt sẹo ở dưới cổ. Những huyền thoại về Trâu còn nhiều, nào là :
Trâu nhà, Trâu rừng, Ngưu Mân (Trâu ngủ), trong Tây Du Ký tác giả Ngô Thừa Ân nói về Ngưu Ma Vương đánh với Tề Thiên Đại Thánh cuối cùng nhờ có Thái Thượng Lão Quân mới thu phục được Ngưu Ma Vương dẹp bỏ được chướng ngại trên đường thầy Trần Huyền Trang tức Tam Tạng phụng chỉ vua Đường Thái Tôn sang nước Thiên Trúc để thỉnh kinh Phật về truyền bá trong dân gian. Ba bộ kinh của Phật Giáo là : Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng gọi chung là Tam Tạng. Trên đường đi xa xôi ngàn dặm, hành trình gian nan, nguy hiểm vì có nhiều yêu quái, nhờ có b học trò giỏi the phò như sau :
Ø thứ nhứt là Tôn Ngộ Không tức Tôn Hành Giả, cốt Khỉ tu hành lâu năm nên thành người, có 72 phép biến hóa thần thông, được biệt danh là Tề Thiên Đại Thánh.
Ø thứ nhì là Trư Bát Giới, cốt Heo tu hành lâu năm nên thành người, cũng có phép không vừa.
Ø thứ ba là Sa tăng, một con quỷ hung tợn được thầy Tam Tạng thuyết phục và thâu dụng làm đệ tử.
Mặc dù thầy Trần Huyền Trang có ba đệ tử tài năng phép luật cao cường, nhưng khi đến Hoả Diệm Sơn đành phải chùn bước, vì trở ngại núi quá cao lại có phun lửa rực trời, sức nóng mãnh liệt. Muốn vượt qua phải dập tắt ngọn lửa này, nhưng phải có cây quạt Ba Tiêu của Ngưu Ma Vương tức chồng của Bà La Sát nắm giữ. Được biết, Ngưu Ma Vương vốn là con Trâu đã tu luyện cả ngàn năm thành người, nên tài phép không thua gì Tề Thiên Đại Thánh. Thầy trò Đường Tăng Tam Tạng tìm đến mượn quạt Ba Tiêu, thì Ngưu Ma Vương không cho mượn, còn nặng lời sỉ vả, cho nên Tôn Hành Giả hiệp cùng Trư Bát Giới được Thổ Địa trợ giúp vây đánh Ngưu Ma Vương suốt ba ngày ba đêm để chiếm đoạt quạt Ba Tiêu, nhưng bất phân thắng bại. Sau cùng, nhờ Phật Tổ cho bốn Ông Kim Cang tấn công bốn hướng như sau :
* Ông Đại Lực Kim Cang hướng Đông.
* Ông Vĩnh Trụ Kim Cang hướng Tây.
* Ông Thắng Chi Kim Cang hướng Nam
* Ông Bát Pháp Kim Cang hướng Bắc.
Khi đó, Ngưu Ma Vương mới cùng đường chống đỡ, nên phải chạy trốn, nhảy lên cao núp trong mây, nhưng cũng không thoát khỏi được, vì có các sứ thần của thượng đế là Na Tra và Lý Thiên Vương chận đường vây bắt. Cuối cùng Ngưu Ma Vương mới chịu đầu hàng và quy y đầu Phật.
Nhân đây, tôi xin trích dẫn Ngài Huyền Trang như sau : Ngài Huyền Trang tức Hiuan-Trang (có người nói ngài họ Trần tên Huyền Trang), sanh năm 602 và chết năm 664, hưởng thọ 63 tuổi. Năm 13 tuổi ngài xuất gia học đạo. Năm 20 tuổi thọ giới cụ túc, lúc bấy giờ nước Tàu có loạn lạc, mãi đến năm 629, ngài được 27 tuổi, thuộc đời nhà Đường (618-907) niên hiệu Trinh Quáng năm thứ ba, Ngài mới sang Ấn Độ thỉnh kinh, phãi qua 100 quốc gia thuộc các nước nhỏ của xứ Ấn Độ, cho nên có tên Đường Tam Tạng. Việc đi này, rất nhiều cuộc nguy hiểm trên đường đi và nhờ phép Phật che chở, nên Ngài vượt qua các tai nạn và cuối cùng được các Vua Tây Vực tiếp rước và giúp đỡ tận tình để Ngài tu học các ngôi đại tự cho thành tài, cuối cùng thỉnh các tạng kinh sách từ Ấn Độ mang về, được Vua Thái Tông tiếp rước nồng hậu. Sau đó, Ngài dịch kinh luận được trên 1.500 quyển từ Phạn ngữ sang Hán ngữ, riêng bộ Duy Thức Luận là đặc sắc nhứt và được người đời tôn Ngài là Giáo Tổ dịch giả của Pháp Tướng Tông. Hơn nữa, Ngài còn soạn xong bộ Tây Du Ký dâng lên vua Thái Tông, được vua ngự phê cùng các bộ kinh khác của Ngài dịch và khi Ngài tịch được vua Cao Tông cử hành quốc táng, cùng xây tháp tôn thờ Ngài. Do đó, có thể nói Ngài là một đại sa môn người Trung Hoa đầu tiên dịch kinh từ tiếng Phạn sang tiếng bản xứ. Nếu kể từ sau khi Đức Phật diệt độ, cho đến Ngài đi thỉnh kinh từ Ấn Độ về năm 645 là 1.189 năm (bởi vì : 544 + 645 = 1.189 năm) và thời gian ngài đi thỉnh kinh là 16 năm (bởi vì : 645 - 629 = 16 năm). (Trích dẫn bài Năm Hợi Nói Chuyện Heo ở trước).
