(Tiếp Theo)
(Trích từ diendan.org)

Nó thấy nghẹn ở cổ. Nó nuốt nước bọt, chớp nhanh mí mắt nhiều lần. Nó cố gắng nói câu trả lời:
– Chết bữa tết.
Không dằn được nữa, nó khóc òa. Nó khóc mùi mẫn, khóc say sưa như từ lâu chưa hề được khóc. Nước mắt của người đàn bà cũng chảy dài xuống má. Hai đứa con đứng nhìn một cách sững sờ.
Nước mắt làm nó nguôi ngoai dần dần. Gần suốt buổi chiều hôm đó, nó kể chuyện cho mọi người nghe. Nhiều lần người đàn bà lấy khăn lau nước mắt. Hai đứa trẻ mỗi lúc một xích lại gần nó hơn. Khi nó ngưng câu chuyện, bàn tay nó đã nằm gọn trong tay người con trai, không biết tự bao giờ.
*
Từ đó nó ở luôn trong nhà nầy. Nó vâng lời kêu người đàn bà bằng dì Tư, người con trai bằng anh Mận và đứa con gái bằng em Hường. Kể cả nó, gia đình bây giờ gồm bốn người.
Bốn người sống một căn phố lợp lá dừa, vách bằng ván cũ kỹ, lớp sơn xanh sẫm chỗ tróc, chỗ mòn trơ ra lớp gỗ mốc xì. Nhà chia làm hai gian nhỏ và một bếp hẹp phía sau. Vách bếp có một cửa nhỏ thông ra một con rạch quanh năm nước đen ngòm hôi hám.
Buổi sang, dì Tư gánh xôi ra chợ bán, em Hường lò tò theo sau. Anh Mận xách thùng đánh giày đi sau dì vài phút. Mấy hôm đầu, ở nhà một mình nó buồn quá. Nó nằm nhớ ba mẹ, chị em, khóc rấm rức. Khóc đã, nó ra ngồi trên bệ cửa nhìn người qua lại, hoặc ra sau cửa bếp nhìn dòng nước đen mang theo từng mảng rác rến trôi lờ đờ trên mặt nước.
Buổi chiều thì đỡ buồn hơn. Dì Tư và em Hường ở nhà, chỉ có anh Mận xách thùng ra đi lúc bốn giờ chiều và trở về sau tám giờ đêm. Cả nhà đều tỏ vẻ thương nó. Dì Tư đi chợ về thường cho nó trái ổi hay vài cây kẹo. Anh Mận thường đem về, khi thì lon nước ngọt, khi thì vài hòn bi chai. Em Hường cũng rất thảo ăn với nó. Món gì em cũng chia hai, dành cho nó phần lớn hơn.
Một buổi tối, dì Tư may một miếng vải đen bằng ngón tay và cặm cụi khâu vào ngực áo nó. Nó ngạc nhiên, đợi dì khâu xong mới hỏi:
– Đeo cái nầy làm chi vậy dì?
Dì vuốt đầu nó, giọng buồn buồn:
– Con cái có hiếu phải để tang cha mẹ.
Nó nhìn dì, mắt rưng rưng. Từ đó, đêm đêm, nhớ cha mẹ nó khóc và nâng miếng vải đen lên hôn. Ban ngày, một mình tựa cửa, nó thường áp bàn tay vào ngực, đè mạnh miếng vải đen sát vào làn da của nó.
Một buổi chiều, nó xuống bếp, đứng sau lưng dì một lúc rồi ngập ngừng lên tiếng:
– Dì Tư.
Dì quay lại thấy vẻ mặt non choẹt của nó thực nghiêm trang nên hỏi:
– Gì đó con?
Nó ngập ngừng:
– Dì cho con… Dì may cho con thêm một miếng vải để tang nữa.
Dì ngạc nhiên:
– Chi vậy con?
– Con để tang cho chị Lan.
Giọng nó lạc hẳn đi. Nó nhìn dì với vẻ van xin, hai dòng nước mắt ứa ra khỏi khóe.
Dì cười mà nước mắt lưng tròng:
– Để tang cho chị Lan chung với ba má con trong đó luôn. Một miếng đủ rồi.
Nó yên lòng. Từ ngày đó, mỗi khi nhớ đến chị Lan dạy nó học, nhớ chị cúi lượm cái cặp của nó lúc đi học về, nó đều nâng miếng vải lên hôn.
Những ngày như thế kéo dài thực êm đềm. Da nó dần dần trở lại hồng hào. Hàng xóm đã được nghe tiếng cười dòn của nó trong những chiều oi ả, đã được nhìn thấy nó bày trò chơi với em Hường dưới ánh sáng vàng vọt về đêm của chiếc đèn dầu hỏa.
Buổi sáng, nó vẫn đứng tựa cửa, mắt không còn ngẩn ngơ như lúc mới đến mà nhìn ngược, nhìn xuôi để đợi bóng dì và em Hường xuất hiện ở đầu hẻm. Ban đêm, nó ngồi chơi với em Hường, mắt thỉnh thoảng trông ra cửa đợi anh Mận bước vào. Anh Mận hay cho nó quà. Anh lại kể chuyện rất hay. Suốt ngày anh la cà ở các quán hay trong các công viên thành phố nên anh có lắm chuyện để kể cho nó và em Hường nghe. Nó thèm muốn được như anh.

Một hôm, nó đánh bạo nói với dì Tư:

– Dì Tư, mai cho con đi theo anh Mận nghe dì Tư.

Dì cười, và nó không ngờ dì chấp thuận một cách nhanh chóng. Nó mừng rơn, nhảy tưng tưng, như trước kia mỗi khi được mẹ bảo thay áo quần đi xem hát. Đêm đó, nó không ngủ được thẳng giấc. Nó mở mắt tỉnh táo lúc trời còn khuya. Anh Mận nằm co người, quay lưng về phía nó, ngáy đều đều.

Lâu lắm mới có tiếng xe bò lọc cọc trên đường khá xa. Nó nằm lắng nghe thành phố trở mình thức dậy từ từ. Nó tưởng tượng đến bao chuyện thích thú ngoài kia trong chuyến đi đầu tiên của nó vào sáng nay. Nó sẽ nhìn thấy nhiều người, nhìn thấy lại phố xá, cùng những con đường mà ba nó đã chở hai anh em đi qua trước đây. Nó sẽ trở lại thăm cái nhà thương đã cứu sống nó. Nó cũng sẽ trở lại thăm…

Tim nó bỗng nhói đau khi nghĩ đến xóm cũ của những ngày hạnh phúc. Con đường hẻm thân yêu nằm giữa hai dãy nhà san sát. Căn phố nhỏ bé nhưng sạch sẽ tươi mát, một động tiên của nó trong thời xa xăm.

– Ba mẹ ơi, chị Lan, em Tiến ơi!

