Hàng xóm tuổi thơ
Đỗ Hà
Sau đêm đó, tôi không đến nhà cô nữa. Cô có nhắn mấy lần, nhưng tôi không đến. Cô đã làm tan vỡ giấc mơ của tôi. Thà cứ trần trụi như Hằng, thà cứ đay nghiến như Hằng, tôi còn chịu được vì trong lòng tôi có cô, có một quãng tuổi thơ cho tôi nhân cách. Tại sao cô lại kể hết ra vậy, tôi đâu có cần, thà là cô nói dối có hơn không?
Tôi bất ngờ bị lời hát ngọt ngào kéo ra khỏi câu chuyện bạn bè! Ai ca Huế mà hay đến như vậy, tưởng như lung linh lăng tẩm và nắng Huế ở ngay đây. Nữ ca sĩ sao mà nom quen quá. Chiếc áo dài màu tím Huế dưới ánh đèn sân khấu thành mướt mát thiết tha. Cả gương mặt chị, cả vóc dáng thanh mảnh của chị dường như thoát vào lời ca. “Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu, những lăng tẩm nhắc về thời quá khứ, mặt trời vàng và mắt em nâu, xin chào Huế một lần anh đến,...xin đừng lầm em với cố đô”[1]... Cả giọng hát lẫn người hát, quen quá, nhưng có lẽ tại ngồi xa quá, lại quên mất “hai cái đít chai” ở nhà, nên tôi đành bấm bụng nhịn nỗi tò mò đang cồn lên.
- Ô kìa, Thu, mày "nàm" sao mà như ngỗng ấy hở, đang ăn cơ mà?
- Tao thấy cái chị đang hát quen quá, mà chịu chẳng nhận ra được là ai.
- À, bà ấy cũng “nà” giang hồ danh “lữ” đấy, “noại” xịn đấy. Tư cách thì khó phân “noại lắm”, nhưng mà giọng ca, vô địch Matxcơva này đấy, nhất “nà” ca Huế và điệu gõ chén “ný ngựa ô”. Cả ca sĩ trong “lước” ra cũng phải thừa nhận, mặc dù bà ấy chỉ “nà” dân nghiệp dư, “lổi lên” cũng từ các chợ, từ nhà hàng “lày” đấy thôi.
Bỏ qua cái giọng “lước lon” của Hằng, tôi khe khẽ hỏi:
- Thế chị ấy tên là gì?
Hằng quay liếc xéo sang, dẩu cái mỏ đo đỏ bóng loáng mỡ, hỏi bồ của nó:
- Tên “nà” gì hở anh Trung? Mà có mấy cái “lốt” ruồi ở “nưng”, hình như “nà” anh cũng đã “OTK” rồi, hở?
- À, tên nhà hàng là Diệu Hương, chẳng biết có phải là tên thật không, mọi người thì gọi là Hương “xanh”, vì bà ấy chỉ thu ngoại tệ thôi. Nhưng cũng bõ lắm đấy, ha ha... - Trung cười, bộ ria mong mỏng, đêu đểu bò quanh mép hắn càng làm cho cái mặt choăn choắt của hắn đểu hơn, cặp mắt một mí tít lại, cái mũi hơi hếch, cố hếch lên, hít hít hơi.
Tôi cắm mặt vào bát xúp cua. Tôi thấy khó chịu với cái kiểu nói chuyện của Hằng và bồ nó. Nó là bạn học từ hồi phổ thông của tôi. Nó sang Nga trước tôi lâu rồi. Từ hồi còn “Et-xet-xet-xê-erờ” [2]cơ. Nó thay đổi nhiều lắm rồi. Chả còn dáng dấp gì của một cô thôn nữ ven thành Hà nội nữa. Nó thường chửi tôi “đ. biết ăn mặc gì cả, “lom” như con cú già, có mà chó nó thèm rước”. Có lẽ chỉ còn cái điệu ngọng líu lô là bản chất cũ của nó thôi. Nhưng nó lại luôn luôn tạo điều kiện cho tôi có công ăn việc làm. Một phần nhờ có nó mà tôi học xong đại học. Lại còn về phép thăm nhà, có tiền cho mẹ làm quà. Tôi vẫn biết ơn nó, mặc dù đôi khi nó làm cho tôi cảm thấy tủi thân và nhục nhã quá lắm! Nó cặp với lão Trung này cũng lâu lắm rồi. Lão có lẽ già hơn nó hàng chục tuổi. Đầu tiên là chú, chú, cháu, cháu, sau rồi cũng anh, anh, với em, em ngọt xớt. Đầu tiên là cùng làm ăn, hàng hoá, tiền nong rồi thì tình cảm. “Bán được tất, quy ra xanh được tất” - Hằng bảo thế. Biết làm sao được! Mỗi người có quyền riêng của mình, vả lại họ bỏ nhà ra đi, ngoài việc kiếm tiền, họ còn tìm kiếm tự do hơn nữa cơ. Nếu mà bạn chê họ tục tĩu, chắc là họ sẽ trố mắt, nhòm vào mặt bạn như kiểu bạn là bát mắm tôm bốc mùi giữa mâm cỗ đầy giò, phó-mát và lợn sữa quay... ấy thôi. Người ta đã quá quen rồi, và lại tục tĩu đôi khi cũng là cách giải tỏa nỗi bực dọc trong lòng, phần nào đó như chủ nghĩa “AQ” của Lỗ Tấn ấy mà. Nhưng tôi thấy khổ sở thật sự! Tôi có cảm giác như mình bị xúc phạm! Lời ca Huế hay đến như vậy, thiêng liêng đến như vậy, và người hát dường như hát bằng tất cả đau đớn, nhớ nhung, thiêng tiếc của lòng mình. Chị vẫn say mê trên sân khấu. Ánh đèn mờ ảo. Tôi thấy mình dịu hơn, tôi quay hẳn ra, thả lòng theo lời hát của chị, theo “dòng sông chảy vào lòng, nên Huế rất sâu”[3].