Ngoài ra còn có :
Tục đấu (chọi) Trâu: Tục này xưa kia thường được tổ chức ở một vài nơi như huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Yên hoặc ở Đình Bảng, Hà Đông hay ở Đồ Sơn, Kiến An, cho nên trong dân gian thường truyền tụng để nhớ ngày đấu Trâu như sau :
Dù ai bán đâu, buôn đâu,
Mùng mười tháng tám đấu Trâu thì về.
hoặc là :
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Mùng mười tháng tám nhờ về đấu Trâu.
Đặc biệt, khi nói đến mục đồng(chăn Trâu) ngày xưa, không phải người mục đồng nào cũng nghèo hèn, thất học hết, tối ngày chân lắm tay bùn cơ cực suốt một cuộc đời ở cận kề với Trâu, mà không thể trở thành danh nhân lừng lẩy. Bằng chứng là trong lịch sử đất nước chúng ta có hai danh nhân đã từng là mục đồng. Đó là:
Đinh Bộ Lĩnh thuở nhỏ là người mục đồng, quê ở Hoa Lư, huyện Gia Viễn, Tỉnh Ninh Bình. Sau khi đứng lên dẹp được loạn sứ quân lên ngôi trở thành vua Đinh Tiên Hoàng (năm 968) làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi (chết năm 979).
Trong Đại Nam Quốc Sử diễn ca, có đoạn nói về vua Đinh Tiên Hoàng như sau :
Có ông Bộ Lĩnh họ Đinh,
Con quan Thứ Sử ở thành Hoa Lư,
Khác thường từ thuở còn thơ,
Rủ đoàn mục tử mở cờ bông lau ...
Đào Duy Từ thuở nhỏ cũng là mục đồng, con của Đào Tá Hán làm nghề hát tuồng và Bà Kim Chi là người hiếu học, nên sau được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được phong chức Nha Úy Nội Tán, tước Lộc Khê Hầu, Quan Quản nội ngoại quân cơ, Tham lý quốc chánh và Cụ Đào Duy Từ là người đứng ra tổ chúc đắp xây lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc và lũy Định Bắc Trường Thành dọc theo sông Nhật Lệ tục gọi là Lũy Thầy Đồng Hới để ngăn chận hữu hiệu quân Chúa Trịnh.
Viết huyền thoại về Trâu còn dài dài, nếu kể thêm các lịch sử tương truyền bên Tàu hoặc đi vào văn chương sách vở thì không thể kể hết được, cho nên xin tạm ngưng ở đây, khi có dịp sẽ nối tiếp.
Trước khi tạm kết thúc bài này, tôi xin trích dẫn thời gian 10 năm những năm con Trâu vừa qua và sắp tới có Hành như thế nào? để cống hiến quý bà con đồng hương nhàn lãm hoặc xem mình có phải sanh đúng năm Sửu hay không như dưới đây :
Và nhân đây, xin trích dẫn các ngày Tết nguyên đán kể từ năm Tân Mão 2011 đến năm Quý Mão 2023 để cống hiến quý bà con đồng hương thưỡng lãm như sau:
- Tết Tân Mão, nhằm thứ năm, 03-02-2011 *
- Tết Nhâm Thìn, nhằm thư hai, 23-01-2012 **
- Tết Quý Tỵ, nhằm chủ nhựt, 10-02-2013 **
- Tết Giáp Ngọ, nhằm thứ sáu, 31-01-2014 *
- Tết Ất Mùi, nhằm thứ năm, 19-02-2015*
- Tết Bính Thân, nhằm thứ hai, 08-02-2016 **
- Tết Đinh Dậu, nhằm thứ bảy, 28-01-2017 *
- Tết Mậu Tuất, nhằm thứ sáu, 16-02-2018 *
- Tết Kỷ Hợi, nhằm thứ ba, 05-02-2019 *
- Tết Canh Tý, nhằm thứ bảy, 25-01-2020 *
- Tết Tân Sửu, nhằm thứ sáu, 12-02-2021 *
- Tết Nhâm Dần, nhằm thứ ba, 01-02-2022 **
- Tết Quý Mão, nhằm chủ nhựt, 22-01-2023 *
Kính chúc tất cả gia đình quý bà con đồng hương năm mới Vạn Sự Cát Tường.