Nó gọi lầm thầm trong miệng nhiều lần. Mỗi tiếng kêu như một mũi kim nhọn cắm vào tim nó. Em Tiến nhất định còn sống trong thành phố. Em sống ở đâu? Em có về nhà không? Chắc chắn là không. Nhà còn đâu nữa mà về. Người ta chứ không phải là con giun con dế mà có thể chui nằm dưới đống gạch ngói vụn đen thui kia.

Anh Mận sẽ dẫn nó đi thực nhiều nơi như anh đã kể. Nó sẽ nhìn vào từng căn phố để tìm em nó. Nó sẽ nhìn vào mặt từng đứa học trò, nó sẽ leo vào mỗi chiếc xe hơi, nó sẽ không bỏ sót bất cứ gốc cây nào bên vệ đường…

– Em Tiến ơi, em ở đâu, anh đi tìm em, em ơi!

Nó tiếp tục rên rỉ lầm thầm lúc đêm đã tàn.

Trong buồng, có tiếng diêm quẹt rồi ánh sáng bừng lên. Dì Tư lê dép lẹp xẹp xuống bếp sửa soạn gánh xôi. Xôi dì đã nấu tự đầu hôm, bây giờ hâm nóng lại rồi đem đi bán.

Anh Mận trở mình rồi từ từ ngồi dậy. Nó bật dậy theo. Ánh sáng nhợt nhạt buổi sớm mai đã chui vào khe ván hở. Nó nhanh nhẹn rửa mắt, ăn xôi rồi hối thúc anh Mận ra đi. Dì Tư cho nó năm mươi đồng. Dì căn dặn anh Mận nhiều lần, bảo phải coi chừng nó. Nó tức cười dì vì nó cảm thấy mình lớn hơn là dì tưởng. Nhưng nó không giận dì mà thấy thương dì hơn.

Bị nó hối quá, hôm nay anh Mận phá lệ ra đi trước dì và em Hường. Khi hai anh em ra đến đường, dì còn nói vói theo:

– Nhớ đi cẩn thận kẻo xe cộ nghe không. Đi gần anh kẻo bị lạc nghe Thắng. Dòm chừng em nghe Mận. Nhớ về sớm ăn cơm nghe.

Anh Mận không trả lời dì mà cầu nhầu:

– Giờ nầy ai đã đi chơi đâu mà đánh giày.

Nghe anh cầu nhầu, nó góp ý:

– Mình đánh giày cho mấy người đi làm đó anh.

Mận phì cười:

– Họ đi đến sở nhanh như bị ma đuổi. Chận họ lại xin đánh giày, họ đá cho lộn mèo.

Nó cũng cười theo lời anh. Lần đầu tiên, nó cảm thấy mình thật là gà mờ. Đi bên nó, anh Mận có vẻ là người lớn lắm dù nó biết rõ anh chỉ hơn nó có ba tuổi, nghĩa là mới mười ba thôi.

Tướng anh trông bậm trợn. Tay chân to, da ngâm đen, đầu tóc hớt rất ngắn gần như trọc.

Anh mặc áo vải xanh nhà binh, quần xà lỏn đen bạc màu. Cái thùng đựng dụng cụ đánh giày làm bằng gỗ lên nước bóng đen, nhìn thấy màu thùng là đủ nể rồi. Nó chứng minh sự thâm niên trong nghề của anh. Bọn trẻ cùng nghề thích và nể anh, kể cả những thằng lớn hơn anh vài tuổi. Tướng anh thô kệch nhưng tính lại hiền lành và hay nhường nhịn. Đi gần anh, nó cảm thấy được che chở.

Thực ra, bước ra đường, nó cảm thấy khó chịu chứ không được vui sướng như lúc còn ở nhà. Xưa kia, khi đi học, mẹ luôn mặc áo quần đẹp cho nó, chân lại được mang đôi dép da vàng. Bây giờ, trên mình nó khoác chiếc áo xanh bạc màu, rộng thùng thình của anh Mận. Đôi bàn chân trần của nó giẫm trên cát bụi của lề đường. Bọn học trò quần xanh áo trắng tinh lũ lượt đến trường. Nhìn chúng, nó thấy tủi thân.

Được một điều là trẻ con chóng quen với mọi nếp sống. Nó dần dần lấy lại được sự vui vẻ hồn nhiên. Nó theo anh trên những con đường dài hun hút, dừng chân khi anh bước vào quán nước, ngớ ngẩn đứng chờ khi anh lui cui chà bóng đôi giày của một du khách nhàn hạ trên ghế công viên. Nó thường chăm chỉ nhìn anh làm việc, đôi tay quen nghề của anh thoăn thoắt làm cho nó nể phục anh hơn. Nó cảm thấy thích thú và một nỗi ước ao bắt đầu khe khẽ len vào lòng nó.

Một hai ngày đầu, được đi và được xem anh làm việc, nó quên bẵng việc đi tìm em Tiến. Tối về mệt mỏi, đặt lưng xuống ván, nó ngủ say sưa. Một đêm, trong giấc ngủ, nó nằm mơ thấy cùng em tung tăng chạy nhảy khắp nơi. Tỉnh giấc ra, nó nghe lòng xót xa vô kể. Khuôn mặt phinh phính của em lại hiện ra rõ ràng trong đầu óc. Nó nhớ những lần cùng em chơi đùa. Nó thèm khát mãnh liệt được nắm lấy bàn tay mum múp của em, được nằm ôm em mà ngủ, được đặt bàn tay lên khối thịt thừa mềm mại trên lưng em. Nó khát khao được nhìn sâu vào đôi mắt xinh như hai hạt ngọc, được hôn vào đôi má phinh phính rồi nhìn cái miệng cười vô cùng xinh đẹp của em. Em Tiến ơi!