Tôi chưa được vào thành Huế bao giờ. Biết Huế qua những bài ca, điệu hát và qua giọng kể chuyện say lòng của cô Miện, hàng xóm với nhà tôi từ ngày xưa.
Ngày tôi còn bé, phố Trương Định chưa đông như bây giờ. Tụi trẻ con chúng tôi vẫn được giãi nắng một cách vô tư. Chúng tôi nghịch như quỷ sứ vậy. Mặc dù là "nhi nữ", nhưng tài "leo trèo" của tôi cũng có tiếng trong "giang hồ". Chẳng có cây sấu, cây bàng nào mà tôi lại vô tình bỏ qua. Sấu thì chua đến nao lòng, còn nhân bàng thì bùi biết mấy. Tụi con gái chúng tôi, thường giành giật nhau với bọn con trai, chinh chiến vì từng trái bàng già, từng gốc bàng, rồi thi nhau ngồi ghè nhân bàng, thả từng chiếc một vô miệng, nhâm nhi, nhấm nháp ngon lành thế! Chiều tối, tôi theo bọn trẻ lang thang, mùa hè thì tìm cách dính cánh cam và bọ dừa, chúng bay vi vút trên các cột điện, nhất là khu gần xưởng đậu. Bố mẹ tôi thường la ầm lên.
Nhà tôi ngay bên cạnh khu tập thể nhà máy kẹo Hải Hà, bức tường mới xây của nhà tôi đóng kín cửa sổ sau của mấy căn hộ bên khu nhà tập thể. Còn khu vườn dài ra phía sau nhà, được dựng một loạt rào cho nho leo, vô tình cũng khép cửa của một số nhà nữa. Thực ra, đất ở Hà Nội quá đắt đỏ, chả ai chịu nhường cho ai đâu. Nhưng bây giờ tôi mới hiểu, còn ngày ấy, đôi khi tôi cũng không hiểu tại sao, mấy bà bên tập thể cứ chửi xếch sang nhà tôi. May mà mẹ tôi hiền, chẳng bao giờ tôi thấy bà đôi co lại...
Cho đến một hôm, có một chiếc cửa sổ "mạo muội" mở ra vườn sau nhà tôi, lại còn dám đẩy bật tung cả vạt rào, lúc lỉu nho chín. Bố tôi tiếc lắm, mà trời mùa hè lại nóng nữa chứ, ông bực điên lên được! Giời đất, sao mà chịu nổi! Rồi ông chửi. Chao, ông chửi mới ngoa chứ! Như bà Tân "Lác" ở chợ Mơ ấy. Chả hiểu là ông chửi cong cong, vòng vòng, hay chỉ mặt đặt tên nữa, chỉ thấy bọn trẻ con cứ thập thà thập thò trước cửa nhà tôi để nghe, thi thoảng lại phụ họa bằng những tràng cười hắc hắc. Mẹ tôi thì đỏ bừng cả mặt. Nhưng mà cũng chả dám can đâu. Tụi tôi bị nhốt trong buồng, chỉ tội nỗi tò mò làm đau tai, mỏi mắt. Bố có “thẻ thương binh” đấy, lơ tơ mơ... đâu có được.
Bên "địch" chẳng thấy ho he gì, nhưng chiếc cửa sổ vẫn mở. Tiếng trẻ con khóc dai dẳng vẳng ra. Sau một hồi tá hỏa, chắc bố tôi cũng dịu lại, ông tu một hớp nước, chửi đổng "Mẹ bố tiên sư chúng nó, may mà biết điều im tiếng, không thì ông cho một trận. Biết điều thì thưa thốt, đền tiền nho cho ông, nếu không, ông thì ông lấy gỗ ông bịt vĩnh viễn cái cửa nhòm giời ấy lại, ông chẳng sợ thằng nào cả! Thích thì cứ đi mà kiện". Cả mấy mẹ con tôi đều cười, ông quay ra quát chúng tôi, rồi la đuổi lũ trẻ con vẫn thập thò trước cửa.