_____
Cước Chú : Những năm có một dấu * thì Tết có ngày 30, còn những năm có hai dấu ** thì Tết không có ngày 30, nên đón giao thừa vào giữa đêm 29, vì tháng thiếu
Hàn Lâm Nguyễn-Phú-Thứ
Mừng Xuân Kỷ Sửu 2009
DoxuanNguyen
Feb 13 2009, 08:49 PM
Năm Sửu Muốn Biết Thuận Hạp & Khắc Kỵ như thế nào?
(Kỷ Sửu từ 26-01-2009 đến 13-02-2010)
(Trich dẫn trong tác phẩm Tìm Hiểu Cuộc Đời của Nguyễn-Phú-Thứ)
Hàn Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ
Sau khi năm Mậu Tý chấm dứt, thì đến năm Kỷ Sửu được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm chủ nhựt, 25-01-2009 để cầm tinh đến 24 giờ đêm thứ bảy 13-02-2010. Năm Kỷ Sửu này cũng thuộc hành Hỏa và mạng Tích Lịch Hỏa tức Lửa Sấm Sét, năm này thuộc Âm, có can Kỷ thuộc mạng Thổ và có chi Sửu thuộc mạng Thổ. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, thì năm này "Can tương hòa Chi" Bởi vì, Can = Thổ và Chi = Thổ. Trường hợp này, giống như các năm Kỷ Mùi (1919-1979-2039-2099) có Can Chi tương hòa lại có cùng mạng Thổ giống như năm Kỷ Sửu này hoặc là các năm Nhâm Tý (1912-1972-2032-2092) có Can Chi tương hòa đều có cùng mạng Thủy. Vì vậy, người hay năm Kỷ Sửu này xem như tổng quát rất thuận lợi, bởi vì Trời Đất được giao hòa nhau, không khác trong nhà có đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc vậy, cho nên có thể nói là năm được thăng tiến từ vật chất đến tinh thần được vững chắc trong sự nghiệp tương lai. Được biết năm Sửu vừa qua là năm Đinh Sửu thuộc hành Thủy, nhằm ngày thứ sáu, 07-02-1997 đến 27-01-1998.
Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm thứ 61 của đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2009 = 4646, rồi đem chia cho 60 thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp thứ78 bắt đầu từ năm 1984 cho đến năm 2043. Do vậy, năm Kỷ Sửu 2009 này là năm thứ 26 của Vận Niên Lục Giáp 78.
Năm Kỷ Sửu có người thắc mắc, muốn biết năm này tuổi ảnh hưởng vận mạng như thế nào? Vậy chúng ta thử phân tách năm Kỷ Sửu, thì thấy ba việc phải làm như sau:
Bởi vì, năm Kỷ Sửu thuộc mạng Hỏa sẽ đưa đến thuận hạp hay khắc kỵ với mọi người như thế nào?
Xin trích dẫn như dưới đây :
- Những người có tuổi cùng mạng Hỏa như : Bính Dần (1926 - 1986 ...), Đinh Mão (1927 - 1987 ...), Giáp Tuất (1934 - 1994 ...), Ất Hợi (1935 - 1995 ...), Mậu Tý (1948 - 2008 ...), Kỷ Sửu (1949 - 2009 ...), Bính Thân (1956 - 2016 ...), Đinh Dậu (1957 - 2017 ...), Giáp Thìn (1904 - 1964 ...), Ất Tỵ (1905 - 1965 ...), Mậu Ngọ (1918 - 2078 ...) và Kỷ Mùi (1919 - 1979 ...).
Xem như tương hòa với năm Kỷ Sửu bởi vì có cùng mạng Hỏa cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp
Tuy nhiên, những người có mạng Dương Hỏa như tuổi : Bính Dần, Giáp Tuất, Mậu Tý, Bính Thân, Giáp Thìn và Mậu Ngọ, thì tốt hơn những người có mạng Âm Hỏa như tuổi : Đinh Mão, Ất Hợi, Kỷ Sửu, Đinh Dậu, Ất Tỵ và Kỷ Mùi. Bởi vì, theo luật Dương Âm lần lượt trưởng tiêu, không khác ngọn thủy triều lên xuống hoặc có không rồi không có hay nói khác đi là Sắc Không rồi Không Sắc. Vì thế: "Dương Âm tương ngộ tất ứng" còn "Dương ngộ Dương và Âm ngộ Âm bất ứng". Phương pháp này áp dụng cho tất cả các tuổi, để chúng ta thực hành sau này.