Tay nó chờn vờn như muốn níu em lại từ khoảng không gian sâu thẳm của đêm khuya. Không gian thì trống rỗng, nó thả rơi bàn tay xuống ngực, đè lên miếng băng tang..
*
Một ngày mới lại đến với khí trời se lạnh của buổi bình minh. Trong xóm ngoại ô nghèo nàn, những con người lam lũ lại ra đi, chui vào lòng đô thị để tìm cái sống hằng ngày.
Sáng nay, nó theo anh Mận với chủ đích hẳn hòi. Nó nhìn sâu vào những căn nhà hun hút, nó nghểnh cổ trông qua hàng rào của những biệt thự bên đường. Nó nhìn chăm vào những đứa trẻ đi học. Nó nhìn vòng quanh những gốc cây xù xì đen đủi. Càng lúc nó càng nhận ra sự khó khăn khi tìm một đứa em trong khối người đông như thác lũ, trong thành phố rộng như mặt đại dương. Tuy nhiên, nó luôn luôn xua đuổi sự chán nản và cố gắng nuôi cái hi vọng mỏng manh trong lòng. Tình thương em không lúc nào thôi đốt cháy tâm can nó. Ôi, tình huynh đệ của trẻ thơ!
Trong khi vẫn để tâm tìm kiếm, nó cũng không quên quan sát thực kỹ việc làm của anh Mận. Nó theo dõi cách mở thùng, lấy ra chiếc bàn chải, cái khăn nỉ, hộp xi–ra… Nó để ý cách nâng nhẹ nhàng bàn chân mang giày của khách đặt lên nắp thùng, cách chà sạch bụi, cách bôi xi–ra, cách đánh cho đôi giày trở nên bóng lưỡng.
Một hôm, trong buổi cơm trưa, nó buông đũa xuống, nhìn dì Tư và nói với giọng thực trịnh trọng:
– Dì Tư, con biết đánh giày như anh Mận rồi.
Dì cười, như đoán được ý nó:
– Con mới mười tuổi đánh giày sao được.
– Con đánh được mà, dì coi đây.
Nó nhảy phóc xuống ghế, moi dưới gầm đi–văng ra một chiếc giày cũ mà nó đã lén lượm trong một đống rác nào đó. Nó mở thùng anh Mận, lôi đồ nghề ra, hăng hái chà chà, chải chải, thoa thoa lia lịa. Cả nhà ngừng ăn, xem nó biểu diễn. Chiếc giày tệ quá, da nứt nẻ cả, nên nó chà một hồi, rất đúng cách mà mặt giày, đen thì có đen, nhưng vẫn xù xì như da cóc. Mồ hôi nó lấm tấm trên trán, nhìn cái công trình không thể hoàn tất như ý muốn, nó chán nản, muốn khóc.

Dì Tư rời ghế, âu yếm đến cầm tay nó, gỡ những món đồ nghề ra, dìu nó vào ghế. Nó cúi gầm mặt, đinh ninh cả nhà sẽ chế nhạo. Nhưng không, ai cũng cười vui vẻ như thường, đôi mắt em Hường vẫn long lanh nhìn nó, nửa thán phục, nửa thương yêu.

Anh Mận húp một miếng canh, co chân lên gãi sồn sột, quay sang nói với dì Tư:

– Nó đánh được đó má, tuy tay còn hơi yếu. Lại gặp chiếc giày vứt đi thì khó mà láng như giày đang mang được.

Nghe anh Mận nói, nó mừng rỡ, và cho rằng cuộc biểu diễn đã thành công. Nó ngửng mặt, quay sang dì, giọng ấp úng:

– Dì cho con đi tập đánh giày với anh Mận nghe dì.

Dì cười một cách hiền lành:

– Dì thương con còn nhỏ quá. Nhưng nếu muốn thì con cứ đi. Mận, ngày mai con sắm cho em một cái thùng như của con rồi cho nó đi theo để học việc.

Nó sung sướng vì một lần nữa, dì chấp thuận lời cầu xin của nó một cách dễ dàng. Từ hai tháng nay, dì chưa từ chối nó một điều gì cả. Nó thích dì ở điểm nầy lắm.

Sáng hôm sau, anh Mận dắt nó đi sớm đến nhà một thằng bạn đồng nghiệp xin cái thùng cũ vứt trong xó bếp. Anh xin đinh đóng thêm cho chắc rồi đi mua những dụng cụ mới toanh.

Những ngày kế tiếp, nó tập vào nghề với những ông khách ăn mặc không sang trọng mà anh Mận đoán là dễ tánh. Lần đầu, nó còn hơi luống cuống. Qua vài lần, công việc trở nên trôi chảy. Lúc đưa tay nhận món tiền đầu tiên do công sức mình làm ra, nó xúc động lắm. Nó đưa tiền cho anh Mận giữ nhưng anh lại nhét vào túi nó. Suốt ngày, nó nhẩm đi nhẩm lại số tiền kiếm được, bỗng dưng thấy mình lớn hẳn lên.

Về đến nhà, nó quăng thùng gỗ xuống chân bàn, phóng ngay vào bếp. Chẳng nói chẳng rằng, nó móc tiền nhét vội vào túi của dì Tư. Nó nhảy tưng tưng lên nhà trên, lôi con Hường ra cửa. Một lát hai đứa trở về, vừa đi vừa gặm cà rem.

Sau hai tháng tập tành với anh Mận, nó được anh cho đi riêng một mình. Dì Tư đã mua cho nó mấy cái áo ca–rô, vài cái quần cụt mới để thay đổi. Đầu nó lại thêm chiếc nón lưỡi trai, chân lẹp xẹp đôi dép Nhật. Đi lẫn vào đám học trò, trông nó không khác chi bọn chúng. Chỉ có da mặt nó sạm đen vì nắng và thay vì xách cặp, tay nó lủng lẳng chiếc thùng gỗ cũ mèm. Tóc nó hớt ngắn ngủn giống anh Mận chứ không còn chải rẽ như trước kia. Nhờ thế, gương mặt bầu bầu của nó càng hiện ra rõ rệt. Gương mặt thật đẹp và dễ thương, nhất là cặp mắt tròn và đen lay láy. Cặp mắt y như mắt của mẹ mà ngày xưa nó thường chiêm ngưỡng một cách thích thú khi tưởng tượng đôi mắt của mẹ giống như của những bà tiên trong các chuyện hoang đường.

Bây giờ mẹ đã thành tiên thực rồi. Bà “tiên mẹ” không đến với nó trong khoảng ban ngày có nhiều bụi bặm, mà thỉnh thoảng về với nó trong canh khuya vắng vẻ.

Nó cũng hình dung chị Lan là cô “tiên chị” với mái tóc đen huyền y như của chị Lan lúc còn sống. Có điều khác là hai bên hông cô “tiên chị” mọc ra hai cái cánh với những chiếc lông dài trắng phau, màu trắng của loài thiên nga cao cổ.

Còn ba thì sao? Nhất định ba phải trờ thành ông “tiên ba”. Nhưng hình dáng ông “tiên ba” thế nào, nó cố gắng nhưng không vẻ ra được một cách ổn thỏa trong trí tưởng tượng thơ ngây của nó. Ba không thể giống được mấy ông tiên trong các truyện cổ tích. Mấy ông nầy luôn luôn có râu dài bạc phơ, còn cằm ba thì bao giờ cũng cạo sạch bóng nhẵn nhụi. Cũng không có ông tiên nào ngậm ống vố. Mà nếu không có ống vố phì phèo thuốc là nơi miệng thì không làm sao là ba được.

Thế thì ba chẳng thành tiên hay sao? Không thể được. Trong cõi cao sang kia, quê hương mới của chị Lan và mẹ, ắt phải có ba trong đó. Như thế thì ba có thể là anh chàng đánh xe chở bà tiên đi dạo. Anh chàng nầy không cần thiết phải có râu dài. Ồ không được, vì nếu đúng vậy thì tội nghiệp cho ba lắm. Ba phải là ông “tiên ba” ngồi kế bên bà “tiên mẹ” chứ.