Câu đổng đểnh thế mà có tác dụng. Chiều tối, có một người đàn bà trẻ, nhỏ nhắn, bồng theo một đứa con, ngập ngừng mãi trước cửa nhà tôi. Chắc là thu hết can đảm, người đó mới dám bước vào. Thì ra đó là "kẻ địch", dám phá dây nho, đẩy rào, mở cửa ra vườn sau nhà tôi. Tôi và thằng em trai ngồi thu lu trên bao trấu dựng sát cửa sổ, sau nhà, căng tai lên nghe lỏm. Bố mà biết thì lãnh mấy cái bợp tai. "Chuyện người lớn, con nít cấm hóng hớt, nhớ chừa chưa!". Bọn tôi đã hứa hết các ngón tay từ lâu rồi, nhưng làm sao chống nổi trí tò mò. Nhưng giọng nói của người đàn bà ấy rất khó nghe. Chúng tôi chỉ nghe loáng thoáng, sau rồi chúng tôi cũng bỏ đi chơi, vì chán. Chỉ biết, sau lần đó, chiếc cửa sổ được tiếp tục mở, và thêm một số chiếc nữa, bung ra vườn sau nhà tôi. Nhưng bố thì chẳng nói gì cả. Chỉ có chị em tôi, thi thoảng bám vào các song cửa, kiễng chân, tò mò nhìn vào các căn hộ tập thể. Chẳng ai thèm quan tâm đến chúng tôi cả.
Cho đến một hôm, cô Miện bế em bé sang nhà tôi gửi. Mẹ nhận chăm em. Còn hai chị em tôi thì thò tay, rờ rờ má em. Thằng Chuột còn dám bẹo em bé, làm nó khóc váng lên. Mẹ cầm cây quạt nan, trở đằng sống lại, chúng tôi co giò chạy. Mặc dù chạy chơi loăng quăng, nhưng thi thoảng tôi lại vào dòm dòm em bé. Nó cũng hiền, nằm chỏng lỏn chơi, hai tay mút chùn chụt. Thi thoảng, mẹ tôi lại cho "thằng cún con của bác" ăn bột, còn tụi tôi thì chầu rìa, chờ được vẹt xoong. Mãi chiều tối, cô Miện mới đón em về. Khi nào cô rỗi, chị em tôi lại theo sang nhà cô chơi. Nhà cô bé tý, nhưng cô kể chuyện và hát rất hay. Tôi thấy cô rất xinh, chị em tôi thì tin thật sự vào các câu chuyện cổ của cô kể. Thằng Chuột nài mẹ “gò cho con cái quần bằng tôn, để con mới đi đánh nhau cơ!”. Bố mẹ tôi cứ rũ ra mà cười. Càng về sau, cô càng gửi em ở nhà tôi nhiều hơn. Có khi, em còn ở lại cả đêm với mẹ tôi. Bố tôi chẳng có ý kiến gì, thi thoảng ông lầu nhầu mấy câu chẳng rõ gì cả. Nhưng chẳng thấy bố bế em bé bao giờ.
Có hôm, cửa sổ nhà cô Miện tự dưng đóng lại, có tiếng cãi vã nho nhỏ, rồi to dần, tiếng cô Miện khóc. Một lúc sau, em Cún lại bị gửi sang nhà tôi. Mẹ bảo, nếu cô không ngại thì sang ở tạm nhà tôi. Cô cảm ơn, rồi nói đi có việc. Khi cô đi rồi, bố lại lầu nhầu: "Mẹ mày hâm thật, lại ôm rơm cho nó dặm bụng cơ chứ!". Mẹ chỉ cười. Từ đó, em Cún được gửi ở nhà tôi nhiều hơn. Chẳng biết người lớn thì sao, nhưng tôi và em tôi chóng quen lắm. Chúng tôi rất thích chơi và bẹo em. Nhất là tôi, con sâu vẹt xoong bột. Bố tôi thì cũng đỡ hơn, nhưng ông vẫn có vẻ "không thèm" với em Cún. Có một đận cô Miện đi vắng lâu lâu, em Cún ốm nặng phải vào viện Xanh-pôn nằm. Bố sọp cả người đi, chăm em chăm mẹ. Bố dường như quên cả chúng tôi. Không có mẹ, không khéo chị em tôi bị bỏ đói mất. Khi em về nhà, dần dần bố mới ăn ngủ bình thường trở lại. Mẹ nhìn bố dường như kính nể hơn nhiều. Chị em tôi thì thấy ghen ghen với em Cún. Bố bây giờ hay mua quà cho em hơn, nhất là sữa hộp, tụi tôi giờ chỉ chờ ăn theo thôi. Rồi một hôm, tôi đi học về, thằng Chuột chạy lại te tởn, thầm thì “em Cún đi rồi chị Thu ạ, cô Miện với một ông đi xit-đờ-ca về đón nó, cô cho em cả một lọ pô-li [4] vàng đây này”. Cả nhà tôi đều buồn!