- Những người có tuổi mạng Thổ như : Canh Tý (1900 - 1960 ...), Tân Sửu (1901 - 1961 ...), Mậu Thân (1908 - 1968 ...), Kỷ Dậu (1909 - 1969 ...), Bính Thìn (1916 - 1976 ...) Đinh Tỵ (1917 - 1977 ...), Canh Ngọ (1930 -1990 ...), Tân Mùi (1931 - 1991 ...), Mậu Dần (1938 - 1998 ...), Kỷ Mão (1939 - 1999 ...), Bính Tuất (1946 - 2006 ...) và Đinh Hợi (1947 - 2007...).
Những người có tuổi mạng Thổ gặp năm Kỷ Sửu thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa sanh mạng Thổ ". Bởi vì, mạng Hỏa bị sanh xuất và mạng Thổ được sanh nhập, cho nên những người có mạng Thổ năm này tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Mc - mạng Mc gặp năm mạng Thủy, mạng Thủy gặp năm mạng Kim và mạng Kim gặp năm mạng Thổ.
- Những người có tuổi mạng Kim như : Giáp Tý (1924 - 1984 ...), Ất Sửu (1925 - 1985 ...), Nhâm Thân (1932 - 1992 ...), Quý Dậu (1933 - 1993 ...), Canh Thìn (1940 - 2000 ...), Tân Tỵ (1941 - 2001 ...), Giáp Ngọ (1954 - 2014 ...), Ất Mùi (1955 - 2015 ...), Nhâm Dần (1962 - 2022 ...), Quý Mão (1963 - 2023 ...), Canh Tuất (1910 - 1970 ...) và Tân Hợi ( 1911 - 1971 ...).
Những người có tuổi mạng Kim gặp năm Kỷ Sửu thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa khắc mạng Kim". Bởi vì, mạng Hỏa được khắc xuất và mạng Kim bị khắc nhập, cho nên những người có mạng Kim, năm này xấu tổng quát, không thể thực-hiện gì kết quả tốt đẹp. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thổ gặp năm mạng Mc - mạng Mc gặp năm mạng Kim - mạng Hoả gặp năm mạng Thủy và mạng Thủy gặp năm mạng Thổ.
- Những người có tuổi mạng Mộc như : Mậu Thìn (1928 - 1988 ...), Kỷ Tỵ (1929 - 1989 ...), Nhâm Ngọ (1942 - 2002 ...), Quý Mùi (1943 - 2003 ...), Canh Dần (1950 - 2010 ...),Tân Mão (1951 - 2011 ...), Mậu Tuất (1958 - 2018 ...), Kỷ Hợi (1959 - 2019 ...), Nhâm Tý (1912 - 1972 ...), Quý Sửu (1913 - 1973 ...), Canh Thân (1920 - 1980 ...) và Tân Dậu (1921 - 1981 ...).
Những người có tuổi thuc mạng Mộc, gặp năm Kỷ Sửu thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Mộc sanh mạng Hỏa ". Bởi vì, mạng Mộc được sanh xuất và mạng Hỏa bị sanh nhập, cho nên năm này tổng quát những người có mạng Mộc mặc dù được tương sanh, nhưng năm này bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có : mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Thủy - mạng Thủy gặp năm mạng Kim và mạng Kim gặp năm mạng Thổ.
- Những người có tuổi mạng Thủy như : Bính Tý (1936 - 1996 ...), Đinh Sửu (1937 - 1997 ...), Giáp Thân (1944 - 2004 ...), Ất Dậu (1945 - 2005 ...), Nhâm Thìn (1952 - 2012 ...), Quý Tỵ (1953 - 2013 ...), Bính Ngọ (1906 - 1966 ...), Đinh Mùi (1907 - 1967 ...), Giáp Dần (1914 - 1974 ...), Ất Mão (1915 - 1975 ...), Nhâm Tuất (1922 - 1982 ...) và Quý Hợi (1923 - 1983 ...).
Những người có tuổi mạng Thủy gặp năm Kỷ Sửu thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thủy khắc mạng Hỏa". Bởi vì, mạng Thủy được khắc xuất và mạng Hỏa bị khắc nhập, cho nên những người có mạng Thủy năm này mặc dù bị khắc kỵ, nhưng tổng quát nó không bị ảnh hưởng xấu nhiều, vì những người đó có mạng khắc kỵ với năm và cũng không có lợi bằng những người có mạng Thủy cùng năm mạng Thủy đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Thủy - mạng Hỏa gặp năm mạng Kim, mạng Kim gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Thổ.