Nó chậc lưỡi hai cái liền. Phải chi trước đây, ba có râu dài và đừng ngậm ống vố thì dễ sắp đặt biết bao.

Đầu óc nó thường loay hoay tổ chức thế giới thần tiên cho những người thân yêu của nó. Và đó là những giờ phút mà nó cảm thấy hạnh phúc nhất trong ngày.

Càng ngày, nó càng thấy vui vẻ hơn trong công việc. Tuy nhỏ mà nó kiếm tiền khá hơn nhiều đứa. Ít có người nào nỡ chối từ khi chạm phải cái nhìn thơ ngây và lời mời lễ phép của nó. Số tiền mà mỗi người khách cho nó cũng thường nhiều hơn những đứa khác.

Có một điều lạ là nếu ai theo dõi, ắt sẽ thấy không bao giờ nó trở lại cái xóm nghèo nàn để thăm lại cái thiên đường xưa kia của nó, mặc dầu bây giờ đường đi nước bước trong thành phố nó rành như nắm trong bàn tay. Nhiều khi nó cũng bị thúc đẩy trở lại thăm. Sự thúc đẩy mãnh liệt ghê gớm như một ma lực, nhưng hình ảnh đống gạch ngói vụn đen thui làm nó sợ hãi. Trong các chuyện cổ tích, không có gì kinh khiếp như đống gạch ngói nầy, kể cả những sản phẩm ghê gớm nhất của các bà phù thủy gian ác.

Thực ra bây giờ, cái đống đen thui đó không còn nữa. Nguyên cả cái thiên đường xưa kia của gia đình nó cũng không còn vết tích. Khu đất hoang tàn được ủi đi bằng phẳng. Máy móc, công nhân rộn rịp trên đó từ sáng đến chiều. Người ta đang xây cất một chúng cư.

Nó chưa biết được sự biến đổi đó, cho nên ý muốn được trở về thăm chốn cũ luôn luôn vật lộn với nỗi sợ hãi lạ lùng trong lòng nó. Một lần, không hiểu vì vô tình hay vì bị thúc đẩy do sự ham muốn nằm trong tiềm thức, chân nó lần bước trên con đường dẫn về xóm cũ. Chợt nhìn thấy xa xa vọng gác cao lêu nghêu của đồn lính, nó vội dừng chân lại, nước mắt tuôn ra không làm sao ngăn lại được. Nó vội quay lui, đi nhanh như chạy trốn. Do đó, không bao giờ nó nhìn thấy cái chúng cư vĩ đại nhưng thô kệch ngự trị trên thiên đường nhỏ bé của một thời xa xăm.

Nó lẫn vào đám đông trở lại trung tâm thành phố. Nó làm việc siêng năng, chăm chỉ, kiếm từng đồng tiền mang về giao trọn cho dì Tư. Dạo nầy dì buôn bán có lời khá, hai bữa ăn hằng ngày luôn có thịt cá tươi.

Tiền của nó đưa về, dì bảo dì bỏ ống dành làm vốn cho nó sau nầy. Nó không hiểu làm vốn thì có lợi gì, nhưng hễ hôm nào làm được nhiều tiền, về nhà bụm trong hai bàn tay nhỏ bé, đưa cả cho dì là nó thấy vui trong bụng.

Dì thường ước mơ để dành cho đủ số tiền, sang một sạp vải ngoài chợ để cho ba đứa được đi học. Anh Mận sẽ đi học nghề còn nó và em Hường sẽ đi học chữ. Nghe dì nói thế, mỗi đêm khi chui vào mùng, nó lâm khâm khấn nguyện cha mẹ, chị Lan phò hộ cho dì. Xong, nó kéo miếng vải tang lên hôn rồi ngủ đến sáng.

Càng được hạnh phúc, nó càng nhớ đến em Tiến nhiều hơn. Mười mấy tháng rồi, nhiều đôi dép dưới chân nó đã mòn vì lê trên đường phố. Nó đã nhìn vào hàng nghìn căn nhà, đã quan sát mặt mũi những đứa bé đến hàng vạn lần. Thế mà em nó vẫn biền biệt nơi nào. Nó cũng mô tả hình dạng em nó để nhờ mấy thằng bạn cùng nghề tìm giùm.

Một hôm thằng Ký Sún nói với nó:

– Bữa hổm, về thăm bà con, tao có gặp một thằng nhỏ giống em mày ở Mỹ tho.

Giật nẩy mình, nó nắm lấy tay thằng Ký:

– Mày gặp em tao hồi nào, ở đâu?

– Không biết có phải chắc là em mày không, nhưng tao thấy rất giống cái đứa mà mày thường nói với tao. Tao gặp nó ở quán Thanh Thủy, trên bờ sông.

– Nó làm gì trong quán đó?

– Móc túi, bị bắt!

Nghe nói, máu nó dồn lên đầu làm cho mặt nó nóng bừng. Nó trừng mắt nhìn thằng bạn, tay nắm lại, định đấm vào mặt cái thằng đáng ghét. Nhưng rồi nó nhịn được, bản tính nó trước kia đã hiền lành, ngày nay còn hiền lành hơn nữa.

Tuy nhịn nhưng nó không thể tha thứ thằng khỉ nhỏ nầy được. Nó dám nói em Tiến móc túi thì nó quả là thằng mất dạy. Nó còn nhớ kỹ thầy cô nó, ba mẹ nó bảo rằng ăn cắp là một tội ghê gớm. Phạm tội đó thì không phải chỉ bị đánh đòn thôi đâu mà bị bắt trói lại, cho vào nhà giam tối om và ăn cơm với muối cục. Kẻ cắp là những đứa hết sức đốn mạt và đáng bị trừng trị như vậy.

Thế mà thằng Ký dám nói em nó ăn cắp. Bây giờ nó mới nhận ra tướng thằng đó trông thực là đểu cáng. Mặt thì loắt choắt, tay chân ốm tong như cây sậy; cái miệng, mỗi khi cười thì trình bày cho mọi người thấy hai cái lợi mất gần hết răng.

Thế mà không hiểu tại sao trước đây nó lại thích chơi với cái thằng sún răng đó. Bây giờ nó ghét cay, ghét đắng; thương sao được cái thằng bảo em nó móc túi bị bắt bỏ tù.

Từ đó nó không dám nhờ ai khác tìm giùm em. Nó làm công việc đó âm thầm, đơn độc với lòng kiên nhẫn vô biên. Nó thường thích la cà ở các trường tiểu học lúc sắp vào học và giờ tan trường. Trong bộ quần xanh áo trắng, nhiều đứa nom xa giống em nó. Có đứa có dáng đi sau lưng giống y thằng Tiến. Đến khi chạy đến nhìn mặt thì nó thất vọng ê chề.