2.- Đối với Thiên Can ảnh hưởng như thế nào ? :
- Năm Kỷ gặp can Giáp Ất :
Năm này là năm có Can là Kỷ, thuộc mạng Thổ và những người có tuổi Can là Giáp Ất thuộc mạng Mộc, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Mộc khắc mạng Thổ ". Bởi vì, mạng Mộc đuợc khắc xuất và mạng Thổ bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Thổ dù bị tương khắc, nhưng bị khắc xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Thủy gặp năm mạng Thủy. Trường hợp này, giống như người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Mộc - mạng Thổ gặp năm mạng Thủy và mạng Thủy gặp năm mạng Hỏa.
- Năm Kỷ gặp can Bính Đinh :
Năm này là năm có Can là Kỷ, thuộc mạng Thổ và những người có tuổi Can là Bính Đinh, thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa sanh mạng Thổ". Bởi vì, mạng Hỏa bị sanh xuất và mạng Thổ được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Hỏa dù được tương sanh, nhưng bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc cũng được tương sanh, vì "mạng Mộc sanh mạng Hỏa như đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Thủy - mạng Thủy gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Hỏa.
- Năm Kỷ gặp can Mậu Kỷ :
Năm này là năm có Can là Kỷ, thuộc mạng Thổ và những người có tuổi Can là Mậu Kỷ, thuộc mạng Thổ, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì có cùng mạng Thổ, thì xem như tương hòa, cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt mt cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp.
- Năm Kỷ gặp can Canh Tân :
Năm này là năm có Can là Kỷ, thuộc mạng Thổ và những người có tuổi Can là Canh Tân thuộc mạng Kim, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ sanh mạng Kim". Bởi vì, mạng Thổ bị sanh xuất và mạng Kim được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Kim xem như tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Thủy - mạng Thủy gặp năm mạng Kim và mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa.
-Năm Kỷ gặp can Nhâm Quý :
Năm này là năm có Can là Kỷ, thuộc mạng Thổ và những người có tuổi Can là Nhâm Quý thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ khắc mạng Thủy".Bởi vì, mạng Thổ được khắc xuất và mạng Thủy bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Thủy, xem như là năm xấu tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy - mạng Thổ gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Kim và mạng Kim gặp năm mạng Hỏa.
3.- Đối với Địa Chi ảnh hưởng như thế nào?
- Năm Sửu gặp Chi Hợi Tý :
Năm này có Chi là Sửu thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Hợi và Tý thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ khắc mạng Thủy", cho nên năm này những người có mạng Thủy, xem như là năm xấu tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thổ gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Hỏa và mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy..
- Năm Sửu gặp Chi Thìn Tuất Sửu Mùi :
Năm này có Chi là Sửu thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Thìn Tuất Sửu và Mùi tức Tứ M thuộc mạng Thổ thì có cùng mạng Thổ, thì xem như tương hòa, cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp.
- Năm Sửu gặp Chi Dần Mão :
Năm này có Chi là Sửu thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Dần và Mão thuộc mạng Mc, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Mộc khắc mạng Thổ ". Bởi vì, mạng Mộc được khắc xuất và mạng Thổ bị khắc nhập, nhưng bị khắc xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Mộc gặp năm mạng Mộc Trường hợp này, giống như người có : mạng Thủy gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Mộc và mạng Thổ.gặp năm mạng Thủy.
- Năm Sửu gặp Chi Tỵ Ngo :
Năm này có Chi là Sửu thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Tỵ và Ngọ thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa sanh mạng Thổ". Bởi vì, mạng Hỏa bị sanh xuất và mạng Thổ được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Hỏa, dù được tương sanh, nhưng bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc cũng được tương sanh, vì "mạng Mộc sanh mạng Hỏa như đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Thủy - mạng Thủy gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Hỏa.
- Năm Sửu gặp Chi Thân Dậu :
Năm này có Chi là Sửu thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Thân và Dậu thuộc mạng Kim, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ sanh mạng Kim ". Bởi vì, mạng Thổ bị sanh xuất và mạng Kim được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Kim xem như tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Thủy và mạng Thủy gặp năm mạng Kim.
Để tạm kết thúc bài này, tôi xin kính chúc tất cả quý bà con đồng hương bước sang năm mới Kỷ Sửu được : An Khang Thịnh Đạt - Công Thành Danh Toại - Tâm Thân Thường Lạc và Phúc Thọ Khương Ninh.
Hàn Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ
Mừng Xuân Kỷ Sửu 2009
DoxuanNguyen
Feb 13 2009, 09:02 PM
Như trâu…
Lời mở đầu:
Một quang cảnh thường thấy trong sinh thái người dân Việt là:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi bửa”
Trâu kéo cầy dưới ruộng, trâu kéo gỗ trên rừng, trâu kéo xe trên đường ...
*
A- Chuyện (như) Con Trâu
Năm con trâu 2009 (“Kỷ Sửu”) sắp đến, giới viết lách (cả báo in và điện báo), theo như thông lệ, đã tốn khá nhiều giấy mực viết về con trâu… Nếu quí vị đã chán ngấy chuyện trâu thì có thể thong thả lật qua trang khác cho đỡ ngứa mắt; còn không thì… cùng nhau bàn chuyện trâu thêm một lần nữa nhé…
Con trâu đối với dân Việt, nhất là nhà nông (có đến 80% dân số), đã một thời là một thành viên của gia đình, là của cải, là kế sinh nhai, là cứu cánh, là “đầu cơ nghiệp,” là hạnh phúc, là hiện tại, là hy vọng, là tương lai… tóm lại là tất cả những gì quí báu nhất của gia đình nhà nông. Hãy thử đọc lại cuốn “Con Trâu” của Trần Tiêu để thấy rằng gia đình nông thôn Việt Nam vật vã than khóc, xem sự việc một con trâu bị chết còn bi thảm hơn là chính bố mẹ, con cái trong gia đình bị chết… Vai trò quan trọng của con trâu đã qúa rõ rệt…
Nhưng Việt Nam ở thế kỷ 21 đã bắt đầu đánh dấu sự “lúng túng,” sự “lo lắng” là đàn trâu Việt Nam giảm số lượng quá nhanh (cả tỉnh Tiền Giang bây giờ, năm 2009, chỉ còn vỏn vẹn 377 con trâu ?) Nguyên do của sự gỉam số lượng trâu vì vấn đề cơ giới hóa trong việc cày cấy và việc ào ào giết trâu làm thịt nhúng dấm, tái chanh, lúc lắc… (vì thịt trâu ăn “mát” hơn thịt bò!) E rằng một ngày rất gần đây con trâu Việt Nam sẽ biến thành lọai động vật tương tự như “khủng long” của thời tiền sử và có lẽ sẽ chỉ còn thấy con trâu trong sách gíao khoa và viện bảo tàng! Bảo đảm là số lượng trâu bị biến mất dần dần sẽ xuất hiện đều đặn trong các báo cáo của ngành nông nghiệp trong các năm sắp đến! Hình ảnh quen thuộc thân yêu “con trâu đi trước cái cày” bao đời nay sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một nền nông nghiệp lạc hậu (!) của xứ sở nghèo đói (!)
Trước mặt chúng ta, con trâu có rất nhiều viễn ảnh “khuất bóng;” nhưng những hình ảnh và biểu tượng văn hóa mà con trâu để lại có lẽ sẽ mãi mãi trong tâm thức người dân Việt: từ tranh sơn mài đến bát phở; từ những câu ca dao mộc mạc đến bản tân nhạc giật gân được ưa chuộng, từ các địa danh “trâu” đến các chuyện huyền thọai về “trâu…”
Hình ảnh con trâu to kềng càng, đắt gía, hiền lành, khỏe mạnh, cần cù… được dân Việt sử dụng để làm đủ lọai tiêu chuẩn trong vấn đề mô tả, so sánh v..v...
Tuần tự hãy xem:
“Khỏe như trâu.” Công việc đồng áng rất nặng nhọc đâu có dễ dàng như đi “shopping.” Ở ngòai ruộng, bùn lầy hay lún, chỉ có sức trâu dẻo dai mới có thể cày được ruộng sâu (“Ruộng sâu, Trâu nái.”) Nên biết là bò cũng có sức kéo mạnh nhưng chỉ có 7 món kéo trên mặt đất khô; còn ở ruộng có nhiều bùn lún, bò chỉ có nước rống lên không thể kéo cày được đâu đấy nhé!
“Ăn như trâu.” Trâu to lớn làm việc nặng thì phải ăn nhiều mới có sức. Mà kể cũng tội nghiệp! Trâu chỉ gặm cỏ dại chứ có đòi hỏi cao lương mỹ vị gì đâu mà con người phải than thở! Chưa nói đến chuyện bây giờ các đồng cỏ cho trâu gặm đã được lấy đi để xây khách sạn 5 sao, sân “gốp!” Trâu muốn sống có lẽ phải ăn bo bo khoai sắn độn?
“Ngu như trâu.” Nhận đinh vội vàng này có vẻ lấn sân và thiển cận. Lấn sân là vì trạng thái gọi là “ngu, đần độn” người thường dùng để rủa ông Bò láng giềng của trâu (“Ngu như bò”). Trâu là trâu; không phải là bò; cũng như người là người, không phải là khỉ… Thiển cận là vì người biết người mà không biết trâu. Trâu hiểu tiếng người – chẳng hạn người chăn trâu và người cày nói với trâu “hò rí,” “hò tắt,” “dí,” “thá” v.. v.. trâu đều hiểu cả. Trong khi người mù tịt chẳng hiểu tiếng trâu mà lại nói là trâu ngu. Ai ngu ở đây thì biết? Ngòai ra cũng nên biết thêm là trâu còn có thể phân biệt cỏ non và mạ; và phân biệt được lúa (lúc chưa ra bông) và cỏ thường. Thỉnh thỏang trâu cố tình ăn mạ và lúa của người để tỏ thái độ đó thôi!