Một hôm, đang lom khom đánh bóng đôi giày cho khách trong một tiệm “cắc chú” ở góc đường, nó nhác thấy một đứa đi te te về hướng bờ sông, tim nó bỗng đập rộn rã. Thằng bé không khác em nó chút nào, tuy có lớn hơn em nó đôi chút. Lớn hơn là phải vì đã trải qua mười mấy tháng rồi mà. Nó muốn chạy theo thằng bé nhưng khổ nỗi, đôi giày của khách mới đánh xong có một chiếc. Nó cầm miếng nỉ chà vội vàng chiếc còn lại, rồi giật cái thùng pha chạy ra cửa, không kịp lấy tiền của khách.

Thằng bé không thấy đâu nữa, chắc chưa đi xa. Nó rướn mình tới, phóng qua đường. Bỗng nó nghe tiếng hét hốt hoảng của ai đó. Lập tức nó bị tông té nhào. Một chiếc xe đạp cũng ngã xuống cạnh nó. Gã đàn ông lái xe chuồi xuống mặt đường nhưng đứng dậy được ngay. Nó cũng gượng dậy nghe đau buốt ở chân. Gã đàn ông dìu nó vào vệ đường. Người ta bu lại mỗi lúc một đông. Nó nắn nhẹ đầu gối bị đau, nhìn kỹ thấy chỉ xây xát nhẹ mà thôi. Nó biết vết thương chẳng hề gì.

Nó nghe người ta bàn tán, phê bình ỏm tỏi:

– Tại thằng nhỏ qua đường ẩu, không chịu nhìn trước nhìn sau.

– Nhưng xe thằng chả thắng không ăn mới gây tai nạn.

– Kêu lính lại làm ăng-kết rôi bắt bồi thường.

– Phải, trước hết bắt chả đem thằng nhỏ đi nhà thương rọi kiếng, chả phải chịu chi phí.

Nó đứng dậy, chẳng cần bồi thường, cũng chẳng cần phân xử phải quấy. Nó cần đi liền, chạy về hướng bờ sông. Thằng bé giống em nó vừa đi về phía đó, chắc chưa xa lắm đâu.

Nó bước tới, chân còn khá đau nhưng đi được. Đám đông rẽ ra. Nhiều người nói to vào tai nó, bảo ngồi yên để chờ xe chở đi nhà thương. Nói vậy nhưng không ai đưa tay ra cản. Nó qua đường trong khi đám đông dần dần giải tán.

Gã đàn ông dựng xe dậy, dắt xe đuổi theo. Đến bên nó, gã nói:

– Em có đau không, tôi chở em đi nhà thương nghe?

Nó quay lại lắc đầu:

– Không sao, con đi được, đầu gối chỉ trầy sơ thôi, không hề gì.

Gã tiếp tục năn nỉ:

– Tôi chở đi khám, tôi chịu tiền hết, em khỏi lo.

Nó lại lắc đầu, miệng cười thật tươi:

– Con hết đau rồi, ông về nhà đi.

Nói xong nó quày quả bước nhanh. Gã đàn ông dừng lại, ngẩn ngơ nhìn nó bước xa dần trong dáng đi cà nhắc.

Đường phố về chiều, xe cộ người đi nhộn nhịp. Nó đã ra đến bờ sông, ngơ ngác nhìn quanh nhìn quất. Mặt sông lấp lánh dưới ánh nắng nghiêng nghiêng. Vài chiếc xuồng đuôi tôm xình xịch chạy, rẽ mặt nước thành hình chữ V mỗi lúc một lan rộng ra. Nó nhìn quanh một lần nữa, cảm thấy thất vọng nên lững thững xách thùng về nhà sớm hơn mọi bữa.



*


Mới đó mà gần tròn hai năm rồi kể từ khi nó mất gia đình. Năm sắp hết, Tết sắp đến, thiên hạ bắt đều đi mua sắm tưng bừng. Dạo nầy các bà, các ông, các thầy, các cô đi chơi đông nên nó làm được nhiều tiền. Đêm nào nó cũng về nhà thực khuya. Buổi chiều phải ăn một dĩa cơm tấm hay một khúc bánh mì thịt nguội để tiếp tục làm đêm.

Về khuya đã có gió lành lạnh thổi lồng vào cổ áo. Qua các con đường tối tăm, nó thường ngước nhìn những vì sao trên trời để tưởng tượng cảnh thần tiên trên đó. Ba mẹ đã ở trong thế giới cao sang đó gần hai năm rồi. Hằng đêm chắc ba mẹ đều nhìn xuống thấy nó lủi thủi đi về qua những ngõ vắng.

Còn chị Lan nữa. Vì sao sáng nhất trước mặt chắc là mắt của chị Lan. Chị cũng đang nhìn nó đăm đăm. Nó bước tới thì mắt chị cũng di chuyển theo. Đôi lúc, mắt chị khuất trên vòm lá me um tùm rồi lại hiện ra nhìn nó, nhấp nháy, trong sáng và hiền lành.

Vài hôm nữa, đúng cái ngày mà hai năm trước ba mẹ và chị từ biệt nó để lên Thiên đường, nó sẽ mua đồ về làm đám giỗ cho thực to. Năm ngoái dì Tư lo chuyện đó. Năm nay, nó muốn chính tay nó làm. Hôm qua, dì Tư bảo nó nên mãn tang đi. Dì nói:

– Con để tang hai năm thì đủ báo hiếu rồi. Hôm nào đám giỗ xong, con gỡ vải tang ra đốt bỏ.

– Không, con không đốt, con để tang hoài tới lớn, tới khi con chết mới thôi.

Lần đầu tiên nó cãi lại lời dì nhưng trong giọng nói ngây thơ đó không có chút gì bướng bỉnh. Dì cười một cách dễ dãi như tính tình mộc mạc của dì.

Hôm nay là hai mươi tám Tết, nhưng ngày mai là ngày cuối cùng của năm cũ nên nó sẽ nghỉ việc; dì Tư, anh Mận cũng ở nhà. Năm nay nhà dì Tư không còn quá túng thiếu như những năm trước nữa nên sắm Tết ra vẻ lắm.

Suốt ngày nay, ngày cuối cùng làm việc của năm Canh Tuất, nó kiếm được gần bảy trăm đồng. Hôm qua được năm trăm rưỡi nó giữ cả, không đưa cho dì Tư mà dự định sắm sửa làm đám giỗ. Nó rất nôn nao nên mới hơn tám giớ tối, nó quyết định ngưng công việc để đi mua hàng.

Nó mua ngay một gói mứt, một gói quả hồng khô, một gói thuốc hút hiệu “bảy mươi chín” để nhồi vào ống vố. Nó còn nhớ rõ chị Lan thích ăn hồng khô, còn gói thuốc, dĩ nhiên để ba phì phèo. Mẹ thì không biết thích ăn cái gì. Lúc mẹ còn sống, nó không bao giờ nghe mẹ nói thích món ăn nào đó. Mấy món thực ngon miệng mà nó tưởng ai cũng thích thì mẹ đem chia cả cho nó và em Tiến, đôi khi cả chị Lan nữa.