“Lỳ như trâu.” Trâu rất ghét người lắm điều. Trâu chỉ muốn nghe (“selective hearing”) vắn tắt những điều gì phải và ngay thẳng. Nhiều lúc trâu phải bỏ qua tai những chuyện trái tai gai mắt, chuyện nhảm nhí mất thời giờ nghỉ ngơi thì lại bị người gán ghép là lỳ! Bất đồng tình, bất đồng ý có đồng nghĩa với lỳ hay không? Rõ cố chấp, cực đoan!
“Béo như trâu trương.” Cái dáng kềnh càng bụng to của trâu là dáng tự nhiên trời cho lại bị người đời ví von, dè bửu, chê bai. Tại sao kỳ cục vậy? Mục sư Martin Luther King đã từng nói là: “Đừng có phán xét con người qua hình dáng, mầu da; mà phải phán xét con người qua tư cách” mà lị. Con người hay con trâu thì cũng vậy thôi; có gì là khác biệt đâu? Nhiều người tư cách còn kém xa con trâu đã không biết ngượng lại còn bày đặt lên nước che bai trâu! Ít ra trâu cũng là con vật bình dị, mộc mạc, không bon chen đi hút mỡ bụng hay bỏ món ăn cỏ hàng ngày để đổi (“diet”) qua ăn củ xả, lá lốt, mỡ chài…!
“Đàn gẩy tai trâu.” Rõ rệt là trâu đã bị hiểu lầm rất lớn về cái tiết mục văn nghệ văn gừng này. Chẳng qua là trình độ thưởng thức âm nhạc của trâu rất cao. Người đời đã gẩy đàn dở ẹc mà lại muốn trâu khen là sao? Công lý ở đâu vậy?
“Dai như trâu đái.” Trâu bị bắt lao động suốt ngày không cho nghỉ ngơi; không cho đi buồng tắm thì chuyện “xả súp bắp” hơi lâu có gì mà phải ngạc nhiên. Ở Việt Nam bây giờ cứ vào làm việc cho hãng giầy “Nike” là biết ngay. 8 tiếng đồng hồ làm việc mà “xếp” chỉ cho đi đi đái có một bận thì trách trâu đái dai là chuyện “phản động!”
“Cứt trâu để lâu hóa bùn.” Câu chê bai này chứng tỏ rằng người chê chẳng những đã không hiểu tí gì về khoa học mà còn thiếu cả đạo đức (Chưa nói vội đến vấn đề chính trị rất phức tạp - bất công và kỳ thị). Khoa học đã chứng minh chăm phần chăm là bất cứ cứt gì để lâu cũng dần dà hóa thành đất; hóa thành bùn cả; chả riêng gì cứt trâu! “Nói đến (cứt) trâu phải nghĩ đến (cứt) người” chứ! Thấy một mà chẳng thấy hai!
“Đầu trâu mặt ngựa.” Cũng lại vấn đề chỉ xem qua nhan sắc mà đã cho điểm tư cách này coi bộ hơi tế nhị đó nghe. Đẹp hay xấu là tùy nơi người đối diện (“Beauty is in the eye of the beholder!”) Cứ bộ xấu trai là hổng lấy được vợ hay sao? Có người nào xấu đến nỗi phải ở gía đâu? Về khía cạnh nhan sắc, trâu không dám lên tiếng dùm cho ngựa; vì đó là đời tư riêng của ngưa. Còn về phần trâu, trâu mặc dù có cái mũi hơi to, sừng dài hơi quá khổ mà lại to to cong cong và sún vài cái răng cửa nhưng có trâu đực nào bị trâu cái chê xấu trai đâu mà con người phải cất công chê dùm… Rõ là rảnh hơi, rửng mỡ! Con người có tính tủn mủn nên cứ chê cho được việc vậy thôi. Còn lúc ví von là “vú sừng trâu” thì là lọai “vú xấu” hay “vú đẹp?” Nói sao cũng đặng. Ngòai ra, về nhan sắc, đôi khi phải nhìn lâu, nhìn kỹ mới thấy đẹp (“Trâu nhìn lâu thấy đẹp”). Thi si Nguyễn Tất Nhiên cũng đã đồng quan điểm với trâu trong vấn đề “nhìn” này qua bài thơ:
“… hãy nhìn anh thật rõ
trước khi nhìn đám đông
hãy nhìn sâu chút nữa
trước khi vào đám đông!…”
(Đám đông – Nguyễn Tất Nhiên)
…
B- Địa danh mang tên Trâu
1- Miền bắc:
Khỏang thế kỷ 15, Trần Thế Pháp trong sách “Lĩnh Nam Trích Quái” (trích lược các chuyện kỳ lạ ở đất Lĩnh Nam – Đất lập quốc nguyên thủy của dân Việt) có ghi câu chuyện cổ, huyền sử về địa danh miền Bắc Việt Nam liên quan đến con trâu như sau:
“Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác rìu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng bảo Chất: ‘Cán rìu của người nát rồi.’ Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà thì không còn gặp lại những người thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha (núi rìu nát) còn gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt tên huyện. ở huyện Tiên Du nay vẫn còn vết cũ. Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ.
Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang (là huyện cực Tây của tỉnh Hưng Yên), vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu Đằm (*). Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới. Trâu lại từ trong bến ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn, nay là Hồ Tây (*), rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh, lạch.”
--------
(*) Thì ra cái vũng tên là “Trâm Đằm” ở tỉnh Hưng Yên có sự tích hẳn hoi chứ đâu phải là tên được phịa ra; và “Hồ Tây” rất thơ mộng ở Hà Nội còn có một cái tên nguyên thủy là “Hồ Dâm Đàn” (có nghĩa là chỗ nói chuyện dâm tầm bậy tầm bạ!) không có cái gì gọi là thơ mộng cả!
2- Miền nam:
Có một địa danh mang trên Trâu. Đó là “Kinh Đường Trâu.” Câu chuyện sự tích như sau:
Địa phận (Huyện / Quận) Bình Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long có một con kinh tên là “Kinh Đường Trâu.” Chuyện kể là khi xưa khu vực này có nuôi rất nhiều trâu. Trâu được lùa đi thành từng đàn cả ngàn con trên một con lộ bằng đất. Đường đất qua thời gian bị sức nặng của trâu đè xuống biến thành một con mương gọi là muơng “đường trâu đi.” Dần dà, nước chẩy soi mòn làm mương mở rộng lớn ra biến thành con kinh goi là “Kinh Đường Trâu.”
C- Tuổi Sửu (Con Trâu):
Nhân dịp tết Kỷ Sửu, tôi xin ghi lại đây (bài tử vi lượm trên NET của Quỉ Cốc Tiên sinh) một vài đặc tính của người có tuổi con trâu. Xin mời quí vị quan tâm đọc cho biết rồi bỏ vì tôi thấy (rất chủ quan!) độ chính xác chỉ cũng chỉ tương đối khỏang 35% thôi:
Mặc dầu chậm chạp cứng chắc như thế, tuổi Trâu không phải là con bò sửa ngoài đồng. Con vật khỏe mạnh nầy sinh ra đã là bậc lãnh đạo, đáng tin cẩn, và có khả năng tự nhiên làm nên việc lớn.
Dầu vậy, tuổi Trâu chậm chạp và nguyên tắc - theo những dự toán từng bước một và không hề mất hướng. Thiên hạ thấy tuổi Trâu quá nghiêm khắc và khó nới nẩm.
Phẩm tính bền chặt tự nhiên làm mất tình xả giao và trở thành ngượng ngập giữa đám đông. Tuổi nầy không màng tới người khác suy nghĩ ra sao mà chỉ thích làm điều gì họ nghĩ là tốt cho họ. Tuy làm mặt lạnh nhưng tuổi Trâu cũng không tránh khỏi chịu đau lòng, cô đơn, và mất thân ái với người khác.
Bạn bè và gia đình là nguồn an ủi lớn lao cho tuổi này, ngay cả khi gia đình họ cũng không hiểu họ đã làm gì cho tuổi Trâu nổi sùng nữa.
Cứng đầu và độc đoán, tuổi Trâu có khuynh hướng càn lên, xông xáo, không biết thối lui. Nếu tuổi nầy bị dồn ép vào chân tường thì có nước là đất cũng phải rung chuyển theo!
Nói tóm tắt là tuổi Trâu không quan tâm đến chuyện bị dồn đẩy lắm, bởi vì tuổi nầy nghĩ là họ là người tốt trong thiên hạ. Lý thuyết nầy cũng đúng, bởi lẻ tuổi Trâu thông minh, đáng tin cậy, lo cho người, và đáng kính.
Nếu bạn cần lời khuyên chân thật, thẳng thắn và không thiên vị thì cứ hỏi tuổi Trâu.
Cái khó nhất cho tuổi Trâu là làm sao khắc phục mình khỏi phải tật thiên kiến đã khiến họ khó làm thân với người khác. Nếu tuổi nầy biết đánh giá những phẩm tính tốt của riêng mình, họ sẽ mở rộng tấm lòng ra để đón tha nhân vào.
Hạp: Tuổi Sửu hạp với tuổi Tỵ (con Rắn) và tuổi Dậu (con Gà).
Xung: Tuổi Sửu khắc / kỵ tuổi Thìn (con Rồng), tuổi Mùi (con Dê) và tuổi Tuất (con Chó).
Trần Văn Giang
(Tết Kỷ Sửu 2009)