Suy nghĩ hồi lâu, nó quyết định mua cho mẹ một ký táo Tàu loại thượng hạng. Họ nói thứ nầy là của Trung hoa lục địa sản xuất, đem qua đây theo ngả Hồng kông nên rất quý và mắc tiền. Nó nhìn số tiền niêm yết, nhẩm tính một ký đáng giá hơn tiền đánh bóng ba chục đôi giày. Người bán hàng thấy nó là thằng bé đánh giày nên nói rằng thứ nầy chỉ dành riêng cho nhà giàu ăn mà thôi. Nó bảo cân rồi móc tiền ra trả ngay vì nghĩ thầm: “Mẹ là tiên, mẹ sang trọng gấp trăm lần nhà giàu.”

Một tay xách thùng, một tay ôm gói quà, nó sung sướng về nhà.

Đường phố có đèn đường sáng trưng còn trong ngõ hẻm dẫn về nhà thì không có đèn đường, nhà nhà lại có thói quen đóng cửa sớm nên cả năm, vào đêm không trăng, đường tối om, phải mò mẫm mà đi. Đêm nay thì có khác. Vì bước vào những ngày tết Nguyên đán, hầu hết mọi nhà bắt chước nhau treo một ngọn đèn dầu gọi là “đèn bão” trước cửa nên con đường hẻm sáng lờ mờ.

Vào con hẻm được một quãng khá dài, nó biết đã gần đến nhà. Nó dừng lại nghỉ một chút, đổi gói quà qua tay kia cho đỡ mỏi. Nó nhớ lại cách đây hai năm, lần đầu tiên nó đi trên con đường nầy rồi té xỉu vào nhà dì Tư để được sống êm ấm với dì, anh Mận và em Hường. Có lẽ ba mẹ và chị Lan đã xui khiến nó đến đây và gởi cho dì Tư nuôi nó. Nhưng sao ba mẹ và chị Lan không dẫn em Tiến đến nhà dì luôn, nó biết dì sẵn lòng nhận lãnh dù dì rất nghèo. Nếu có em Tiến sống chung thì vui lắm. Chắc chắn em cũng thương em Hường như nó vậy. Hai đứa có lẽ rất hợp tính nhau. Em Hường không thích bắn bi nhưng ưa đá dế. Nhất là nhảy dây và chơi cò cò thì em Hường hay tuyệt.

Nó hơi hối hận quên mua quà Tết cho em Hường. Nhưng nó tự an ủi ngay:

– Bữa nào mồng một Tết, mình xin tiền dì, nói anh Mận dẫn hai đứa đi xem xi–nê.

Nó sẽ ngồi gần em Hường để giải thích cho em nghe như ngày xưa ba nó đã giải thích cho nó vậy. Nó hít mạnh khí lạnh về đêm, lòng vui rộn rã, miệng cười một mình trong đêm vắng. Nó sắp về đến nhà rồi.

Thình lình nó giật mình vì tiếng la chói lói từ phía đường lớn có nhiều phố xá:

– Bớ làng xóm, thắng ăn cắp, bắt nó, bớ làng xóm.

Tiếp theo là tiếng huyên náo nổi lên. Thắng dừng lại quay lui nhìn. Cái ngõ hẹp vắng teo. Xa xa, nó thấy bóng lờ mờ của một thằng bé cắm đầu chạy về phía nó. Đúng là thằng ăn cắp rồi. Có lẽ bị đuổi nên nó chạy từ ngoài đường lớn vào đây để thoát thân. Sau lưng nó không thấy ai đuổi theo. Có lẽ nó đã quăng vật ăn cắp trở lại rồi.

Mặc kệ, quân nầy phải bắt giao cho cảnh sát mới được. Nó thấy trong lòng bùng lên ngọn lửa “nghĩa hiệp cứu đời”. Tội ăn cắp là một tội lớn. Phải ở tù, ăn cơm với muối cục. Ngày xưa thầy cô và ba mẹ đã dạy như thế. Gần đây, dì Tư cũng nói như thế khi kể chuyện người ta bắt được thằng móc túi ngoài chợ. Dì đã nhấn mạnh rằng ăn cắp là quân làm hại, người lương thiện ai cũng có bổn phận trừ khử bằng cách bắt giao cho cảnh sát. Dì bảo cái người tóm được thằng móc túi hôm đó là người “nghĩa hiệp cứu đời”.

Thắng núp vội vào một hiên nhà, đặt nhẹ gói quà xuống đất, lom khom xách thùng gỗ, sẵn sàng chờ đợi. Thằng ăn cắp chạy đến vừa tầm. Thắng quăng thùng đánh giày vào chân, thằng bé vấp phải té nhủi xuống đường.

Thắng phóng ra, nhào lên mình thằng bé. Thằng nầy lật ngửa ra, hai tay bấu vào mặt nó. Nó cỡi lên bụng, giằng hai tay thằng bé xuống đất. Trong phút chốc, mặt hai đứa sát nhau.

Thình lình, mặt đất như sụp xuống, bầu trời quay cuồng. Nó trợn mắt hả miệng nhìn sững mặt thằng bé. Thằng nầy giựt tay ra được, bấu vào mặt nó, đẩy mạnh nó ra để thoát. Nó không tránh vì không thấy đau đớn gì cả. Nó giang hai tay ôm xóc thằng bé đậy, thọc nhanh bàn tay vào lưng áo hắn. Tay nó chạm phải khối thịt mềm mềm nhô lên rõ rệt trên da lưng láng mướt mồ hôi.

Nó thét lên:

– Trời ơi, em tôi!

Nó dùng hết sức xốc thằng bé lên vai, phóng nhạy như điên. Chiếc thùng gỗ nằm chổng gọng trên đường; gói quà bao giấy nhựt trình nằm lờ mờ trong bóng tối hàng hiên.

Thằng bé búng hai chân lia lịa như người đang tập bơi, hai tay chụp vào lưng nó xé toang vạt áo sau lưng. Hai tay nó như hai gọng kềm siết chặt, chân thoăn thoắt chạy về nhà.

Trong con hẻm, có vài nhà mở hé cửa, có người nhìn theo một cách ngạc nhiên. Nó sợ có người nhảy ra cản lại. Nhưng không sao, nó đã đến nhà. May quá, cửa nhà khép hờ. Nó tông cho cánh cửa mở rộng ra, nhảy vào nhà, vật thắng bé lên đi–văng. Thằng bé biết không còn kháng cự được nữa nên buông tay, mắt nhắm nghiền, một dòng máu đỏ ri rỉ chảy ra ướt trán. Nó quỳ xuống ôm em, gào thét trong tiếng khóc:

– Em Tiến, em Tiến, anh của em đây nè.

Thằng bé mở mắt ra nhìn ngơ ngác, không thấy bóng ông cảnh sát nên yên tâm. Nó giương mắt nhìn thằng Thắng rồi chống tay ngồi dậy, nói nho nhỏ:

– Nhà nào đây? Anh Thắng hả? Anh Thắng chết rồi mà.

– Không, anh Thắng của em đây, em Tiến.

Nó ôm đầu thằng bé vào ngực, dúi mũi vào tóc em. Thằng bé giang hai tay ôm chặt lấy nó. Nó thấy đầu em nó rung rung. Nó biết em nó đang khóc nức nở.

Dì Tư trong buồng hấp tấp chạy ra:

– Gì đó bây, cái gì đó bây?

Dì đứng khựng lại há hốc nhìn hai đứa rẻ ôm nhau. Miệng dì từ từ méo xệch lại. Dì gỡ tay thằng Tiến ra, nhìn vào mặt nó, mếu máo:

– Thằng Tiến đây hả con? Trời đất quỷ thần ơi, con kiếm ở đâu ra vậy nè?

Dì nói tiếp, không đợi ai trả lời:

– Ba má con sống khôn thác thiêng dẫn em nó về đây rồi nè. Trời đất quỷ thần ơi, sao máu me không vậy nè?

Dì chạy vội xuống bếp lấy khăn ướt lau mặt, lau trán cho em. Mặt thằng Tiến đã sạch sẽ, nét thông minh hiện lên nơi đôi mắt đang ngạc nhiên nhìn quanh nhà, rồi nhìn dì đang lục tìm món gì đó trên kệ, nhìn em Hường đang đứng xớ rớ ở cửa buồng.

Khi nhìn đến anh, đôi mắt nó mất vẻ ngạc nhiên mà chớp lia lịa, miệng hơi nhếch, không biết là sắp khóc hay cười. Nó hỏi nho nhỏ:

– Ba mẹ, chị Lan đâu anh?

– Chết từ bữa đó rồi em.

Thằng Tiến vụt khóc òa. Nó lại ôm em vào lòng khóc theo. Tay nó xoa nhẹ vào lưng em và dừng lại trên khối thịt thừa, khối thịt mềm mềm thân yêu mà nó đã nhớ nhung hằng giờ, hằng phút tự bao nhiêu năm tháng rồi.

Dì Tư ngồi vào đi-văng, nâng đầu em nó dậy để xức thuốc vào vết thương trên trán. Nó nhìn chăm chăm vào mắt em rồi hỏi:

– Hai năm nay em ở đâu?

Thằng bé vụt ngồi thẳng dậy, mắt láo liêng sợ hãi. Nó cầm tay em, giọng nói dịu dàng:

– Đừng sợ, nhà mình đây mà. Không ai vô đây được đâu. Sao em đi ăn cắp vậy?

– Chú Ba Thú biểu em.

– Chú Ba Thú nào?

– Chú Ba Thú ở đằng kia kìa.

Nó đưa tay ra chỉ. Nhưng nhìn thấy tấm vách ván trước mặt, nó bỏ tay xuống. Dì Tư nhìn nó, nhỏ nhẹ:

– Hồi xóm bị cháy, con đi đâu?

Mắt nó đột nhiên có vẻ xa xôi:

– Con té xuống, con bỏ chạy.

– Con chạy đi ngả nào?

– Con chạy vô nhà họ. Họ đập lủng vách, con chạy theo họ.

– Rồi con chạy đi đâu nữa.

Nó ngập ngừng, cố moi lại ký ức một cách khó nhọc:

– Con chạy theo họ. Tới sáng, con nằm ngủ trước nhà họ.

Thằng Thắng sốt ruột hỏi xen vào:

– Rồi em có trở về nhà không?

– Lính đông lắm, em sợ không dám về. Họ bắn nhau, súng nổ dữ quá, em sợ em chạy.

– Em chạy đi đâu? Ai cho em ăn?

– Thím Sáu.

– Thím Sáu nào?

Nó lại ngập ngừng không giải thích được. Dì Tư lại lên tiếng:

– Thím Sáu có quen con không?

– Bây giờ quen, hồi đó không quen. Thím dẫn con về nhà rồi đem đi Mỹ tho. Con đòi về ba mẹ, thím nói vài hôm nữa cho về. Con tính trốn đi, thím trói con lại. Thím cho con ăn kẹo rồi biểu con đi móc túi người ta đem tiền về cho thím.

Thằng Thắng rướn người lên:

– Làm sao em biết móc túi?

– Thím Sáu chỉ cách, biểu em móc thử túi của hai người lớn trong nhà mấy lần rồi cho em đi.

– Em đi một mình hay đi với ai?

– Đi một mình.

– Thì em cứ đi nhưng đừng móc túi người ta.

Tiến lắc đầu:

– Thím không cho ăn cơm mà còn đánh bằng roi mây nữa. Bữa nào được nhiều tiền, thím cho ăn bánh, cà rem đủ thứ. Bữa nào không có, thím bắt ăn cơm với muối.

Dì Tư tỏ vẻ chú ý nhiều hơn:

– Có khi nào con bị bắt không?

Nó cúi đầu, nói nho nhỏ với vẻ sợ sệt:

– Dạ có bị bắt ở quán Thanh Thủy.

Thắng giật mình hỏi dồn:

– Quán Thanh thủy ở bờ sông hả.

Thằng Tiến gật đầu. Anh nó hỏi tiếp:

– Rồi làm sao được thả ra?

– Cái ông nhà giàu, thắt cà-vạt bảnh lắm xin cho em ra. Ổng là bạn của thím Sáu. Em được ở nhà chừng một tháng rồi thím đưa em lên đây ở với chú Ba Thú.

– Chú cũng biểu em đi móc túi?

– Dạ, chú cũng chỉ em cách ăn cắp đồ nữa. Có mấy đứa nữa cũng ở chung nhà với em.

Cả nhà đang theo dõi câu chuyện thì anh Mận đi làm về, bước vào nhà. Dì Tư chỉ đứa bé, nói đó là em Tiến, anh sửng sốt để rơi thùng gỗ đánh cộp xuống đất. Anh chạy đến cầm tay em mà nước mắt chảy quanh tròng. Thắng ngạc nhiên vì lần đầu tiên nó thấy anh khóc.

Dì Tư đốt thêm một ngọn đèn nữa rồi dọn cơm ra. Ba anh em xúm lại ăn ngon lành.

Giữa bữa cơm, Thắng bỗng buông đũa đứng dậy nói to:

– Thôi chết rồi, cái gói và thùng đánh giày.

Dì ngạc nhiên:

– Cái gói gì, ở đâu?

– Gặp em Tiến, con vác nó về, bỏ quên gói mứt và trái cây con mua về làm đám giỗ ba má và chị Lan.

Nó dợm chạy ra cửa thì dì níu lại:

– Thôi khuya rồi con. Biết còn ngoài đó không. Dì có mua đủ rồi. Để dì đi lấy con xem.

– Còn thùng đánh giày nữa. Mất rồi ra Tết lấy gì mà đi đánh.

Dì bỗng quay lại nhìn nó cười to:

– Thằng Tiến về chộn rộn làm tao quên, bây giờ mới nhớ.

Dì xua tay, miệng vẫn cười:

– Bỏ đi con, bỏ thùng đánh giày đi con.

Dì quay lại anh Mận và em Tiến, giọng trịnh trọng:

– Mấy đứa bây nghe đây nè. Hồi chiều tao thương lượng, sang xong cái sạp vải rồi. Ra Tết tụi bây đi học hết nghe không? Bốn đứa đi học hết.

Câu nói chấm dứt trong tiếng cười sung sướng của dì. Dì bỗng quay lại nắm tay Thắng. Giọng dì trở nên xúc động:

– Anh Mận nói mỗi đêm nghe con khấn vái ba má cho dì sang được sạp vải. Bây giờ ba má con cho rồi đó. Dì dồn cả tiền mồ hôi nước mắt của con vô đó luôn. Năm mới ráng học nghe con.

Tự nhiên Thắng gục đầu vào vai dì khóc thút thít. Nó bỗng nghĩ đến mẹ và phảng phất nghe mùi thơm kỳ diệu đã gây cho nó bao nhiêu là nhung nhớ tự hai năm dài đằng đẵng vừa qua.



*


Ban ngày, anh Mận học nghề ở tiệm sửa xe gắn máy Hiếu Thành, ban đêm anh đi học ở trường Bách khoa. Ba đứa kia đều vào trường tiểu học cộng đồng, cách nhà non một cây số. Dì Tư đến kể lể sự tình với ông hiệu trưởng. Ông bằng lòng cho vào học ngang giữa niên khóa. Hàng xóm bảo phải tốn tiền mới xin vào được. Nhưng, chẳng những không tốn một đồng nào mà còn được ông hiệu trưởng cho hai mươi cuốn tập mới toanh.

Em Hường, em Tiến được vào lớp một, nó lớp bốn. Lớp bốn là lớp nhì trước đây vài năm. Nó học buổi sáng, hai đứa nhỏ học buổi chiều. Đêm, dưới ánh đèn dấu hỏa, ba đứa châu đầu học ê a.

Thắng học với cô giáo. Cô trắng, đẹp và mảnh khảnh, hơi giống mẹ nó. Một hai tháng đầu, nó học kém, cô thường săn sóc và khuyến khích nó. Cô tỏ ra thương nó lắm, có lẽ vì ông hiệu trưởng đã kể sơ qua chuyện bất hạnh của nó cho cô nghe. Tháng sau cùng, nó học giỏi, nhảy lên đứng hạng sáu trong lớp nên được cô khen hoài.

Cuối năm, nó được lãnh phần thưởng đặc biệt với mười cuốn tập, một hộp viết chì màu và mười thước vải. Ngày phát thưởng có dì Tư đi dự. Lúc đưa tay nhận cái gói màu xanh từ tay ông hiệu trưởng, nó nhìn xuống hàng ghế phụ huynh thấy mắt dì rưng rưng.

Xong lễ, dì đến gặp cô, ngập ngừng hồi lâu mới nói được tiếng cám ơn. Khi chào về, dì mời cô khi nào rảnh ghé chơi. Cô mỉm cười gật đầu, nụ cười cô thực đẹp.

Nó không dè cô đến ngay vào sáng hôm sau. Dì đi bán chưa về. Anh Mận còn học nghề ngoài tiệm. Hai em dắt nhau đi chơi. Chỉ mình nó ở nhà tiếp cô.

Cô ngồi vào chiếc bàn vừa để học vừa để ăn cơm của nhà nó. Thấy nó đứng xớ rớ, cô bảo nó ngồi trước mặt cô.

Cô nhìn quanh căn nhà nghèo nàn rồi dịu dàng bảo:

– Thầy hiệu trưởng có kể cho cô nghe chuyện nhà của em. Cô muốn em kể cho cô nghe rõ hơn.

Thấy nó đỏ mặt lúng túng, cô khẽ chồm tới trước cầm tay nó, giọng ngọt ngào:

– Em kể đi, nhớ đâu nói đó. Chỗ nào kể không rõ thì cô hỏi lại.

– Dạ, hồi đó, em ở với ba má, chị Lan và em Tiến…

Nó không ngờ, sau câu mở đầu, nó kể một hơi xuôi rót, không sót một đoạn nào. Cô ngồi chăm chỉ nghe, lúc thì gục gặc đầu, lúc thì cảm động, nước mắt lưng tròng.

Khi nó dứt lời, cô nhìn nó, giọng bùi ngùi:

– Tội nghiệp em.

Mắt cô bỗng sáng lên:

– Cô viết chuyện của em in sách thiếu nhi nhé. Em bằng lòng không?

Nó ngạc nhiên và thực bối rối trước đề nghị lạ lùng của cô. Cô nhắc lại một cách sốt sắng:

– Em bằng lòng nghe?

– Nhưng viết chuyện của em, tụi bạn biết chúng nó cười chết,

– Sao lại cười. Chúng nó biết rõ thì sẽ thương em chứ. Hơn nữa, cô muốn nhấn mạnh tình người đáng quý trong câu chuyện của em. Điều đó sẽ có tác dụng giáo dục rất tốt đối với thiếu nhi. Bằng lòng em nhé.

Nó ngượng nghịu gật đầu. Cô cười thực tươi, vẻ mặt rất hài lòng. Nó ngập ngừng hỏi cô:

– Mà cô đặt tên là chuyện gì hả cô?

– Em muốn đặt tên gì?

Mắt nó bỗng mơ màng. Nó nghĩ đến em Tiến, đến nỗi đau khổ nhớ nhung trong suốt hai năm xa cách. Nó muốn mọi người nhìn thấy gương mặt dễ thương của đứa em mà nó vừa tìm lại được. Nó mỉm cười nói với cô:
– Đặt tên “em tôi” được không cô?
– Hay lắm, “em tôi”.
Trông mặt nó sung sướng, cô cảm động suýt khóc. Cô đứng dậy, dịu dàng cầm tay nó, giọng vui vẻ:
– Chiều nay cô đi nhà thờ và sẽ dành nguyên một buổi để cầu nguyện cho em. Em muốn cô cầu nguyện cho em điều gì nào?
Nó cúi đầu nhìn tà áo dài trắng của cô, nói nho nhỏ:
– Cô cầu nguyện cho em ở hoài với dì Tư.
Cô gật đầu, hôn vào trán nó bước ra cửa. Một ngọn gió thổi thốc vào làm tà áo trắng của cô tung bay phất phới; nó nhìn và nghĩ đến đôi cánh của thiên thần.

Trần Thị Thu
Truyện in tháng 4 năm 1975 nhưng không kịp phát hành.
Tủ sách thiếu nhi Nến Hồng,
(Của một nhóm giáo chức nhà văn miền Nam)